Phần 1| Phần 2 | Vietnam - The untold story | Đầu trang
Lời ngỏ: Cuối năm 2001 người xem TV các chương trình “Suicide Missions” (History Channel), “Navy SEALs: Untold stories” (TLC - The Learning Channel) sẽ thấy một nhân vật Việt Nam tên Kiệt được nhắc đến trong những chuyến công tác chưa bao giờ được kể lại. Nhân vật này là ai? Tình tiết trong các phim tài liệu đó có chính xác không? Mời đọc giả đi ngược thời gian....
![]()
Cách đây
gần 30 năm về trước, vào mùa hè năm 72 được biệt danh là “Mùa Hè Đỏ
Lửa”. Cộng sản Bắc Việt (CSBV) mở cuộc tấn công xâm lăng miền Nam
Việt Nam ở ba mặt trận: Quảng Trị, Cao Nguyên, An Lộc. 30 ngàn quân
CSBV trang bị vũ khí tận răng, tràn qua vùng phi quân sự (DMZ) ở vĩ
tuyến 17, vượt tràn qua sông Bến Hải. Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa
(VNCH) và đồng minh ở trong thế giằng co với kẻ địch….
Trong một chuyến thám thính thâu lượm tin tức, chiếc máy bay EB-66
của không lực Hoa Kỳ bất thình lình bị hỏa tiễn SAM bắn hạ. Vừa kịp
tung ra khỏi máy bay, Trung Tá Iceal “Gene” Hambleton kinh hãi chứng
kiến cảnh chiếc máy bay bùng nổ làm thiệt mạng 5 người còn lại trong
phi hành đoàn. Chiếc dù từ từ lượn xuống, dù bị mây mù che phủ không
thấy đất, Trung Tá Hambleton biết chắc là 30 ngàn địch quân đang chờ
mình dưới đất. Thế là guồng máy quân sự của đồng minh bắt đầu một
cuộc “tìm kiếm và giải cứu” (search and rescue) đắt giá và tổn hại
nhất trong cuộc chiến. Hai chiếc trực thăng Bộ Binh vừa nhào đến địa
điểm giải cứu liền bị bắn hạ. Phi hành đoàn 4 người của chiếc
Blueghost 39 thiệt mạng tại chỗ. Chiếc trực thăng thứ nhì ráng “lết”
đến một địa điểm an toàn và phi hành đoàn được một chiếc trực thăng
khác đến giải cứu.
Màn đêm buông xuống, Trung Tá Hambleton trơ trọi một mình dưới đất
trong sự che chở của rừng rậm, bủa vây tứ bề bởi một lực lượng địch
quân lớn nhất trong cuộc chiến VN. Hôm đó là ngày Phục Sinh, chủ
nhật 2 tháng 4, 1972. Không quân Hoa Kỳ (HK) biết vị trí của Trung
Tá Hambleton nhưng không tài nào với tới nổi ông ta vì địch quân bủa
vây dầy đặc. Tối đó họ chỉ có thể thả mìn xung quanh ông ta để ngăn
cản địch quân tới gần. Sáng hôm sau, chiếc trực thăng “Jolly Green
65″ bay tới gần vị trí của Trung Tá Hambleton thì lập tức bị “dàn
chào” bởi một trận mưa đạn tàn khốc. Lại phải “lết” về. Chuyến kế
của “Jolly Green 66″ cũng không khấm khá. Đạn bắn rát từ tứ phía như
xé nát chiếc trực thăng. Và cũng phải “lết” về lại căn cứ. Trước khi
màn đêm phủ xuống vào ngày Thứ Hai, một chiếc máy bay hỗ trợ cho
cuộc giải cứu bị hỏa tiễn SAM bắn hạ. Đại Uý William Henderson và
Trung Úy Mark Clark nhảy dù thoát hiểm, đáp xuống đất gần vị trí của
Trung Tá Hambleton. Cuộc giải cứu bây giờ không phải cho một người
nữa, mà cho 3 sĩ quan Hoa Kỳ, mỗi người lạc một lối. Dưới đất, 3
người phi công HK chứng kiến tận mắt trong nỗi niềm thất vọng khi
thấy các loạt giải cứu kế tiếp bị đẩy lui bởi hỏa lực tàn khốc của
địch. Chỉ trong vòng 24 tiếng đồng hồ, 3 máy bay bị bắn hạ, 5 chiếc
bị thiệt hại nặng nề, 4 người thiệt mạng. Và xui xẻo thay tối đó Đại
Úy Henderson bị CSBV lùng bắt được. Trong khi đó, quân đội HK khám
phá ra rằng Trung Tá Hambleton từng phục vụ với Bộ Tư Lệnh Chiến
Lược Không Quân (Strategic Air Command). Ông ta giữ trong đầu một
kho kiến thức về hệ thống hỏa tiễn nguyên tử, cái loại dữ kiện không
thể để rơi vào tay kẻ địch. Bằng mọi giá phải giải cứu cho được
Trung Tá Hambleton.
Những ngày kế tiếp, không lực HK mở nhiều cuộc tấn công xung quanh
cầu Cam Lộ. Vì hỏa lực địch quá mạnh, không chiếc máy bay nào có thể
xuyên thủng vòng vây được. Trái lại hầu hết đều bị bắn hư hại nặng.
Mọi người đều nhận ra là kẻ địch đang dùng hai phi công Hoa Kỳ làm
mồi để nhử các chuyến giải cứu vào để tiêu diệt. Đến ngày 6 tháng 4,
tổng cộng có đến 52 chiếc máy bay và 4 chiếc B-52 oanh tạc liên tục
chung quanh vùng Cam Lộ. Trong lúc đó, chuyến phi hành “Jolly Green
67″ chuẩn bị để thực hiện cú “chộp” lấy Trung Tá Hambleton. Chiếc
trực trăng “Jolly Green 67″ gần đáp xuống vị trí của Trung Tá
Hambleton giữa khói lửa mịt mù, giữa những lằn đạn của địch cào nát
phi cơ. Bị bắn quá rát, trực thăng rút lên không kịp, rơi sầm xuống
đất nổ tung. Thiệt mạng tất cả phi hành đoàn 6 người. Trung Tá
Hambleton gục khóc khi thấy biết bao nhiêu người thiệt mạng chỉ để
giải cứu lấy mình. Bằng mọi giá ông ta tự nhủ cũng phải sống còn….
Ngày 7 tháng 4, một chiếc máy bay khác hỗ trợ cuộc giải cứu lại bị
bắn hạ. Trung Úy Bruce Walker và Trung Úy Larry Potts bị thất tung.
Ngày 9 tháng 4, quân lực HK nhận thấy cuộc giải cứu kết hợp nỗ lực
của nhiều binh chủng không thành công. 5 phi cơ bị bắn hạ, 9 quân
nhân
bị thiệt mạng, 2 người là tù binh, mất tung tích 2 sĩ quan khác.
Không lực Hoa Kỳ gần như bó tay chưa biết tính toán như thế nào.
Lúc bấy giờ, Đại Tá Thủy Quân Lục Chiến Al Gray đưa ra một đề nghị
khác: một cuộc giải cứu âm thầm bằng đường bộ. Ai thực hiện công tác
này? Câu trả lời: Biệt kích Mỹ và Việt. Đại Úy Thomas Norris - (hình
trái) - US Navy SEAL cùng 5 Người Nhái (Frogmen) Việt Nam từ căn cứ
Đà Nẵng đến để chuẩn bị. Cùng lúc đó, không lực HK ra tín hiệu cho
hai phi công HK kẹt trong lòng địch tìm cách tới điểm hẹn. Trung Úy
Clark đang ở gần sông Cam Lộ, chảy về hướng Đông ra Cửa Việt. Tối
ngày 10 tháng 4 sẽ men theo ven sông đến điểm hẹn. Còn Trung Tá
Hambleton cách dòng sông gần 2 cây số cần phải được hướng dẫn để
len lỏi qua vòng đai địch quân dầy đặc để đến bờ sông. Toán biệt
kích tập trung tại một tiền đồn (forward operating base) nằm trên
một ngọn đồi thấp cạnh sông Miếu Giang, quận Cam Lộ. Nhóm Người Nhái
Việt Nam gồm có một Đại Úy trưởng toán, hai Hạ Sĩ Nhất, và hai Hạ
Sĩ. Kiệt, 27 tuổi, lúc bấy giờ là Hạ Sĩ Nhất Trọng Pháo, thuộc sở
Phòng Vệ Duyên Hải, và cũng là một Biệt Hải được huấn luyện theo mô
hình của US Navy SEALs.
Từ tiền đồn, Norris cùng với nhóm Biệt Hải đi ngược dòng sông để
giải cứu cho Trung Úy Clark trước, rồi Hambleton sau đó. Khi màn đêm
buông phủ ngày 10 tháng 4, đội biệt kích khởi hành. 6 người trơ trọi
trong bóng đêm đối đầu với một lực lượng địch quân đã bất chấp sức
mạnh của không lực HK. Thoạt đầu, toán biệt kích dự tính bơi ngược
dòng sông để gặp Trung Úy Clark trôi xuôi dòng xuống. Nhưng vì dòng
nước chảy mạnh quá nên cả toán đành phải xâm nhập bằng đường bộ theo
ven bờ sông. Toán biệt kích chậm rãi tiến từng bước trong màn đêm,
vượt qua mặt từng đoàn thiết giáp, xe hàng, và các toán tuần tiểu
thường xuyên canh phòng. Đây là một việc chậm rãi, nguy hiểm và có
thể trở thành chết người trong nháy mắt. Nhóm điều hành chuyến giải
cứu biết là nguy hiểm nên đã dặn cả toán là đừng đi quá một cây số
vào cứ địa của địch ở thượng nguồn. Nhưng toán biệt kích biết là như
vậy không đủ nên tiếp tục âm thầm vượt qua tai mắt kẻ địch để cuối
cùng dừng lại và chờ … 2 cây số ở thượng nguồn.
Gần 3 giờ sáng, toán biệt kích phát hiện một vật di động xuôi dòng
sông. Đó chính là Trung Úy Clark. Trước khi cả toán bắt đầu cuộc
giải cứu thì một toán tuần tiểu của địch xuất hiện. Cả toán lặng yên
chờ đợi trong khi Trung Úy Clark cứ trôi xuôi dòng sông. Đến khi kẻ
địch đã đi qua thì Trung Úy Clark cũng biến dạng trên dòng sông nước
chảy mạnh. Cả toán biệt kích rút lui đi dọc theo bờ sông để truy
lùng Clark. Cuối cùng toán phát hiện ông ta đang ẩn núp ở ven sông.
Trời đã hừng sáng, tuy đã tìm được Trung Úy Clark nhưng cả nhóm vẫn
còn ở sâu trong vùng địch. Hết sức chậm rãi và cẩn trọng, toán biệt
kích tiếp tục chuyến hành trình đào tẩu khỏi vùng địch. Trưa hôm đó,
cả toán về đến vùng an toàn. Trung Úy Clark được bốc về Đà Nẳng.
Toán biệt kích còn ở lại tiền đồn. Công tác của họ chưa xong vì vẫn
còn một phi công HK cần giải cứu. Ngày hôm sau, 11 tháng 4, toán
biệt kích chuẩn bị lên đường. Trong chuyến giải cứu hôm trước cả
toán đã chứng kiến tận mắt lực lượng địch quân dầy đặc. Vì thế trước
khi toán biệt kích lên đường, không lực HK đã dội bom phủ đầu các vị
trí địch để dọn đường. Địch quân liền trả đũa với hàng loạt mọt chê
bắn phủ đầu lên tiền đồn quân lực VNCH.
Thật là xui xẻo, người Đại Úy Biệt Hải Việt Nam và Trung Tá Anderson
(cố vấn cho nhóm biệt kích) bị thương. Một Biệt Hải hộ tống hai
người trở lại hậu cứ. Nhóm biệt kích chỉ còn lại 4 người: Tom Norris
và 3 Biệt Hải VN. Nhóm biệt kích 4 người còn lại vẫn tiếp tục nhiệm
vụ giải cứu. Họ lên đường rạng tối ngày 12 tháng 4. Lần này cả toán
mạo hiểm gần 4 cây số sâu vào lòng địch. Càng vào sâu, nhìn thấy
địch quân dầy đặc tứ bề, 2 người trong toán biệt kích e ngại và
không muốn tiến thêm. Nhưng rồi cuối cùng cả nhóm vẫn tiến tới để
truy tìm Trung Tá Hambleton. Trời đã hừng sáng mà không thấy tăm
tích ông ta đâu cả, toán biệt kích đành thất vọng rút lui. Trung Tá
Hambleton, 53 tuổi, sau 10 ngày trốn tránh, đói khát sức khoẻ kiệt
quệ, đầu óc mụ mẫm đi, phương hướng lẫn lộn. Thời gian không còn bao
lâu trước khi ông ta gục ngã chết lịm trong rừng già. Hôm sau trong
khi toán biệt kích nghỉ dưỡng sức thì không lực HK liên lạc bằng tín
hiệu với Trung Tá Hambleton, động viên tinh thần ông ta cố gắng
gượng sức để ra đến chỗ hẹn. Sức khoẻ của ông đã đến hồi nguy kiệt.
Nếu toán biệt kích không “chộp” được ông tối nay thì có lẽ đó sẽ là
cơ hội cuối cùng. Họ cũng lượng định rằng trong tình trạng sức khoẻ
như vậy, Trung Tá Hambleton khó mà đến chỗ hẹn. Nếu muốn thành công,
toán biệt kích phải đi tìm cho ra được ông ta.
Trong chuyến đi này, 2 Biệt Hải VN từ chối không tham dự. Người duy
nhất tình nguyện đi là Hạ Sĩ Nhất Nguyễn Văn Kiệt, Liên Đoàn Người
Nhái, Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa. Đối diện với hiểm nguy, Kiệt vẫn
tình nguyện đi vì yêu chuộng sự hào hùng của ngành Biệt Hải, và cũng
vì lòng nhân đạo không nỡ thấy người sắp chết mà không cứu. Hai biệt
kích, một Mỹ, một Việt. Tom Norris và Kiệt mặc quân phục ngụy trang
như bộ đội chính quy Bắc Việt, trang bị súng AK-47. Họ quyết định
dùng xuồng đi ngược dòng sông lên hướng Bắc. Như thế sẽ lẹ hơn đi
đường bộ và mới có đủ thời giờ để truy tìm Trung Tá Hambleton. Trong
màn đêm, tay chèo, tay súng, họ nghe rõ mồn một tiếng trò chuyện của
địch quân canh gác ven sông, tiếng gầm rú của xe tăng T-54, tiếng di
động của cả đoàn quân hùng hậu. Họ chèo chậm rãi để tránh tai mắt kẻ
địch. Một màn sương mù phủ lấp dòng sông che chở họ khỏi sự dòm ngó
của kẻ thù nhưng đồng thời lại làm cho họ chậm tay chèo. Và họ cũng
không ngờ là họ chèo gần đến cầu Cam Lộ, nơi địch quân đóng giữ. Khi
nghe tiếng chân bộ đội Bắc Việt tuần tiểu đi lại trên cầu, họ mới
biết là đi lố. May mắn là sương mù che phủ khắp vùng nên Tom và Kiệt
không bị phát hiện. Họ chèo trở ngược lại, xuôi dòng sông và tìm
kiếm Trung Tá Hambleton. Rồi cuối cùng Tom và Kiệt cũng tìm ra Trung
Tá Hambleton, một thân hình tong teo gục ngã gần bờ sông. Ông ta chỉ
còn thoi thóp thở. Tom và Kiệt đem Trung Tá Hambleton lên dấu dưới
đáy xuồng, lấy lá chuối che phủ thân hình ông ta. Họ bắt đầu cuộc
hành trình rút lui khỏi vùng địch, thoát khỏi gọng kềm của tử thần,
vẫn một cách chậm rãi như mọi khi. Lúc bấy giờ hừng đông đã ló dạng.
Bất thình lình, Kiệt nghe tiếng gọi “Ê, lại đây!”. Cả hai người cùng
quay đầu lại và bắt gặp 3 tên lính Bắc Việt xa xa trên bờ. Tên đi
giữa là sĩ quan, vắt khẩu K54. Hai tên cận vệ kè kè AK-47 hai bên.
Khoảnh khắc đó thật dài như thế kỷ. Kiệt cảm thấy ớn lạnh dọc theo
xương sống. Nhưng cả hai người đều bình tĩnh quay đầu trở lại, tiếp
tục chèo xuồng xuôi huớng Nam. Vừa chèo, Kiệt đã bắt đầu đếm thời
gian và lắng nghe tiếng súng của bọn chúng sẽ bắn theo. Nhưng chúng
hoàn toàn im lặng. Một cái im lặng đáng nghi ngờ và hồi hộp vô cùng.
Kiệt ráng lắng nghe tiếng chân rầm rập đuổi chạy theo. Nhưng tất cả
không gian lúc ấy hoàn toàn trở lại bình thường im lặng. Một sự tĩnh
mịch khó hiểu. Có thể chúng sẽ liên lạc máy để chận xuồng ở một đoạn
sông sắp đến? Hay chúng đang chỉ điểm để pháo kích theo? Bấy giờ là
giờ phút hết sức căng thẳng trong tâm não của Kiệt. Bao nhiêu giác
quan của Kiệt được tận dụng tập trung quan sát để phản ứng kịp thời
… Tom lập tức báo cáo bằng radio là đã giải cứu được Trung Tá
Hambleton. Tuy thế chuyến giải cứu chưa xong vì họ vẫn còn sâu trong
lòng địch và khi trời hừng sáng, sự ngụy trang của họ không qua mặt
được kẻ địch. Vì thế, không lực HK được điều động sẵn để hỗ trợ bất
cứ lúc nào. Đúng như Kiệt dự đoán, kẻ địch đã báo động về sự xâm
nhập của chiếc xuồng biệt kích. Tiếng la hét, tri hô vang dậy cả bầu
không khí tĩnh mịch. Cuộc truy đuổi bắt đầu. Tom và Kiệt chèo hối
hả, mượn dòng nước chảy mạnh để đưa con xuồng đi thật lẹ, cũng như
nhờ cậy vào các tàng cây dầy đặc ven sông che dấu bớt hình ảnh chiếc
xuồng mong manh. Trong khi đó đạn của địch không ngừng bắn xối xả
ngang sông. Thấy hỏa lực địch quá mạnh, Tom và Kiệt tấp xuồng vào
một bụi cây ven sông và gọi không lực yểm trợ ngay lập tức. Không
gian yên lặng của đoạn sông bị xé nát bởi những lằn đạn bắn tứ phía.
Đạn từ trên không bắn xuống, đạn từ dưới đất bắn lên, đạn từ hai bên
bờ nhả xuống sông lia lịa. Và cũng nhờ sự yểm trợ không lực mạnh mẽ
và liên tục, Tom và Kiệt cuối cùng cũng đưa con xuồng xuôi dòng an
toàn. Khi gần đến tiền đồn của quân lực VNCH, quân đội hai bên dàn
trận ra “tiếp đón” lần nữa. Cộng Sản Bắc Việt bên bờ Bắc, quân đội
VNCH bên bờ Nam. Hai bên nhả đạn bắn qua lại dữ dội. Dưới cơn mưa
đạn đó, Tom và Kiệt dìu Trung Tá Hambleton khỏi xuồng và chạy chặng
nước rút nguy hiểm cuối cùng vào hầm trú ẩn ….
Cuộc giải cứu đã thành công vượt sức tưởng tượng của mọi người. Khi
mà cả không lực Hoa Kỳ bó tay thì những biệt kích Mỹ, Việt gan dạ
cùng mình đi vào trong lòng địch, chộp các phi công ra khỏi gọng kềm
của tử thần.
Câu chuyện trên, người ta có viết thành sách, Hollywood có chuyển
thành phim với những tài tử quen thuộc thủ vai các nhân vật chính
trong câu chuyện. Vậy mà 2 nhân vật “CHÍNH” nhất trong truyện là Đại
Úy Hải Quân (Navy SEAL) Hoa Kỳ Thomas Norris và Hạ Sĩ Nhất Nguyễn
Văn Kiệt, Liên Đoàn Người Nhái, Hải Quân VNCH không hề được nhắc
đến. Hành vi dũng cảm, gan dạ phi thường này chỉ có một số người
được biết để bảo vệ các dữ kiện quân sự liên hệ đến các chuyến giải
cứu đường bộ. Đại Úy Thomas Norris được trao tặng huân chương “Medal
of Honor”. Huân chương cao quý nhất của quân đội Hoa Kỳ trao cho
những chiến sĩ đã có hành động dũng cảm phi thường. Hạ Sĩ Nhất
Nguyễn Văn Kiệt, người Nhái anh dũng của Hải Quân VNCH, được trao
tặng huân chương “Navy Cross”. Huân chương cao nhất có thể trao tặng
cho quân đội đồng minh. Kiệt là người chiến sĩ Hải quân VNCH duy
nhất nhận huân chương “Navy Cross” trong cuộc chiến Việt Nam. Đến
nay đã gần 30 năm. Hồ sơ quân sự cũng đã được tiết lộ (declassify).
Rồi cuối cùng những hành động dũng cảm, anh hùng này đã được mọi
người biết đến.
![]()
Phần 1| Phần 2 | Vietnam - The untold story | Đầu trang
CÔNG TÁC BAT-21
Bản Anh Ngữ
The
Rescue of BAT-21
Written by: Amy P. Fabry on July 26,
2010
Categories: Spec Ops
Tags: Military History
Comments: No Comments

An O-2 forward air control (FAC)
aircraft of the type flown by Capt. Bartholomew Clark,
the pilot who first located Hambleton and helped direct rescue
efforts. DoD photo.
On March
30, 1972, the North Vietnamese Army (NVA) had amassed three
divisions worth of artillery, tank and infantry units along the
South Vietnamese border. It would be the start of a confrontation
now referred to as the Easter Offensive. After waiting for the Army
of South Vietnam (ARVN) to establish their defensive line along the
DMZ border, the NVA boldly displayed their flags announcing their
presence on the other side. The American airmen supporting the ARVN
forces anticipated that the NVA air defenses would be tough to
penetrate, but our airmen would soon realize just how tenacious an
opponent they faced.
No one, including Lt. Col. Iceal “Gene” Hambleton, could have known
that on the afternoon of April 2, 1972, the largest and longest
combat search and rescue (CSAR) operation of the war in Southeast
Asia was about to begin. It would last a total of 17 days; 24
sorties would be flown and 13 men would lose their lives. It was all
to save one precious human life and the invaluable knowledge in his
head.
Hambleton was a senior navigator and electronic warfare specialist
on an EB-66C electronic reconnaissance aircraft. These planes were
used as escorts to the larger, less maneuverable B-52′s, because
they could locate the enemy surface-to-air missile (SAM) sites and
jam the SAM radars if necessary. On this particular day in April,
there had been a short notice request for two EB-66s to escort three
B-52s that were to take out a buildup of SAM sites that had been
noted in the southern panhandle of North Vietnam. Because the unit
was under staffed, 53-year-old Hambleton, normally the scheduler for
the crews, decided to put himself in the navigator’s seat of EB-
66C, call sign BAT-21 Bravo. It was a bad idea, because Hambleton
knew as much about American electronic warfare capabilities as any
man in the Air Force, which made him an incredible prize for the
enemy side should things go wrong. They did.
The briefing for the mission had been quick and no warning had been
given of any NVA SAM sites seen in South Vietnam. Despite cloudy
weather, the mission proceeded. As the convoy of the B-52s and
EB-66s approached the border, they immediately came under assault
from the unseen SAM sites. The others went unscathed, but BAT-21 was
not so lucky. It was ripped apart by an enemy SA-2 Guideline SAM.
Sitting in the navigator’s position, Hambleton was automatically set
to be the first to eject in the event of an emergency. The second
was the pilot, Wayne Brady. Brady and the four electronic warfare
specialists in the rear of the aircraft never made it out.
During his lonely descent, Hambleton had 20 minutes to contemplate
his fate. With only nine months to go until his retirement,
Hambleton determined that no matter what, he was going to get out of
this alive. Plus, he was confident that his American brethren would
soon be there to rescue him. But what BAT-21 Bravo did not know was
that he had just landed on the wrong side of a 30,000 strong North
Vietnamese offensive thrust.
After landing in a rice paddy just east of Cam Lo village and
roughly one mile from the Cam Lo Bridge, Hambleton waited until dark
to move
into a nearby wooded area. Hambleton had made radio contact with an
O-2 FAC (forward air controller) pilot that was patrolling in his
vicinity. The FAC pilot had actually seen Hambleton float past his
cockpit window in his parachute shortly after he had ejected. The
FAC pilot’s constant contact was reassuring and helpful in calling
AH-1 Cobra helicopter gunships and F-4 Phantom fighter-bombers to
lay down enough gunfire, bombs and “gravel” (anti-personnel mines)
to keep enemy troops and villagers away from his hideout. Advised by
the FAC pilot to stay in one spot, Hambleton dug himself a hole and
anxiously awaited his rescue.
The downed aviator would watch with a heavy heart for days, as
sortie after sortie was flown in and forced to turn around because
of the intensity of the ground fire. Hungry, exhausted and
desperate, Hambleton’s lowest moment came at the end of the fifth
day, when he watched an Air Force Jolly Green Giant rescue
helicopter erupt into a giant fireball, killing all six men aboard.
By the end of day five, the tally of losses included a Cobra
helicopter, the Jolly Green and eight lives. An OV-10 was also lost
but the pilot was captured and another crewman, Mark Clark, was on
the ground evading. Five other aircraft were shot down, but their
crews were rescued, and
countless others were badly damaged. The cost had become too high.
At the end of the sixth day, Gen. Creighton Abrams, while in Saigon,
declared that no further helicopters were to be used for CSAR
missions to pick up Hambleton and Clark. The normal American mode of
brute force from the air was not going to work this time; the NVA
force was too large and too entrenched. It was going to have to be a
rescue closer to the ground. Lt. Col. Andy Anderson, USMC, then the
commander of the Joint Personnel Recovery Center in Saigon, had not
yet supervised a successful ground rescue of an American, and had
anxiously been monitoring Hambleton’s and Clark’s situation.
Anderson figured he could get a team of Vietnamese commandos he had
been working with to run the mission, but he needed another American
to go along as an adviser. Enter Navy SEAL Tom Norris.
The SEAL team Norris was assigned to had been training Force Recon
Marines to run covert special operations. “I was used to running ops
where I was penetrating into the opposing forces’ territory without
much support, but I had never seen anything like this,” Norris said.
The ARVN general commanding, a brigadier by the name of Gen. Giai,
thought the mission was insane. He told Norris he would get the team
to the front lines but after that he would take no responsibility
for them.”
Norris later said, “When you attempt a rescue mission, you don’t
plan on being shot down. War is not a game where at the end you can
get all your players back. The Air Force had to reevaluate all the
losses they were taking and realize there needed to be another
approach.” The initial plan was to have a small team composed of Lt.
Col. Anderson, Norris, and five Vietnamese commandos put up an
over-watch position along the Mieu Giang River, which ran near the
positions of both downed airmen. Both Clark and Hambleton would be
directed to literally float down to the team. Unfortunately,
Hambleton, already down a week, was getting weaker by the day and no
more time could be wasted. OV-10 pilot Clark, who had spent five
days on the ground, was closest to the team’s position and would be
rescued first.
After radioing an orbiting FAC aircraft to signal Clark to get in
the water and float downstream, Norris started maneuvering with half
of the team towards the riverbank. Anderson and the other Vietnamese
waited further downstream as a backup in case Norris missed Clark.
Originally instructed by Anderson to take his team only 1,000
meters, Norris turned off his radio and ventured twice that far. It
was slow going for Norris’ team to reach the river as they worked to
avoid numerous enemy patrols. They finally reach the river’s edge
and were kneeling down in some bushes when Norris heard Clark
floating down the river.
The cold river water was causing Clark to breathe hard and Norris
was just about to step out of cover to grab Clark when a six-man NVA
patrol walked directly between them. Norris’ first instinct was to
have his team open fire, but he knew they were outgunned. Also,
firing would compromise the mission by announcing the team’s
presence, so he let them pass. But by the time the NVA patrol had
moved by, Clark was out of sight. Norris didn’t give up hope, and he
entered the river himself to search for Clark. He floated down the
river and searched for a few hours before finally finding Clark
lying behind a boat on the riverbank. Norris then linked back up
with the rest of his team and safely delivered the survivor to
Anderson’s position. It was now early morning and they would have to
wait until nightfall to go back out and get Hambleton.
The FACs in contact with Hambleton were reporting that he was
getting increasingly weary and difficult to work with. Hambleton was
now at the water’s edge. He was cold, wet and now on his eighth day
of danger, stress, hunger, and dehydration. Hambleton at one point
became so desperate that he came out of the bush cover and started
waving a white flag at the FACs flying above. The airborne observers
had to yell at him to get back in the bushes and wait just a little
bit longer.
Norris and Anderson spent the day relaying bombing targets along the
river to the FACs on duty. However, the NVA troops returned the
favor by unleashing mortar rounds and B-40 rockets directly on the
team’s position. Lt. Col. Anderson and the senior Vietnamese
commando chief were both seriously wounded and had to be
helicoptered out. Losing both of these leaders was a huge blow to
the team’s confidence. Norris was now left with just three
Vietnamese commandos who spoke very little English. Hambleton was on
his ninth day of evasion and was rapidly losing strength and hope.
Now his would-be direct rescuers had taken casualties and were
running out of ammunition.
As night approached, Norris and his three remaining team members
began their final effort to find Hambleton. Two of the Vietnamese
commandos became obstinate and refused to go on, feeling that
Hambleton was not worth the risks they were facing. As the
realization set in that he could not force the two men into helping
him, Norris changed his tactics and asked for volunteers. One
Vietnamese petty officer stepped forward and Norris realized that
young Nguyen Van Kiet not only had the ability but the determination
that was needed for this mission. Thus was formed a courageous
two-man team that would become the stuff of SEAL legend. Leaving the
other two men behind, Norris and Kiet headed upriver to rescue
Hambleton.
Hambleton was too weak to move any farther; they were going to have
to go to him. Norris and Kiet cautiously scoured the shoreline all
night
looking
for some sign of BAT-21. As the sun rose on Hambleton’s tenth day
down, the two rescuers reluctantly returned to their outpost to rest
and plan the next evening’s attempt.
That evening, Norris and Kiet began to work their way upriver,
taking care to avoid NVA patrols. Walking through a deserted
village, Norris and Kiet found some native clothing and dressed
themselves as peasants. They then commandeered an abandoned sampan
to move up the river. It was an eerie and treacherous journey. Even
in the pitch dark, surrounded by dense fog, they could see North
Vietnamese soldiers sitting and sleeping on the shoreline. Up on a
bluff above the river, Norris could make out the cannon barrels of a
line of tanks. Kiet was quietly passing information back to Norris
on the numbers of enemy he was able to see in plain sight. But they
couldn’t afford to be discovered.
The two men continued to paddle upriver, but got turned around
because of the heavy fog. Suddenly, they popped out of a thick fog
bank and realized they were underneath the bridge at Cam Lo. They
saw tanks and troops crossing the bridge overhead. When Norris saw
the bridge, he realized they had overshot Hambleton’s position
upriver by half an hour. Kiet and Norris turned around and paddled
rapidly down toward Hambleton’s last known position.
On the south shore of the river they saw what looked like a body
lying on the bank. They pulled the canoe over to the bank and
discovered it was Hambleton, still alive but in very poor shape.
Worse, by now it was close to sunrise and Norris wanted to hole up
until they had the cover of darkness to go back down the river. But
with Hambleton in such poor physical condition, slipping in and out
of consciousness, moaning and rambling on senselessly, Norris knew
he had to get him downriver immediately. Hambleton was hurriedly
placed onto the bottom of the sampan and covered with bamboo from
the riverbank. Then they began the journey downriver.
Norris and Kiet were soon spotted by a North Vietnamese patrol, who
hailed them but did not fire. Then Hambleton started moaning, and
Kiet stuck his hand over Hambleton’s mouth to keep him quiet. It
didn’t matter, as the enemy troops along the banks were awakening
and beginning to notice them. Some fired at them, but Norris and
Kiet could not afford to return fire. Their job was to get Hambleton
to safety, and they grimly bent to the task.
As they rounded a bend in the river, a NVA heavy caliber machine gun
opened up on them from the north shore. Norris and Kiet pulled the
sampan over to the opposite bank and turned the sampan over to
provide some cover. After finding some vegetation to cover them,
they called in some much-needed help from the air. Five A-4 Skyhawks
from the carrier Hancock immediately answered the call. Their
ordnance completely obliterated the enemy troops and weapons on the
opposite bank. As the A-4s finished their deadly work, Norris and
Kiet moved Hambleton back into the sampan and headed back to the
team’s original outpost.
The trio was not free from danger yet, though. During the climb up
the riverbank, NVA troops opened up on them from across the river.
Norris had to call in additional airstrikes as they endured more
small arms, mortar and rocket attacks. This time, South Vietnamese
forces were there to cover them. Soon after the A-4’s silenced the
enemy, an ARVN M113 armored personnel carrier arrived and was
finally able to carry Hambleton, Norris and Kiet back to Dong Ha.
Hambleton had to be carried to safety, as he was unable to walk, but
he was finally safe. BAT-21 was home.
When the three arrived at Dong Ha, a reporter commented to Norris,
“It must have been tough out there. I bet you wouldn’t do that
again.” Norris just stared him down with his steely blue SEAL eyes
and replied, “An American was down in enemy territory. Of course I’d
do it again.”
For their heroic roles in the rescue of Iceal Hambleton, both
warriors were recognized with extraordinary decorations. Petty
Officer Kiet became the only Vietnamese of the entire war to be
awarded the Navy Cross. For his role, President Ford awarded Lt. Tom
Norris the Medal of Honor on April, 3 1976.
![]()






![]()
Nguồn: Internet E-mail by NN Lê Đình An
chuyển.
Web site:
http://www.defensemedianetwork.com/stories/the-rescue-of-bat-21
Cập nhật hoá ngày Chúa Nhật, December
11th, 2011
Ban Kỹ Thuật Khóa 10A-72/SQTB/ĐĐ, ĐĐ11/TĐ1ND, QLVNCH