Bấm vào đây để in ra giấy (Print)
Lời mở đầu: Kính thưa quí độc giả, dưới đây là
những bức điện thư giới thiệu về bài biên khảo mang tựa đề "Quốc Tế Cộng
sản & Cộng sản Quốc Tế" do một cựu chiến binh QL-VNCH thuộc Binh chủng
Biệt Động Quân biên soạn. Vì bài rất dài nên BKT thêm phần Mục lục với
sáu phần dựa theo các tiểu mục mà tác giả đã ghi để việc theo dõi toàn
bài trên trang điện tử này cho dễ dàng. Vì vậy, quí vị chỉ cần bấm vào
từng tiểu mục để đi thẳng vào tiểu mục mà quí vị cần theo dõi....
Ngoài ra quí vị có thể in toàn bài biên khảo này ra giấy và nhẩn nha đọc
khi thật sự rỗi rảnh. Bài này ta cần phải đọc chậm rãi để hiểu thấu được
tất cả những điều thâm cung bí sử của một loại "xã hội vô hình? của thế
giới này" mà từ xưa đến nay nhiều người trong chúng ta chỉ biết rất mù
mờ về nó. Thật vậy, đây là một công trình biên soạn rất công phu của tác
giả BĐQ/Đỗ Như Quyên. Kính mời quí vị thưởng lãm bài viết “QUỐC TẾ CỘNG
SẢN VÀ CỘNG SẢN QUỐC TẾ” dưới đây.
Ban Kỹ Thuật
![]()
----- Forwarded Message -----
From: Van Nguyen Duong
To: hoang duoc thao
Cc: hononuoc
Sent: Thursday, May 31, 2012 7:07 PM
Subject: Fw: Gởi anh Dưỡng bài viết Cộng Sản Quốc Tế.
BS Nghĩa mến,
Trước đây BS có gởi cho tôi một vài bài viết đề cập đến... hội kín. Hôm
nay tôi gởi đến BS một bài viết truy tìm nguồn gốc của hội kín của một
nhà biên khảo ẩn danh. Ông ta trước khi miền Nam sụp đổ là một binh nhì
Biệt Động Quân. Nhưng khi sang định cư ở HK đã trở thành một người có
kiến thức sâu rộng, đọc rất nhiều sách ngoại ngữ. Ông ta là sự kiện toàn
quí báu của tri thức QĐVNCH. Chẳng riêng tướng, tá hay uý trong hàng ngũ
sĩ quan ra hải ngoại đã thành danh trên mọi mặt, từng chứng tỏ là những
đại biểu xứng đáng của một quân đội mà tiếng nói còn vọng xa mặc dù đã
bị bức tử từ gần bốn thập niên qua. Trong hàng ngũ binh sĩ cũng có những
người kiến thức uyên bác. Đó là giá trị của mọi quân nhân đã từng chống
CS trên chiến trường máu lửa. Nay họ vẫn tiếp chiến đấu trên chiến
trường khác, rộng lớn hơn. Xin BS đọc bài dưới đây. Bài này đã được đăng
trên website của Dân Văn Tạp Chí ở Đức, chia làm nhiều kỳ trong tháng
vừa qua.
Thân mến,
Văn Nguyên Dưỡng
![]()
----- Forwarded Message -----
From: Nghia Vo
To: Van Nguyen Duong
Cc: hononuoc; tran hoai thu; song nhi; vuong trung duong; Dan Van Tap
Chi; Doan Dinh (USADC)
Sent: Sunday, June 3, 2012 3:28 AM
Subject: Re: Bài viết về Hội Kín và Cộng Sản Quốc Tế
Cảm ơn Ô. Dưỡng
Bài này khá hay. Không ngờ BĐQ có tài như thế. Tôi sẽ cho in trên SACEI
tuần sau với bình luận sau đây.
Nghĩa
http://www.sacei07.org
This is a fascinating, comprehensive, and lengthy collective review of
International Communism by the group spearheaded by former ARVN Ranger
Do Nhu Quyen, a private who fought against communism in Vietnam in the
1960-70s and now continues his fight in the US with his pen.
In order to effectively fight communism, the author stresses the need to
understand it. He leads us through the last 2.5 centuries when communism
slowly emerges, begins its ascent, and reaches its apogee before finally
coming down crashing when people begins to realize that communism is a
scourge, an evil utopia that was born in the minds of a few deranged
intellectuals and put into practice by no less evil men who use the
occasion to build up their empires. The result was simply frightening:
communism has killed more than 100 million people worldwide and more
than 3M Vietnamese. The author stresses the need to read the review in
its totality in order to understand the dangers and threats of
communism.
In summary, communism, which begins as a power struggle rapidly
degenerates into evil actions: that power struggle led a few arrogant
and self serving men to use people to build their own empires on earth.
The difference between thien-ac, angel-devil is rather tiny. What is a
devil, if not a fallen angel?
![]()
Fw: Bài viết về Hội Kín và Cộng sản Quốc Tế
Dưỡng Nguyễn
To hononuoc, Doan Dinh (USADC), Dan Van Tap Chi, T 242, song nhi, tran
hoai thu, vuong trung duong, Xay Dung, hoang duoc thao,
chiensiconghoavn, cong pham
Em ĐNQ mến,
Anh chuyển nguyên đến Em lần nữa nguyên văn hồi âm của BS VÕ M. NGHĨA,
một trong những vị sáng lập và điều hành cơ quan ngôn luận của nhóm trí
thức Saigon -- hay tiêu biểu cho cả miền Nam tự do-- vẫn tiếp tục chống
CSVN và đề cao phổ biến văn hóa, học thuật của dân tộc trên diễn đàn hội
thảo ở Washington của tổ chức gọi là SACEI hay Saigon Arts, Culture &
Education Instutute, rất nhiều lần trong hơn 5 năm qua. Mỗi năm, SACEI
đều tổ chức hội thảo về một đề tài chuyên biệt, sau đó xuất bản một
quyển sách ghi lại các bài tham luận về forum đó. Mỗi tháng, có một bản
văn Anh ngữ thông tin và thông báo về tin tức về các nhân vật miền Nam
cũ hay hậu duệ có những cống hiến lớn gây tiếng thơm cho tổ quốc và dân
tộc. Tổ chức này có qui mô rộng rãi, chặt chẽ và rất có uy tín. Thành
viên của SACEI nguyên thủy phần lớn là các Bác sĩ Quân Y cũ của QLVNCH.
Nay thì tổ chức bất vụ lợi này đã và đang mở rộng. Anh rất hoan nghênh
và ủng hộ SACEI.
Thân mến,
Văn Nguyên Dưỡng
![]()
![]()
LỜI GIỚI THIỆU CỦA TÁC GIẢ:
Kính thưa bạn đọc,
Kể từ đầu thế kỷ thứ 20, sau lúc cộng sản ở Nga thành công trong việc
làm sụp đổ cả một đế chế rộng lớn vào năm 1917, sau đó họ thiết lập một
"nhà nước" mang sắc thái mới lạ và rất "hấp dẫn" mà những người lãnh đạo
phong trào "cách mạng" này gọi đó là chính quyền của nhân dân, chính
quyền của tầng lớp nghèo khổ là công nhân và nông dân, hoặc ngắn gọn hơn
thì gọi đấy là "chính quyền của giai cấp vô sản". Từ năm 1917 cho tới
khi Chiến Tranh Thế Giới Lần 2 kết thúc trong năm 1945, hình mẫu của
chính quyền "vô sản" ở Nga là niềm mơ ước của biết bao con tim đang khát
khao tìm sự độc lập, tự do, bình đẳng, v.v. cho quê hương mình, lúc đó
vẫn còn nằm dưới sự cai trị của chế độ vua quan phong kiến hoặc bị xâm
lăng và thống trị bởi chủ nghĩa thực dân đến từ Âu Châu, có người còn
nuôi chí hướng xa hơn là mong được mang lá cờ của chính quyền "vô sản"
đến khắp nơi trên thế giới. Trong vô số những người nuôi mộng ước đó,
tầng lớp được cho là "trí thức, khoa bảng" đã bị thu hút mãnh liệt nên
giới này không ngần ngại sự dấn thân. Họ đến với "lý tưởng cộng sản" một
cách chân thành, coi lý thuyết "xã hội chủ nghĩa" như một cứu cánh cao
cả nhất để mang lại hạnh phúc, thịnh vượng không những cho tổ quốc mà
cho cả toàn nhân loại. Chính họ là những người đi đầu khơi dậy ngọn lửa
chống áp bức, bất công, nghèo đói đang âm ỉ và dồn nén trong tầng lớp
nông dân và thợ thuyền. Kết quả là từ năm 1917 đến khi các chế độ cộng
sản lần lượt sụp đổ vào năm 1990, đã có rất nhiều xứ sở trải qua các
cuộc bạo lọạn "cách mạng", chiến tranh "giải phóng" v.v. để xoá bỏ thể
chế cũ và thiết lập nên chính quyền "vô sản", và những lá cờ đỏ
"búa-liềm" đã tung bay ngạo nghễ trên gần một nửa diện tích đất đai của
quả địa cầu trong giai đoạn đó.
Chỉ đến khi các thành lũy cộng sản lần hồi tan rã (trừ Việt Cộng; Trung
Cộng; Bắc Hàn; Cuba), giới trí thức, khoa bảng từng nuôi ảo tưởng về
"chủ nghĩa đại đồng" mới giật mình tỉnh ngộ khi vô số các tội ác tàn bạo
của cộng sản bị phơi bày. Lúc đó họ mới biết nhiều thế hệ có ăn học, có
bằng cấp như mình đã bị lừa bịp một cách nham hiểm bởi các đảng viên
cộng sản lão luyện trong lãnh vực tuyên truyền. Lúc họ sáng mắt ra, dù
sao, cũng đã muộn rồi. Sự sám hối của họ bây giờ chắc chắn không thể làm
sống lại hàng trăm triệu nạn nhân đã bị cộng sản giết hại bằng đủ loại
hình thức, trong đó cũng có rất nhiều trí thức từng can đảm lên tiếng tố
cáo tội ác của cộng sản. Sự ăn năn thống hối của họ cũng không thể nào
khỏa lấp hoặc hàn gắn được những tan vỡ, những mất mát chia lìa của biết
bao nhiêu gia đình đang sống trong ác mộng vì những người thân yêu ra đi
trong tức tưởi. Và họ cũng chẳng thể một sớm, một chiều tẩy rửa được hết
các "di căn" hậu họa do cộng sản để lại trong lối sống của thế hệ trẻ
hôm nay như sự dối trá, lừa đảo, vô luân lý, phi đạo đức, ích kỷ, độc
ác, xảo quyệt để tiến thân và nhất là bị mù lòa về văn hóa, kiến thức
v.v. Nhưng phải lấy công tâm để nhìn nhận, sự thức tỉnh và biết đền đáp
lại những ngu muội của mình trong giới trí thức, khoa bảng một thời lầm
lạc vì cộng sản, ít ra cũng xoa dịu một phần nào đó trong nỗi đau đớn
chung của xã hội loài người trước thảm họa cộng sản. Tuy nhiên, không
phải tất cả các trí thức, khoa bảng đều tỉnh ngộ hay biết phục thiện sau
khi các sự thật ê chề của cộng sản bị đưa ra ánh sáng, trái lại có một
số vẫn lì lợm tiếp tục làm công cụ cho cộng sản, chấp nhận đem tài năng
và trí tuệ của mình phục vụ cho tội ác, đó là trường hợp của những "con
ruồi" trí thức đang vo ve bên bốn "đống rác" xú uế của cộng sản còn sót
lại hôm nay gồm Việt Cộng; Trung Cộng; Bắc Hàn và Cuba. Đối với những
người biết nhận xét, họ có thể hiểu và thông cảm phần nào cho lớp trí
thức đang còn bị kẹt trong bộ máy man rợ của cộng sản tại bốn quốc gia
nêu trên. Có thể họ vì an toàn cho tính mạng cá nhân, cho gia đình, vì
cơm ăn áo mặc, v.v. nên đành ngậm miệng cúi đầu làm thân "trâu ngựa" cho
chế độ. Nhưng bên cạnh đó, lại có những vị khoa bảng, học giả, trí thức,
v.v. (không kể giới "nghệ sĩ") bằng cấp đầy mình đáng sống ở những quốc
gia không cộng sản đã cố tình bất chấp dư luận, mang "tài cao học rộng"
của mình đến với chế độ cộng sản, nhất là những kẻ đó lại nói cùng một
ngôn ngữ, có chung một huyết thống dân tộc tại nơi mình đến "kiếm ăn nhờ
bằng cấp". Chẳng lẽ họ mù lòa đến mức không thấy nỗi khổ đau của đồng
bào mình?
Trong phạm vi của bài biên khảo hôm nay, chúng tôi chỉ đề cập đến trường
hợp Việt Nam, vì đảng cộng sản đang thống trị trên quốc gia này được
chúng tôi xác định là một tổ chức tội phạm hung hiểm nhất, quỷ quyệt xảo
trá nhất, vô học và tàn bạo nhất trong lịch sử loài người với những gì
tồi tệ nhất mà thế giới cộng sản trước khi chết đã gom lại và dồn hết
vào cho nó. Ngoài ra, chúng tôi cũng được biết đã từ lâu lắm cho tới tận
hôm nay, 2012, cộng sản Việt Nam sở dĩ còn kéo dài được sự thống trị sắt
máu là do có sự chống lưng giúp đỡ từ một nhóm "siêu quyền lực" đang
giấu mặt và có nguồn gốc tại Âu Châu.
Để tìm hiểu sự nghịch lý về hiện tượng trí thức Việt Nam ở hải ngoại
đang tiếp tay cho tội ác ngay trên quê hương mình, chúng tôi, những
người từng là quân nhân Biệt Động Quân / Quân lực Việt Nam Cộng Hòa, có
một thời chiến đấu không khoan nhượng với cộng sản trên chiến trường và
hôm nay vẫn tiếp tục chiến đấu bằng ngòi bút trên mặt trận văn hóa. Vì
xuất thân là những người lính, chúng tôi chẳng mong gì có được những học
vị cao sang như phần lớn giới học giả, trí thức, khoa bảng v.v. trong
cộng đồng người Việt lưu vong hiện nay. Tuy nhiên, chúng tôi đã cố gắng
tìm đọc lại nhiều sách, báo, tài liệu v.v. về nguồn gốc sự hình thành
nên "triết thuyết" cộng sản, qua những gì được tham khảo chúng tôi mới
biết rằng đồng bào mình nói chung, giới trí thức khoa bảng Việt Nam nói
riêng đều hoàn toàn mù tịt về nguồn gốc ban đầu của cộng sản. Nếu có sự
tìm hiểu về cộng sản từ giới trí thức, phần lớn các nghiên cứu của họ dù
sâu rộng lắm cũng chỉ bắt đầu từ hai ông Karl H. Marx và Friedrich
Angels trở về sau mà thôi. Đây là một thiếu sót lớn, và cũng từ khởi
điểm này mà giới trí thức người Việt đang tiếp tay với cộng sản hôm nay
thực sự bị che mắt về những mưu kế độc ác của cộng sản đối với trí thức.
Vì thiếu hiểu biết nên họ không biết rằng, bên cạnh những vị khoa bảng,
học giả, trí thức v.v. từ những ngày đầu hồn nhiên đem trái tim và kiến
thức của mình đến với cộng sản (như đã viết ở phần trên), thì cũng có
những kẻ vô lại, vô học, côn đồ, du thủ du thực v.v. đi lạc đường vào
vòng ảnh hưởng của cộng sản. Chính những thành phần này mới dễ bị tuyên
truyền và nhồi sọ hơn thành phần có ăn học, và họ sẽ tuyệt đối trung
thành với tổ chức khi đã có quyền lực ở trong tay. Và con số đảng viên
thuộc thành phần hạ cấp đó luôn đông hơn số đảng viên được gọi là "trí
thức". Khi một đảng cộng sản còn hoạt động trong bóng tối, khởi thủy
những kẻ thành lập tổ chức tự coi là những cái đầu của đảng, sau đó giới
trí thức ngây thơ sẽ được chọn đưa ra ngoài công khai để thu hút công
chúng bằng những bài diễn văn rực lửa. Cùng lúc đó trong bóng tối, thành
phần côn đồ sẽ tung ra các hoạt động gây xáo trộn xã hội bằng đủ loại
khủng bố, gây áp lực tâm lý và buộc những người yếu bóng vía phải chấp
nhận đứng vào hàng ngũ của chúng. Giai đoạn này được coi như nhằm tạo ra
hai bàn chân để đưa "cách mạng" đi tới mục đích sau cùng. Khi đã cướp
được chính quyền thì thành phần đảng viên trí thức sẽ bị loại dần ra
khỏi những vị trí, chức vụ quan trọng trong cơ cấu tổ chức đảng, tệ hại
hơn có thể bị thanh trừng, tù đày, thủ tiêu v.v. với cả ngàn lý do mà
bọn vô lại ở chóp bu đưa ra. Sau đó là việc thành lập công an, mật vụ,
tuyên-giáo v.v. để theo dõi và trấn áp những bất mãn, chống đối từ trong
nội bộ ra ngoài xã hội, gọi là an ninh (chính trị). Tiếp theo là hình
thành nên lực lượng vũ trang (quân sự) để tăng thêm sức mạnh cho đảng và
cũng để răn đe đối phương bên ngoài biên giới. Hai cấu trúc sau cùng
được xem như hai cánh tay thép để bảo vệ sự tồn tại của đảng. Và luôn
luôn nhớ rằng, chỉ có thành phần hạ cấp, vô học, tàn nhẫn, trung thành
nhất mới lọt được vô nơi cao nhất trong đảng là "bộ chính trị". Còn lớp
đảng viên tầm thường mới vào đảng, "quần chúng", trí thức v.v. luôn bị
"cái đầu" ở trên coi như hai bàn chân bên dưới, bọn vô lại ở chóp bu lợi
dụng vào đó để đưa "đảng" đi tiếp trên con đường độc quyền thống trị mà
thôi! Xin thử hỏi những vị trí thức, khoa bảng người Việt ở hải ngoại
lâu nay đang giao du với Việt Cộng: "Đối với lớp trí thức gốc đảng viên
từng theo họ từ ngày lập đảng, hoặc được đào tạo ngay tại những ngôi
trường do chúng lập ra, những kẻ đó còn bị chúng coi rẻ như vậy thì quý
vị, những người có bằng cấp ở ngoại quốc và cũng chưa từng nếm mùi "nội
bộ" đảng thì họ khinh rẻ quý vị đến mức nào"? "Bị coi khinh và nghi ngờ
như vậy, làm sao thiện chí (nếu có) của quý vị thực sự giúp được nỗi
thống khổ của đồng bào"? "Quý vị nào biết cộng sản tàn độc đến mức chúng
ngó lơ hết tất cả các khổ đau của xã hội, từ thiên tai, dịch bệnh, đói
nghèo v.v. Vì sao chúng không quan tâm? Bởi cộng sản biết rõ sẽ có quý
vị lo giùm điều đó cho họ, vì tình cảm con người xuất thân những nơi dư
ăn, dư mặc khó thể quay lưng trước thảm cảnh đó của đồng bào. Còn đảng
cộng sản thì sao? Xin đừng hỏi điều nhân nghĩa và đạo đức với một bọn vô
lại, hạ cấp, vốn xuất thân từ cặn bã của xã hội và đang ở tột đỉnh của
quyền lực"! Đây là một đòn cân não mà Việt Cộng đã đánh trúng vào điểm
yếu nhất của người Việt Nam lưu vong hiện nay trong vấn đề tình nghĩa,
máu chảy ruột mềm. Bởi vậy bọn lưu manh mới nhởn nhơ tại vị, ngồi trên
đầu cả một dân tộc và được kẻ yếu lòng cho không mỗi năm cả chục tỷ đô
la.
Những người nghiên cứu về Karl H. Marx; Friedrich Angels thường dành
nhiều nhất thời gian để tìm hiểu về bộ sách đồ sộ là "Tư Bản Luận".
Những ai càng chú tâm vào đó thì càng lún sâu vào âm mưu lừa bịp của một
bọn lưu manh đã mướn Karl H. Marx viết ra bộ sách đó. Nội dung của nó
đưọc sắp đặt rất công phu, cùng với những phân tích, con số, nhận xét
rất hợp lý về nền kinh tế (nói chung) của "tư bản" vào thời kỳ mà giai
đoạn "cách mạng kỹ nghệ" mới bộc phát. Trong thực tế câu trả lời đích
thực về mục đích của bộ sách ấy là gì? Xin lập lại là không có gì cả,
chỉ là sự dàn dựng bằng một rừng chữ nghĩa rất uyên thâm, mục đích của
nó là hớp hồn giới trí thức, làm cho họ phải say mê nghiên cứu và hy
vọng đem áp dụng vào cuộc sống nhưng rồi... tất cả chỉ là ảo tưởng, là
màn lừa bịp tinh vi nhất bằng sách vở. Vậy ai là kẻ bỏ tiền ra mướn K.
Marx ngồi viết nên "tác phẩm" lừa đảo đó? Xin thưa. Đó là một hội kín có
tên Hội Cộng Sản (the Communist League), và cái hội cộng sản đó lại mới
đổi tên từ một hội bí mật có tên là Hội Của Những Người Công Chính (the
League of Just Men), chưa hết, cái hội "công chính" đó chỉ là một trong
nhiều cái nhánh của... một cành cây lớn hơn có tên là Hội Dân Ba Lê
Ngoài Pháp Luật (the Parisian Outlaws League). Vậy làm sao biết được
"cái cây" đó? Xin thưa. Chúng tôi sẽ đưa bạn đọc đi xa hơn, tìm về một
con người, là đầu mối gây ra thảm họa cộng sản cho nhân loại. Nhân vật
này đã viết ra các nền tảng ban đầu về cộng sản. Tất cả chỉ vì lòng hận
thù đối với giáo hội Công Giáo, mà mục tiêu là Đức Giáo Hoàng. Con người
này không ít thì nhiều cũng đã một thời làm điêu đứng cả tòa thánh
Vatican, và những bậc thầy của ông ta trước đó cũng gây tai tiếng khá
nhiều cho giáo hội Công Giáo. Để tìm hiểu tường tận hơn, chúng tôi sẽ
đưa bạn đọc đi ngược thời gian đến năm 1540, là năm mà Đức Giáo Hoàng
Paul Đệ III cho phép sự thành lập một dòng tu, nhưng ngài không ngờ,
chính dòng tu này là đầu mối tạo ra mầm mống cộng sản gần 200 năm sau
đó. Phải chăng đây là một thử thách đớn đau mà Thượng Đế dành cho giáo
hội Công Giáo La Mã trước các quyền lực của ma quỷ đang có mặt khắp trần
gian?
Chúng tôi khi đưa ra bài biên khảo này, trước hết chỉ mong muốn giúp bạn
đọc nói chung, giới trí thức thiếu trách nhiệm trước sự tồn vong của tổ
quốc nói riêng, có thêm chút hiểu biết rõ ràng hơn về các mưu kế hèn hạ
và nham hiểm của cộng sản, nhất là loại cộng sản cặn bã, rác rến như bọn
vô lại đang chiếm đoạt quê hương chúng ta. Tuy nhiên, vì vấn đề tế nhị
của bản biên khảo, nội dung có nói đến sự sa ngã của các tu sĩ trong một
giai đoạn lịch sử, chúng tôi đã liên lạc và trình bày riêng với các vị
đàn anh Biệt Động Quân để xin ý kiến, nhất là những vị Ki Tô hữu trong
binh chủng. Quyết định sau cùng của các đàn anh là chấp nhận cho đăng
bài biên khảo này trên diễn đàn Biệt Động Quân. Dù sao, chúng ta cũng
không thể che giấu được sự thật của lịch sử, hơn nữa đây là vấn đề có
liên đới đến công cuộc đấu tranh chung của chúng ta trước một quê hương
đang còn bị ngã nghiêng vì cộng sản.
Chúng tôi mong rằng trong bạn đọc sẽ không có người lợi dụng các chi
tiết, sự kiện v.v. hay cắt xén nội dung của biên khảo này cho mục đích
chia rẽ tôn giáo. Là một người Việt Nam, chúng ta đều biết hành động gây
rẽ chia giữa các tôn giáo là một tội ác mà truyền thống đạo nghĩa của
dân tộc không bao giờ chấp nhận. Quý vị có quyền trích dẫn cho mục đích
học thuật, nghiên cứu hoặc sáng tác và xin ghi rõ nguồn trích dẫn.
Xin cảm tạ những ý kiến thiết thực, những tài liệu bổ xung đến từ nhiều
đàn anh Biệt Động Quân để biên khảo này được hoàn tất.
Thay mặt nhóm biên soạn.
BĐQ Đỗ Như Quyên.
"Biện chứng pháp Mác xít là phương pháp làm
cho một tên đần độn ăn nói như một nhà thông thái"...
(... "The Marxian dialectics is a method which enable an idiot to sound
extremely clever"...)
(Arthur Koestler (1905-1983), trích từ
"The Invisible Writing", Second Volume..., 1932-1940).
![]()
MỤC LỤC
01. 236 NĂM TRƯỚC KHI TƯ TƯỞNG "QUỐC TẾ CỘNG SẢN" RA ĐỜI.
02. SỰ THAI NGHÉN BAN ĐẦU CỦA CÁI QUÁI THAI CỘNG SẢN.
03. "CỘNG SẢN Ở VIỆT NAM LÀ AI? LÀ MỘT HỘI KÍN ĐÃ CHIẾM TRỌN MỘT QUỐC
GIA"!
04. MỘT CÁI NHÌN KHÁI QUÁT VỀ HỘI KÍN Ở ÂU CHÂU THỜI TRUNG CỔ.
05. SỰ RA ĐỜI CỦA QUÁI VẬT QUỐC TẾ CỘNG SẢN.
06. KẾT LUẬN.
![]()
QUỐC TẾ
CỘNG SẢN VÀ CỘNG SẢN QUỐC TẾ
Phần:
01
| 02 |
03 | 04 | 05
| 06 |
Đầu trang
01. 236 NĂM TRƯỚC KHI TƯ TƯỞNG "QUỐC
TẾ CỘNG SẢN" RA ĐỜI.
Ngày 27/9/1540: Trước sự hoang mang của cộng đồng Ki Tô hữu khắp Âu Châu
vì sự chỉ trích và nhạo báng của giới trí thức cùng những tu sĩ phản
đạo, để cứu vãn danh dự của tòa thánh và phục hồi đức tin, Đức Giáo
Hoàng Paul III (29/2/1468 - 10/11/1549) thuận cho phép một tu sĩ là ông
Inigo Lopez de Onaz y Loyola (24/12/1491 - 31/7/1556) thành lập một dòng
tu có danh xưng là Dòng Giêsu (Societas Jesu, dòng tu này còn được gọi
bằng những tên khác trong tiếng Anh như Society of Jesus; Company of
Jesus v.v., riêng Giáo Hội Công Giáo Việt Nam thì chính thức gọi là Dòng
Tên, kể từ đoạn này, chúng tôi sẽ gọi là Dòng Tên như đã biết. Ông Inigo
Lopez de Onaz y Loyola còn được biết là Ignatus of Loyola; Pedro de
Arrupe y Gondra, ông được phong thánh vào ngày 12/3/1622).
(Dòng Tên được lập ra theo sáng ý của ông Inigo.L.O. Loyola nhằm giữ uy
tín cho giáo hội, cũng như tăng thêm kỷ cương giềng mối của giáo luật.
Lúc bấy giờ có không ít các tu sĩ mang tư tưởng cấp tiến, họ muốn thoát
ra khỏi nhiều giáo điều nghiêm khắc được thiết lập từ thời đầu trung cổ
mà tới lúc đó vẫn còn duy trì dù xã hội Âu Châu đã có nhiều thay đổi.
Một biến cố gây chấn động khắp trời Âu là sự kiện ông Christopher
Columbus (1451-1506) tìm đến được một vùng đất mới (Mỹ Châu) ngày
21/10/1492 (có vài sách ghi sai thành ngày 12/10). Ông này quay trở lại
Tây Ban Nha báo tin làm dân Âu Châu sững sờ và dư luận nóng lên như cơn
sốt. Những giáo dân ngoan đạo chỉ còn biết cúi đầu cầu nguyện và chờ tòa
thánh đưa ra câu trả lời cho câu hỏi nhức nhối: "Nếu thánh kinh đúng
tuyệt đối thì "ai" là người đã tạo ra giống dân nơi vùng đất mới tìm
được"?
Năm 1517, một biến cố khác cũng làm tòa thánh Vatican điêu đứng khi linh
mục Martin Luther (10/11/1483 - 18/2/1546) đã lập ra giáo phái Cải Cách
(Tin Lành) sau khi đưa ra 95 điều để kết án giáo hội và các giáo hoàng
vướng quá sâu vào trần tục. Kết quả sau biến cố Martin Luther là sự rạn
nứt, chia rẽ trầm trọng đã xảy ra ngay bên trong tòa thánh và nhiều xứ
đạo cấp quốc gia đã vĩnh viễn quay lưng với giáo hội.
Năm 1527, triều đình đế quốc Tây Ban Nha ngang nhiên đưa một hải đội đến
cướp phá vùng La Mã (Rome) và ngay cả đồi Vatican. Điều này nói lên uy
tín của hội thánh đã giảm sút thật nhiều. Những vương triều trước kia
vốn kính cẩn thần phục nay đã bắt đầu chỉ trích tòa thánh quá cứng ngắc,
khư khư giữ những điều luật không còn hợp thời trước một xã hội có lắm
sự đổi thay. Những sự kiện vừa nêu, là vài trong nhiều nguyên nhân đưa
đến sự ra đời của Dòng Tên.
Xấp hồ sơ dày cộm về tổ chức, lề luật, hoạt động v.v. của Dòng Tên do
ông Inigo. L. O. Loyola biên soạn được trình lên giáo hoàng. Sau khi đọc
và xét duyệt, Đức Giáo Hoàng Paul Đệ III chính thức cho đặt tên hồ sơ
này bằng ba chữ la tinh là "Regimini Militantis Fcclesiae" (Chiến Quân
Tu Sĩ Nhà Thờ). Dòng Tên ngày đầu sáng lập chỉ có 60 tu sĩ, mặc áo chùng
đen, có một đời sống tu hành rất khắc khổ, người thường khó thể chịu
đựng nổi. Tuy nhiên, các tu sĩ của Dòng Tên từ các vị khởi lập đến những
vị sau này hầu hết đều là những người có một trình độ học thức rất cao,
kiến thức uyên bác trong nhiều lĩnh vực, từ thần học, triết học, sử học
cho tới thiên văn, toán học v.v. Nói gọn hơn, mỗi tu sĩ của Dòng Tên là
một học giả tinh thông nhiều vấn đề trong xã hội. Nhìn bên ngoài, những
tu sĩ Dòng Tên cũng giống như bao tu sĩ của dòng tu khác. Chăm lo việc
giữ gìn đạo hạnh, nghiên cứu kinh, sách, làm điều phước thiện v.v. Nhưng
than ơi! Tất cả mọi người đều lầm. Kể cả Giáo Hoàng Paul III ban đầu
cũng bị lầm! Ông Inigo L. O. Loyola cũng vì đức tin quá mãnh liệt, mang
niềm tin muốn duy trì danh dự của hội thánh cũng quá nhiệt thành nên ông
đã bí mật cho lập ra bên trong Dòng Tên một tổ chức tựa như hội kín có
tên là Thông Tuệ (the Alumbrados, đồng nghĩa với Sáng Ngộ; Sáng Tuệ...
tựa như sự được mở mắt trong tâm thức). Chính cái cơ cấu nhỏ bé và bí
mật ấy mới là trái tim của Dòng Tên, là nơi nghiên cứu, soạn thảo, quyết
định hết tất cả các hoạt động của dòng tu khổ hạnh này. Hơn nữa, không
phải tất cả các tu sĩ của Dòng Tên đều biết đến sự tồn tại của nó. Chỉ
trừ giáo hoàng, vài tu sĩ ưu tú thuộc hàng cao cấp nhất trong dòng, và
vài người "có chí lớn" ngoài xã hội mới được phép biết mà thôi! Chỉ
trong vòng 10 năm sau ngày được lập ra, Dòng Tên đã phát triển thật
nhanh như vệt dầu loang. Uy tín lẫn ảnh hưởng của dòng lan tỏa khắp chốn
ở Âu Châu, và đồng thời cũng gây sóng gió tứ bề cùng với sự lớn mạnh của
nó. Màu áo chùng đen của các tu sĩ Dòng Tên thấp thoáng khắp nơi, từ
những trung tâm nuôi trẻ em mồ côi, kẻ tật nguyền, những cụ già cô độc
v.v. cho tới bên trong chốn cung đình của các vương triều tại Âu Châu.
Tu sĩ Dòng Tên cũng xông pha đi theo những con tàu thám hiểm vượt đại
dương đầy bất trắc, kể cả tàu buôn, chiến thuyền để tới các vùng đất xa
xăm mà người dân Âu Châu chưa từng nghe nói đến... như vương quốc Đại
Việt chẳng hạn, nơi thời Nhà Hậu Lê (1428-1788) ông Inigo L. O. Loyola
đã ghé thăm vào năm 1553. Một tu sĩ khác của Dòng Tên cũng đến Đại Việt
năm 1619 là ông Alexandre de Rhodes (1591-1660), ông tới vương quốc này
gặp lúc các chúa Nguyễn (Nam), chúa Trịnh (Bắc) sắp đưa sông núi nước
Nam vào 148 năm máu lửa (Nam-Bắc Phân Tranh Lần I, 1627-1775). Tại Âu
Châu, tu sĩ Dòng Tên đã thao túng quyền chính của nhiều vương triều. Họ
theo dõi để tìm xem ông vua nào dám ương ngạnh với giáo hoàng, nếu tìm
ra bằng cớ họ sẽ lập kế hoạch lật đổ ông vua "cứng đầu" đó, đưa lên ngai
vàng những vị vua tỏ ra biết phục thiện với giáo hội. Tu sĩ Dòng Tên bắt
đầu đi vào con đường của sự cám dỗ, sa ngã khi họ làm luôn cả nghề đi
buôn, kể cả buôn... lậu, cho vay tiền, mua bán đất đai, hối lộ quan
chức, làm gián điệp, bắt người tra khảo v.v. Họ đã khởi sự gieo rắc một
nỗi kinh hoàng, mối sợ hãi lan rộng khắp chốn của xã hội Âu Châu. Tiếng
oán than, trách móc của dư luận bắt đầu vang vọng, dân chúng lén lút gọi
tu sĩ Dòng Tên là "Jesuit" với nghĩa xấu xa. Sau cùng, các việc làm lộng
hành đó cùng sự oán trách của dân chúng rồi cũng tràn ngập khắp lối của
Rome. Trước khi tòa thánh Vatican thẳng tay vung lên lằn roi sắt để
trừng phạt, các nước ở Âu Châu tự ý đưa ra các biện pháp để đối phó).
Kể từ tháng 4/1759 đến cuối năm 1761: Tất cả các tu sĩ của Dòng Tên ở Bồ
Đào Nha bị triều đình nước này ra lệnh lùng bắt. Nhà thờ, nhà ở, nhà
phước, trường học v.v. của dòng tu ấy đều bị đóng cửa hay tịch thu vĩnh
viễn. Hải quân Bồ Đào Nha tập trung hơn 2,000 tu sĩ Dòng Tên, sau đó chở
họ thẳng đến bờ biển nước Ý Đại Lợi rồi đuổi hết lên bờ.
Ngày 6/8/1762: Triều đình Pháp tuyên bố: "Vì hạnh phúc và sự yên bình
của nước Pháp. Yêu cầu (bắt buộc) tất cả tu sĩ Dòng Tên phải mau chóng
rời khỏi lãnh thổ". Ngay sau đó, Pháp ra lệnh đóng cửa toàn bộ các cơ
sở, bao gồm trường học của Dòng Tên, rồi cho đem hết những loại sách vở
của họ ra đường và đốt cháy rụi. Tính từ năm 1762 đến 1764, có hơn 3,000
tu sĩ Dòng Tên trốn khỏi nước Pháp đi lánh nạn nơi khác.
Ngày 31/3/1767: Tất cả các nơi làm việc hoặc ăn ở của Dòng Tên tại Tây
Ban Nha đều bị triều đình đưa lính tới bao vây chặt chẽ. Toàn bộ cửa nẻo
đều bị đóng kín và tu sĩ bị cấm bước ra ngoài. Nửa đêm ngày 2 rạng ngày
3/4/1767, toàn bộ các tu sĩ Dòng Tên khắp lãnh thổ Tây Ban Nha cũng như
tại các thuộc địa của đế quốc này đều bị bắt giữ tại chỗ. Hải quân Tây
Ban Nha đã huy động một hạm đội, chở tất cả hơn 6,000 tu sĩ Dòng Tên
thẳng tới bờ biển Ý Đại Lợi rồi đuổi hết lên bờ và họ gọi hành động đó
là: "Trả lại cho thượng đế món quà không nên có"! Thảm thương thay!
Trong số đó có nhiều người bị chết vì đói, những tu sĩ già yếu chết vì
bệnh hoặc không lết nổi do bị giam kín quá lâu dưới hầm tàu. Có nhiều tu
sĩ mang thương tích nặng nề vì bị đánh đập bằng roi da, hoặc do bị đâm
bằng mũi giáo của quan binh Tây Ban Nha. Các tu sĩ quần áo rách nát, máu
me đầy người, nghiêng ngả xiêu vẹo dìu nhau bước lên những bãi cát nóng
cháy hoặc các ghềnh đá sắc bén giữa tiếng la ó, chửi bới hay cười đùa
đầy độc ác của quan binh trên tàu. Những hình ảnh nêu trên chỉ là một
trong hàng trăm thảm cảnh khác mà các tu sĩ của Dòng Tên phải gánh chịu.
Họ còn bị đẩy hàng loạt xuống giữa biển khơi, bị trói chân, tay hay cột
đá rồi ném xuống nước, bị chém đầu, treo cổ hoặc thiêu sống. Tu sĩ Dòng
Tên đã bị chết trong đớn đau tức tưởi không những chỉ tại Châu Âu, mà
còn ở các thuộc địa của bọn đế quốc nơi Phi Châu; Mỹ Châu. Họ còn bị
truy sát ở Gia Nã Đại; Nhật Bản; Đại Hàn; Trung Hoa; Ấn Độ... và ngay cả
trên quê hương Việt Nam của chúng ta. Nói tóm lại, ở đâu có dấu chân của
các tu sĩ Dòng Tên thì ở đó đất cũng thấm máu của họ. Kẻ thù của dòng tu
này đã độc ác đổ vấy lên đầu họ mọi thứ xấu xa, ti tiện nhất vì bị đụng
chạm đến quyền lợi. Chúng sợ bị nhân loại khám phá ra những tội ác tày
trời, những lối sống trụy lạc phía sau cánh cửa của những vương triều
phong kiến sắp hết thời.
Ngày 2/2/1769: Đức Giáo Hoàng Clement XIII (7/3/1693) qua đời. Trước khi
các hồng y sắp bước vào phòng kín để bầu giáo hoàng mới thì các đại sứ
tại Vatican của những đế quốc như Pháp; Tây Ban Nha; Bồ Đào Nha đã nói
thẳng với các hồng y rằng: ... "chúng tôi chỉ công nhận một giáo hoàng
không dính dáng chi tới Dòng Tên".... Lời nói sỗ sàng ấy chỉ có mỗi Hồng
Y Lorenzo Ganganelli (31/10/1705 - 22/9/1774) gượng gạo tán thành. Kết
quả sau cuộc bầu kín thì vị hồng y đó được bầu chọn và trở thành Giáo
Hoàng Clement XIV.
Năm 1772: Giáo Hoàng Clement XIV bắt đầu cho lần lượt đóng cửa các
trường học của Dòng Tên. Sau đó đến những nhà thờ của dòng tu này cũng
bị đóng cửa. Lệnh này chỉ áp dụng trên lãnh thổ Ý Đại Lợi mà thôi.
Ngày 21/7/1773: Dòng Tên chính thức bị giải tán bởi một Giáo Lệnh
(Dominus ac Redemtor) của Giáo Hoàng Clement XIV. Khi nghe tin này, các
đế quốc như Pháp; Tây Ban Nha; Bồ Đào Nha; Áo mừng ra mặt nhưng cũng có
ba đế quốc là Anh; Nga; Phổ (Prussia, sau là Đức) ra mặt chống lại giáo
lệnh này. Cả ba nước chống lệnh giáo hoàng còn thách thức Vatican bằng
cách tuyên bố mở rộng cửa biên giới, sẵn sàng đón nhận các tu sĩ Dòng
Tên nào muốn đến sống ở nước họ.
Vậy là có hàng ngàn tu sĩ Dòng Tên đang bị xua đuổi lũ lượt kéo đến
nương náu tại ba nước đó. Riêng những người không thể đi được vì bận bịu
chăm sóc người nghèơ ở các bệnh viện (do họ lập nên), hoặc không nỡ bỏ
rơi hàng chục ngàn trẻ em mồ côi sẽ bị bỏ đói v.v. nên số tu sĩ này vẫn
ở nguyên tại chỗ. Và để yên phận trước bọn quan lại ở địa phương, cũng
như được duy trì công việc cứu người, họ lập ra một số hội mới. Những
hội này tuy nhỏ và ít ồn ào hơn, nhưng dù sao cũng có nơi gặp mặt, tập
trung cầu nguyện và chờ... phép lạ. Đó là các hội tiêu biểu như Hội
Thánh Tâm Của Chúa Jesus (the Society of the Sacred Heart of Jesus); Hội
Những Người Cha Của Đức Tin (the Society of Fathers of the Faith); Hội
Đức Tin Của Chúa Jesus (the Society of the Faith of Jesus) v.v. Riêng ở
Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha, có rất nhiều hội nhỏ được lập ra vì đường đến
Anh; Nga; Phổ hơi xa và nhiều tốn kém (Hơn 41 năm sau, vào ngày 7/8/1814
Đức Giáo Hoàng Pius VII đã ký lệnh cho phép Dòng Tên được tái lập với đủ
các quyền mà dòng tu này từng có trước kia. Khi hay tin sự hoạt động trở
lại của Dòng Tên, sóng gió đã ầm ầm nổi lên nhiều nơi tại Âu Châu để
phản đối và chỉ trích tòa thánh Vatican tơi bời. Phần đông những kẻ
chống lại quyết định này là các ông hoàng, bà chúa, lớp quý tộc, địa chủ
giàu có và dĩ nhiên không thể thiếu các trí thức, triết gia, giáo sư
thần học, linh mục, giám mục, chủ nhà băng, tài phiệt kỹ nghệ v.v. Số
chống đối này tự xưng là "Người Bên Này Núi" (Cis-Montanes), tức phía
Bắc dãy núi Alps. Còn phe ở phía Nam núi Alps thì bị họ gọi là "Kẻ Bên
Kia Núi" (Ultra-Montanes) gồm các nước thường trung thành với tòa thánh
như Ý Đại Lợi; Hy Lạp; Nam Tư v.v. Sau khi được cho hoạt động trở lại,
các tu sĩ Dòng Tên liền xông xáo, hăng say hoạt động còn hơn cả trước
kia. Thế là quyền lợi của vương quyền lại bị đụng chạm. Kẻ thù của Dòng
Tên lại có cớ kết án Vatican đã cố tình che chở và dung túng "đứa con hư
hỏng" của mình. Nhiều năm sau đó nữa, vài tu sĩ Dòng Tên lại gây thêm
tai tiếng khi họ trực tiếp giúp đỡ cho các phòng trào cộng sản tại Châu
Phi và Trung-Nam Châu Mỹ. Trước những bằng cớ rành rành khó lòng chối
cãi, ngày 28/2/1982, đích thân Giáo Hoàng John Paul II (18/5/1920 -
2/4/2005) phải công khai lên tiếng cảnh cáo các tu sĩ Dòng Tên nên tránh
xa các hoạt động chính trị, nên tôn trọng truyền thống đạo lý của giáo
hội Công Giáo. Nhưng đó là những chuyện sau này, chúng ta hãy trở lại
vào thời điểm sau năm 1773).
![]()
QUỐC TẾ
CỘNG SẢN VÀ CỘNG SẢN QUỐC TẾ
Phần:
01
|
02 |
03 | 04 | 05
| 06 |
Đầu trang
02. SỰ THAI NGHÉN BAN ĐẦU CỦA CÁI
QUÁI THAI CỘNG SẢN.
Ngày 1/5/1776: Một tu sĩ cũ của Dòng Tên, nguyên giáo sư dạy môn Giáo
Luật (Canon Law) tại trường đại học Ingolstadt University ở tỉnh Bavaria
thuộc đế quốc Phổ, ông Adam Weishaupt (7/2/1748 - 18/11/1830) đã thành
lập một hội kín có tên Sáng Tuệ (Illuminati, chữ này đồng nghĩa với chữ
Alumbrados mà người sáng lập Dòng Tên là ông Inigo. L. O. Loyola trước
kia đã dùng để lập một hội kín bên trong dòng tu đó). Hội kín Sáng Tuệ
còn được biết dưới một tên khác là Toàn Bích (Perfectibilist, tuyệt hảo
hoàn toàn, không tì vết, không khuyết điểm). Khi lập Hội Sáng Tuệ, ông
này đã mang trong lòng một mối hận thù sâu thẳm đối với giáo hội Công
Giáo nói chung, đối với những người chủ chăn của tòa thánh Vatican nói
riêng, vì ông ta không thể tha thứ chuyện Giáo Hoàng Clement XIV ra lệnh
giải tán Dòng Tên vào năm 1773. Hơn thế nữa, ông ta còn thề không đội
trời chung với tất cả các triều đại vương quyền lúc đó, bởi đã dám coi
các tu sĩ Dòng Tên như những kẻ thù. Để nói rõ lòng mình, ông Adam
Weishaupt lấy bí danh Spartacus (? - 71 BC), là tên một người nô lệ làm
nghề giác đấu (gladiator) từng bỏ trốn rồi mộ quân đánh với đế quốc La
Mã gần 3 năm (từ 73 tới 71 trước lịch Tây). Hội Sáng Tuệ có một bản
cương lĩnh hoạt động rất mới lạ, phải nói là rất hấp dẫn nếu so với hàng
trăm hội kín khác đang hoạt động tại Âu Châu vào lúc ấy. Vì vậy hội của
ông đã mau chóng thu hút nhiều người. Hội viên (bí mật) tăng lên ào ào,
nhiều nhất là giới quý tộc hết thời, tu sĩ bị đuổi khỏi nhà thờ, giáo
sư, triết gia, khoa học gia, chủ nhà băng, kỹ nghệ gia v.v. và kể cả bọn
du thủ du thực, đâm thuê chém mướn, bọn cơ hội, bọn sẵn sàng đi ám sát,
khủng bố nếu được trả tiền.
Cương lĩnh chính yếu của Hội Sáng Tuệ có 6 điểm quan trọng như sau:
(1): Lật đổ hết tất cả các triều
đại quân chủ trên toàn cầu. Trấn áp hết các hình thức chính phủ nào khác
nếu có trong tương lai (Vô chính phủ).
(2): Tước bỏ quyền làm chủ đất đai và những gì có trên mặt đất của người
dân (Vô tài sản, chống tư hữu).
(3): Bỏ luôn quyền thừa kế gia tài (Vô đạo đức).
(4): Cấm tiệt lòng yêu thương quê hương đất nước của riêng mình, xóa bỏ
những khái niệm về quốc gia, dân tộc (Vô tổ quốc).
(5): Thiết lập một nền giáo dục chung cho trẻ em (tuyên truyền. Vô văn
hóa), dẹp luôn sự tôn kính trong gia đình, cấm hẳn vấn đề lễ lạc, cưới
hỏi (Vô gia đình).
(6): Xóa bỏ hết tất cả các thứ tín ngưỡng, tôn giáo đang có trên thế
giới (Vô tôn giáo).
Biểu tượng của hội kín Sáng Tuệ là hình tam giác không có đỉnh nhọn,
thay vào điểm đỉnh đó là con mắt tỏa sáng, nghĩa như trên cao thấy hết,
biết hết tất cả.
Tháp có 13 tầng (xin bạn đọc lưu ý đến con số 13, cũng như con số 9) đếm
từ dưới lên, chi tiết này cho biết rằng đó là 13 đẳng cấp trong nội bộ
của hội kín Sáng Tuệ.
Nếu đếm số đá trong tháp thì tổng số là 72 viên (kết số của 9). Đáy tháp
rộng, càng lên cao càng nhỏ lần có nghĩa hội viên cấp thấp càng đông thì
nền tảng của tổ chức càng vững chắc và không thể thấy hoặc biết những gì
ở cấp cao hơn bên trên, và hội viên ở cấp cao hơn tuy ít nhưng là đầu
não, nhìn xuống thấy hết tất cả mọi sự.
Ngay phía trên tháp là hình một con mắt mở lớn nằm trong một hình tam
giác đang tỏa sáng, có nghĩa lãnh đạo tối cao thông suốt hết mọi sự
nhưng công việc vẫn chưa hoàn tất. Hàng đá dưới cùng của tháp khắc 9 chữ
số La Mã gồm: MDCCLXXVI (là con số 1776, năm lập hội kín Sáng Tuệ, cũng
là năm chúng lập ra nước Mỹ với 13 tiểu bang, sẽ nói kỹ hơn ở trang kế
tiếp). Phía trên tháp là hai hàng chữ la tinh có tổng số 13 chữ cái:
ANNUIT COEPTIS, có nhiều nghĩa như: người khởi đầu mọi sự, sự tuyên bố,
sự ra đời, sự kết tụ dũng cảm (của phe nhóm, bè đảng v.v)... nhưng cách
hiểu đúng nhất là "Tuyên Bố Sự Ra Đời". Vòng quanh dưới tháp có hàng chữ
la tinh: NOVUS ORDO SECLORUM, Trật Tự Mới Của Thời Đại (dịch qua tiếng
Anh thì có đúng 13 chữ cái là: New World Order, Trật Tự Mới Của Thế
Giới). Bây giờ lại gom hết hai câu trên - dưới quanh cái tháp rồi dịch
sang tiếng Anh sẽ có đúng 36 (9) chữ cái của câu: ANNOUNCING THE BIRTH
OF THE NEW WORLD ORDER, Tuyên Bố Sự Ra Đời Của Trật Tự Mới Thế Giới. Dễ
sợ chưa! "Qua Mỹ - Qủy Ma"... nó đã sắp đặt trước hết cả rồi! Nhưng chưa
hết đâu. Vẫn còn dài dài các mật mã trên hai mặt của tờ giấy bạc...
nghĩa bạc bạc... tình đó (Xin tiết lộ thêm cho hai giới "Công-Nông" ở
mấy nước "xã hội chủ nghĩa" biết thêm chuyện này: Các đảng cộng sản
thường to mồm nói họ ăn mừng ngày lễ "Quốc Tế Lao Động" vào ngày 1 tháng
5. Thật ra chúng nó ăn mừng ngày sinh nhật "môn phái" chúng nó ra đời là
hội kín Sáng Tuệ, ngày 1/5/1776 đó bà con ạ!).
Trong năm 1777: Ông Adam Weishaupt được Tổng Bộ hội kín Thợ Đá Tự Do
(the Free Mason) ở thành phố Munich thuộc Phổ chính thức mời gia nhập,
ông này được ưu ái trao ngay một vị trí rất cao trong hội kín này (chữ
Free Mason còn được hiểu là Thợ Xây, Thợ Hồ Tự Do, nguồn gốc của hội
xuất phát từ Ai Cập cách nay hơn 4,000 năm. Gần 2,000 năm sau đó, đế
quốc Hy lạp xâm chiếm Ai Cập rồi thừa hưởng trọn vẹn các bí mật của hội
này. Sau cùng, đế quốc La Mã chiếm gọn hết và vẫn duy trì sự hoạt động
bí mật của hội kín này cho tới hôm nay. Bởi vậy xin bạn đọc khắp năm
châu đừng ngạc nhiên khi thấy các công thự của "chú phỉnh"... à quên...
"chính phủ" Mỹ xây ở thủ đô họ đều giống y chang các kiến trúc cổ của đế
quốc La Mã. Riêng hai chữ "tổng bộ" và "chi bộ", chúng tôi dịch từ chữ
"grand lodge" và "lodge").
Kính thưa bạn đọc,
Để giúp cho quý vị mau chóng hiểu rõ hơn mục đích của bài biên khảo này.
Chúng tôi tạm cắt ngang sự hoạt động tiếp ở các năm sau đó của hội kín
Sáng Tuệ, tạm thời đưa bạn đọc vô ngay phần nói thêm các bí ẩn mà hội
kín giấu trên tờ 1 đô la Mỹ. Qua phần này, các bạn sẽ thấy rõ hơn về
chân tướng thật sự của "chính phủ" Mỹ, sẽ hiểu thấu đáo hơn về sự "khác
nhau nhưng giống nhau" giữa quốc tế cộng sản (trước kia) và cộng sản
quốc tế (hiện nay). Bên cạnh đó, người đọc cũng sẽ biết thêm phần nào
"ai" mới là kẻ thực sự điều khiển chính trường quốc gia này. Thế sự đảo
điên điên đảo, thấy vậy mà không phải vậy. Chúng tôi chỉ hy vọng vào sự
nhận thức từ trái tim và khối óc của các bạn mà thôi.
Ngày 10/6/1782, Liên Bang Mỹ: Quốc hội nước này nhóm họp để chọn lựa và
thông qua quyết định chọn quốc huy chính thức cho liên bang. Lợi dụng
thời điểm này, có bốn người đề nghị nên chọn cái tháp và con mắt (của
hội kín Sáng Tuệ) làm quốc huy phụ thứ hai. Bốn vị đó là các ông: John
Adam (30/10/1735 - 4/7/1862), Đại Diện Ngoại Giao Liên Bang Mỹ tại Âu
Châu (1778-1788, ông này trong bí mật là hội viên cao cấp của hội kín
Thợ Đá Tự Do); Thomas Jefferson (13/4/1743 - 4/7/1826), cựu Thống Đốc
tiểu bang Virginia (1779-1781, cũng thuộc hội Thợ Đá Tự Do); Benjamin
Franklin (17/1/1706 - 17/4/1790), cựu Phó Tổng Quản Đốc Bưu Cục Thuộc
Địa (thời còn Anh), Đại Diện Ngoại Giao Liên Bang Mỹ ở Âu Châu
(1778-1780, hội Thợ Đá Tự Do); Alexander Hamilton (11/1/1757 -
12/7/1804), Đại Tá, Phụ Tá Tham Mưu cho Tổng Tư Lệnh Quân Đội Đại Lục
(the Continental Army), hội Thợ Đá Tự Do (Tổng Tư Lệnh Quân Đội Đại Lục
là ông George Washington (22/2/1732 - 14/12/1799), là một hội viên cao
cấp của hội kín Thợ Đá Tự Do, sau thành tổng thống thứ nhất (1789 -
1797) của Liên Bang Mỹ).
Đại Quốc Huy Liên Bang Mỹ (the Great Seal of the United States of
America) được "họa" ra bởi hai hội viên cao cấp của hội kín Thợ Đá Tự Do
là ông Charles Thomson (29/11/1792 - 16/8/1824) và ông William Barton
(11/4/1754 - 21/10/1817). Ban đầu, quốc huy Mỹ là hình một chim Phượng
Hoàng ngồi trên một cái tổ rực lửa. Ở phía trên đầu chim có 13 ngôi sao
(đừng tưởng bở như họ nói là biểu tượng của 13 tiểu bang buổi đầu, lúc
đó họ có thể chia đất lập ra 12, 14, hoặc 15 tiểu bang cũng được. Hà cớ
chi lại cứ phải là 13? Thật ra con số 13 là con số "thiêng liêng" nhất
của hai hội kín Sáng Tuệ và Thợ Đá Tự Do. Ở đâu có hai hội này hoạt động
thì nơi đó sẽ có con số 13 xuất hiện, chúng tôi sẽ nói rõ thêm về con số
này ở phần khác). Cái mỏ của chim Phượng Hoàng nêu trên ngậm một tua vải
xòe ra hai bên, trên vải có hàng chữ la tinh gồm 13 chữ cái ghi câu: E
PLURIBUS UNUM (Một Trong Sự Nhiều hoặc Nhiều Trong Sự Một, nghĩa của nó
là "dù trên thế giới có nhiều quốc gia, nhưng rồi tất cả sẽ quy tụ thành
một quốc gia duy nhất trên thế giới, hay dù là một quốc gia duy nhất
trên toàn cầu thì bên trong của nó vẫn có những quốc gia khác". Tức là
quyền lực tuyệt đối sẽ được gom về một mối, về tay siêu hội kín, siêu
quyền lực đó mà! Đó là ước mơ mà đế quốc La Mã ngày xưa chưa làm được).
Phía trước ngực của chim là một tấm khiên bằng sắt, nghĩa là sự che
chắn, che đậy sự bí mật ở phía sau và bên trong (nội bộ), tấm khiên đó
có 13 vạch nằm ngang nếu đếm luôn vạch bìa (xem hình chim trên tờ 1 đô
la), phía dưới có 7 vạch thẳng đứng màu trắng và 6 vạch có sọc nhỏ bên
trong (6 + 7 = 13), và nếu đếm hết 3 vạch nhỏ hơn nằm trong 6 vạch thẳng
đó thì sẽ có con số chung là 3 X 6 = 18 (9).
Hai chân chim, một bên nắm 13 mũi tên, một bên nắm nhánh mọng (berry) có
đúng 13 chiếc lá và 13 quả mọng nằm xen kẽ với nhau (tiếng lóng của dân
Mỹ gọi tiền đô là "berry'), phần dưới của chim có 9 cái lông đuôi.
Ngày 15/9/1789: Quốc hội Mỹ thuận thông qua bản "hiến pháp". Trong dịp
này họ cũng chấp nhận lấy luôn cái tháp với con mắt (của hội kín Sáng
Tuệ) làm quốc huy phụ thứ hai. Tới năm 1841, họ vịn cớ rằng dân Mỹ cứ
nhạo báng cái quốc huy của Mỹ nhìn giống con gà tây (turkey) đang bị
nướng hơn là chim Phượng Hoàng, quốc hội lại họp rồi quyết định cho họa
sĩ vẽ con chim ó thế hình con "gà tây" đó (thực ra chim ó, hay đại bàng
chính là biểu tượng của đế quốc La Mã). Sau rốt, hình con chim ó được
"họa" xong, đầu nó chỉ có một mắt và nhìn về phía không có trái tim (vô
tâm, bất nhân, bất nghĩa và bội phản).
Năm 1934: Ông Henry Agard Wallace (7/10/1888 - 18/11/1965), nguyên hội
viên cao cấp của hội kín Thợ Đá Tự Do kiêm... Bộ Trưởng Nông Nghiệp,
"yêu cầu" Tổng Thống Franklin Delano Roosevelt (30/1/1882 - 12/4/1945,
hội viên cao cấp Thợ Đá Tự Do) cho phép Bộ Trưởng Ngân Khố, ông Henry
Morgenthau, Jr (11/5/1891 - 6/2/1967) được in cả hai cái quốc huy đó
(của hội kín) vào tờ giấy 1 đô la! Sau khi được tổng thống cho phép, ông
bộ trưởng H. Morgenthau (cũng thuộc hội kín nốt) cho làm ngay... và dĩ
nhiên cũng không quên đưa thêm "mật hiệu" của hội kín vào tờ giấy 1 đô
như: Hai vòng tròn lớn của hai quốc huy, ở giữa ngoài rìa của hai cái có
hai chuỗi hạt, mỗi cái có đúng 13 hạt nằm ngang. Ở trên chính giữa tờ
giấy có 12 chữ cái: IN GOD WE TRUST, Chúng Ta Tin Nơi Thượng Đế, nhưng
ngay dưới hàng chữ đó lại có chữ ONE (1) thật lớn, nghĩa rằng 12+1 = là
13 đó bà con ạ (quả là buôn bán trời... có văn tự đàng hoàng)! Ở phía
dưới lại có 9 chữ cái khá lớn: ONE DOLLAR. Còn gì nữa? Vẫn còn nhiều
lắm! Nếu ai chịu khó đếm hết tất cả những mẫu tự nằm trong hai quốc huy
đó, sẽ đếm được 72 chữ, cũng là 9... nút (A N N U I T C OE P T I S N O V
U S O R D O S E C L O R U M T H E G R E A T S E A L (hình cái tháp) E P
L U R I B U S U N U M O F T H E U N I T E D S T A T E S (bên hình
chim)... và nếu cố gắng tính luôn hàng chữ số La Mã dưới chân tháp, sẽ
có tổng số mẫu tự là... 81 chữ (9). Lật qua phía bên kia tờ 1 đô, nếu bỏ
công đếm hết số lá và quả mọng nơi hai bìa và hai góc dưới hình ông
George W, sẽ có được con số 54 (9).
Ngay ở trên cùng, có hàng chữ thập thò... lấp ló với 18 (9) chữ cái là:
FEDERAL RESERVE NOTE, Biên Nhận Lưu Dụng Liên Bang, xin lập lại lần nữa:
"Biên Nhận Lưu Dụng Liên Bang" (cũng có thể gọi là "Phiếu Tư Dụng Liên
Bang"). Còn cái gọi là Federal Reserve mà có ai đó dịch rằng: "Qũy Dự
Trữ Liên Bang" thì người đó học quá thuộc bài qua lối chơi chữ của...
hội kín rồi đó! Vì lẽ Liên Bang Mỹ chẳng có cái qũy nào dự trữ tiền cả
bởi hiến pháp nước Mỹ cấm chính phủ lập ngân hàng và làm chủ tiền bạc.
Nếu có, tại sao chính quyền Mỹ không in luôn mấy chữ "money" hoặc
"currency" lên tờ giấy bạc của họ mà lại ghi là "note"? Thật ra, trong
lịch sử nước Mỹ đã có người muốn chính phủ có tiền riêng để điều ổn kinh
tế quốc gia. Nhưng người đó đã bị "siêu quyền lực" qua tay hội kín bắn
chết ngay, đó là vị tổng thống thứ 16 của Liên Bang Mỹ là ông Abraham
Lincoln (12/2/1809 - 15/4/1865). Những tờ giấy màu xanh mà ai cũng tưởng
là tiền "tệ" (hại) của Mỹ thật ra nó có mặt "bất hợp pháp" vì vi hiến.
Ngày 23/12/1913, giới chủ ngân hàng (tức siêu tài phiệt, hội kín) sau
nhiều cuộc họp bí mật, kể cả họp ngoài đảo, đã lợi dụng lúc hơn một nửa
nghị sĩ, dân biểu đang nghỉ lễ cuối năm (giáng sinh), họ đã vận động
phần còn lại của quốc hội (mà hầu hết là phe của họ) tổ chức hội họp và
gấp rút ký thông qua Đạo Luật Lưu Dụng Liên Bang (Federal Reserve Act)
vào ngày tháng nêu trên. Đạo luật ký kiểu "chạy tang" đó cho phép chính
phủ được quyền nắm giữ của ngân hàng tư nhân một số VÀNG thế chân, và
chấp thuận cho họ được quyền lập ra một hệ thống điều hành, kiểm soát
vấn đề tài chánh quốc gia, hệ thống đó gồm toàn các "ngân hàng hội viên"
(member banks) với nhau và chính phủ chớ dự vào. Nói trắng ra, vì có giữ
vàng thế chân (do cái luật vi hiến nêu trên) của tư nhân, nên chính phủ
mới cho in cái "giấy biên nhận" là có giữ vàng của họ nhưng không dám
nói toạc ra vì vi hiến. Còn cái tờ giấy gọi là "note" đó, nó có giá trị
lưu hành dưới sự bảo đảm của chính phủ. Ai có bao nhiêu cũng được, giữ
bao lâu cũng được, muốn trao đổi (mua-bán) bất cứ cái gì cũng được nên
mới gọi là "lưu dụng" hoặc "tư dụng" (reserve). Còn cái chữ "Federal" ăn
có được in trên cái "biên lai giữ vàng" đó là do tài phiệt láu cá in vô
nhằm mập mờ đánh lận con đen và nó chẳng có dính dáng chi tới Liên Bang
Mỹ cả! Xứ "tự do" phát biểu mà! Ví dụ như ai đó có cái "mặt nạ", họ có
quyền gọi đó là "Federal Mask" cũng không sao! Bởi thế nên mới có chuyện
ngược đời: Chính phủ của một nước "hùng cường" như Mỹ mà "nợ như chúa
Chổm" với các ngân hàng tư).
Trở lại với hai đại quốc huy của Mỹ. Chúng tôi xin được nói rõ hơn về
vấn đề này vì ngay từ đầu, những người thiết kế nên cấu trúc của chính
phủ Mỹ đã cố tình nhắn gởi đến công chúng những thông điệp quan trọng,
được sắp đặt có chủ đích trong hai quốc huy đó. Ngay trong ngày bản
"Tuyên Ngôn Độc Lập" được công bố, 4/7/1776, Quốc Hội Đại Lục
(Continental Congress) đã chỉ định một ủy ban gồm ba người chịu trách
nhiệm việc chọn đại quốc huy của Mỹ, đó là các ông John Adams; Thomas
Jefferson và Benjamin Franflin. Cả ba vị này đều là hội viên của hội kín
Free Mason, đại quốc huy thứ nhất được họ đưa ra có khắc cảnh ông Moses
dắt dân Do Thái vượt qua Biển Hồng (Hồng Hải) và đoàn quân Ai Cập đang
chống chõi trước sóng nước dâng cao. Vòng quanh quốc huy này có hàng
chữ: "REBELLION TO TYRANTS IS OBEDIENCE TO GOD" (Chống Lại Bạo Chúa Là
Làm Theo Lời Thượng Đế). Nhưng chỉ sáu năm sau, có lẽ thấy được sự lộ
liễu quá đáng vì hình ảnh Do Thái nằm ngay trên quốc huy, quốc hội lại
nhóm họp vào ngày 10/6/1782 để chọn mẫu quốc huy mới, tới ngày 20/6/1782
thì mới có quyết định cuối cùng như đã kể ở trên (cùng với sự chấp thuận
quốc huy phụ thứ hai là hình tháp và con mắt của hội kín Sáng Tuệ). Tuy
nhiên, những người đưa ra mẫu mới vẫn cố tình sắp đặt 13 ngôi sao trên
đầu chim là hai hình tam giác đối nghịch. Nếu vạch những đường thẳng thì
sẽ thấy hình một ngôi sao có sáu góc (ngôi sao David, trên cờ Do Thái
ngày nay). Ngôi sao này còn được biết là dấu hiệu của một hội kín thờ
Satan tức hội Sáng Tuệ. Sáu cạnh, sáu mặt phẳng, sáu chi tiết chính
trong đại quốc huy (chim, bó tên, nhánh lá, tấm khiên, tua vải, hình
tròn trên đầu chim) là sự nhấn mạnh đến ba con số 666, một con số mà các
nhà tiên tri cho rằng thuộc về kẻ chống lại thượng đế trong cuộc chiến
sắp đến giữa "thiện, ác và ngày tận thế". Đọc tới đây có thể bạn đọc đã
thấy rõ ai mới là người làm chủ nước Mỹ từ những ngày đầu lập quốc. Và
qua đó cũng thấy được "bạo chúa" mà họ chống lại không phải là đế quốc
Anh, mà Vatican mới là thế lực mà họ tuyên chiến. Thực tế cho thấy suốt
chiều dài lịch sử của Liên Bang Mỹ, hầu hết các tổng thống đều theo giáo
phái Cải Cách (tức đạo Tin Lành), duy nhất chỉ có một người theo đạo
Thiên Chúa Giáo là Tổng Thống John F. Kennedy (29/5/1917 - 22/11/1963),
và cuộc đời vị tổng thống này kết thúc ra sao bạn đọc cũng đã tỏ tường.
Nổi bật hơn hết trong số tổng thống Mỹ có liên đới đến nhiều hội kín
nhất chính là vị tổng thống thứ 42, William Jefferson "Bill" Clinton
(tên cúng cơm William Jefferson Blythe III, 19/8/1946). Ông này tham gia
Ủy Hội Tam Điểm (the Trilateral Commission); Hội Đồng Về Các Quan Hệ Đối
Ngoại (the Council on Foreign Relations, CFR) và hội kín Bilderbergers
(hội này chưa ai biết được tên thật là gì, những người nghiên cứu tạm
gọi Bilderbergers vì đó là tên một khách sạn ở Oosterbeek, Hoà Lan, nơi
công chúng khám phá ra một cuộc họp bí mật của hội vào năm 1954. Vợ của
"Bill" Clinton cũng là hội viên CFR và Bilderbergers). Ngoài ra bố con
cựu tổng thống George H. W. Bush cũng thuộc các hội Tam Điểm và CFR,
riêng ông con còn là là hội viên Dòng Hội Xương và Sọ (the Order of
Skull and Bones). Riêng ở cấp bộ trưởng, đại sứ, giám đốc v.v. thì từ
các ông như Henry Cabot Lodge, Jr (5/7/1902 - 27/2/1985); Henry Alfred
Kissinger; Robert Strange McNamara (9/6/1916 - 6/7/2009) cho tới anh em
nhà John Foster Dulles (25/2/1888 - 25/5/1959); Allen Dulles (7/4/1893 -
29/1/1969); Dean David Rusk (9/2/1909 - 20/12/1994); Conein E. Lucien
(29/11/1919 - 3/6/1998), anh em nhà Edward Rolan Noel Harriman
(24/12/1895 - 16/2/1978); William Averell Harriman (15/11/1981 -
26/7/1986) v.v. tất cả đều là hội viên của hội kín. Có tới 95% trong
tổng số tổng thống Mỹ, 99.9% các bộ trưởng ngoại giao, quốc phòng, giám
đốc CIA; FBI đều nằm trong hội kín. Trong tổng số 56 người ký vào bản
Tuyên Ngôn Độc Lập (ngày 7/6/1776) thì 53 người là hội viên hội kín (một
tài liệu khác cho biết chỉ có một người). Riêng về Vương Quốc Anh thì
100% những thủ tướng đều thuộc hội kín (Anh cũng là nơi đặt "tổng hành
dinh" của hội kín toàn cầu). Ông Winston Leonard Spencer Churchill
(30/11/1847 - 24/1/1965) là một hội viên hội kín thuộc hạng "gộc", là
một trong vài người hiếm hoi được hội kín thời hiện đại tôn vinh nhiều
nhất vì có công trong việc dàn dựng nên Đệ Nhất Thế Chiến (1914-1918);
Đệ Nhị Thế Chiến (1939-1945); cuộc "cách mạng vô sản" ở Nga (1917);
Chiến Tranh Đại Hàn (1950-1953) và Chiến Tranh Việt Nam (gồm hai giai
đoạn, từ 1945 đến 1975). Vào ngày 8/2/1920, tờ báo Illustrated Sunday
Herald (ở Anh) cho đăng một bài viết của ông ta, trong đó có những lời
lẽ như sau: ... "From the days of Spartacus - (Adam) Weishaupt to those
of Karl Marx; Trotsky... this... world - wide conspiracy for the
overthrow of civilization... has been steadily growing"... (tạm dịch:
"Từ những ngày của Spartacus - (Adam) Weihaupt cho tới Karl Marx;
Trotsky... âm mưu... toàn cầu nhằm lật đổ (các nền) văn minh (nhân
loại)... đang lớn mạnh một cách vững vàng"...). Quả là có "nằm trong
chăn mới biết chăn có rận", âm mưu này đã có và được sắp đặt từ thời đế
quốc La Mã, mộng làm bá chủ toàn cầu của phương Tây. Vào ngày 23/9/1950,
một nghị sĩ Mỹ là ông Joseph Raymond McCarthy (14/11/1908 - 2/5/1957) đã
tố cáo trước quốc hội về âm mưu của ba "lãnh tụ" Nga; Anh; Mỹ tại Hội
Nghị Yalta (từ 4/2 tới 11/2/1945, ở bán đảo Crimea của Ukraine). Trong
hội nghị này, ba ông "Churchill; Stalin; Roosevelt" đã bí mật chia trước
đất đai thế giới sau khi chiến tranh kết thúc: phần Đông-Âu Châu sẽ
thuộc cộng sản Nga, phần Trung-Đông-Á Châu và Ấn Độ Dương giao cho Anh,
toàn vùng Thái Bình Dương và Đông-Nam-Á Châu sẽ thuộc về Mỹ. Ông nghị sĩ
này còn kết án họ đã bí mật bàn thảo trước cho các cuộc chiến tranh sắp
tới, nguyên văn: ... "Here (Yalta) was signed the death warrant of the
young men who are dying today in the hills and valleys of Korea.... Here
was signed the death warrant of the young men who will die tomorrow in
the jungles of Indochina"... (... "Nơi đây (Yalta) đã ký giấy báo tử cho
những người trai trẻ hôm nay đang gục ngã tại các ngọn đồi và thung lũng
của Đại Hàn.... Nơi đây đã ký giấy báo tử cho những người trẻ khác mà
ngày mai sẽ chết trong rừng sâu của vùng Đông Pháp"...). Một nhân vật
khác cũng được hội kín tôn vinh hết mực là vị tổng thống thứ 32 của Mỹ,
ông Franklin Delano Roosevelt (30/1/1882 - 12/4/1945). Vào ngày
23/11/1933, ngay sau khi biết tin mình "được bầu" làm tổng thống, ông ta
viết thơ cho một ông trùm hội kín từng làm đại tá, kiêm "cố vấn" cho ba
đời tổng thống là ông Edward Mandell House (26/7/1858 - 28/3/1938, từng
làm "cố vấn" cho tổng thống thứ 28 Woodrow Wilson (29/12/1856 -
3/2/1924), là người đã âm mưu với W. Churchill dàn dựng nên Thế Chiến 1
và "cách mạng vô sản" ở Nga). Tổng thống F. D. Roosevelt viết thư thế
này: ... "The real truth of the matter is: as you and I know, that a
financial element in the large centers has owned the government ever
since the days of Andrew Jackson"... ("Sự thật rõ ràng của tình thế là,
ông cũng biết như tôi, một cơ cấu tài chánh ở một trung tâm bao quát đã
làm chủ chính phủ này kể từ thời Andrew Jackson" (15/3/1767 - 8/6/1845,
vị tổng thống thứ 7). Khi Thế Chiến Thứ 2 vừa xảy ra, ông F. D.
Roosevelt đã "phán" một câu làm dân Mỹ nổi da gà: ... "In politics,
nothing happens by accident. If it happens, you can bet it was planned
that way"... (Trong chính trị, chẳng có gì xảy ra ngẫu nhiên. Nếu nó xảy
ra, bạn cứ tin chắc nó được sắp đặt như thế). Chưa hết, trong một lần
khác ông ta "tuyên bố" một câu cũng làm dân Mỹ dựng tóc gáy: ... "I do
not believe in communism any more than you do but there is nothing wrong
with the communist in this country, several of the best friend I have
got are communists" ("Tôi chẳng còn tin chủ nghĩa cộng sản cũng như bạn
nhưng thấy không có gì sai với người cộng sản trên đất nước này (Mỹ),
vài người bạn thân nhất mà tôi quen đều là những người cộng sản" (Hồ Sơ
Lưu Quốc Hội ngày 22/9/1950, trang A 6832).
Kính thưa bạn đọc,
Nói tóm lại, tất cả những nhân vật (Âu và Mỹ) mà lâu nay dư luận cho là
"xuất chúng", là "lỗi lạc", là "có công lớn đối với nhân loại" trong các
lĩnh vực, chính trị, quân sự, ngoại giao, tài chánh v.v. thật ra họ
chẳng có gì gọi là tài giỏi, là anh hùng chi cả. Họ cũng chỉ là những
người bình thường. Nếu có khác thì họ là những kẻ lọt vô các hội kín,
được tổ chức đó đưa vào nắm giữ những chức vụ then chốt trong các chính
phủ. Nhờ có chân trong, chân ngoài nên họ biết trước các kế hoạch mà hội
kín (siêu quyền lực, nói chung) đã thiết kế và sẽ có những dự định như
thế nào. Họ chỉ là người thừa hành, có quyết định hoặc tuyên bố này nọ
nhờ đã biết trước và nhận chỉ thị phải nói, phải làm như kế hoạch mà hội
kín đã hoạch định mà thôi (anh hùng tận là như vậy). Trong bóng tối họ
dàn dựng nên các xáo trộn khắp năm châu, ngoài ánh sáng họ cử người của
họ (khoác áo chính khách) đi dàn xếp "hòa bình" với mục đích có lợi nhất
cho thế lực trong bóng tối. Tiếc thay, thủ đoạn này của hội kín quá cao
siêu nên nhân loại từ người nghèo khổ, thiếu học cho đến tầng lớp trí
thức, khoa bảng, lãnh đạo tôn giáo v.v. đều bị lầm dài dài nên xã hội cứ
triền miên trong khổ loạn. Cho dù có người biết được sự thật, nếu nói ra
thì sẽ gặp những cái chết bí ẩn, may mắn còn sống thì cuộc đời họ sẽ rất
khốn đốn trong công ăn việc làm. Nhưng phần lớn trí thức, khoa bảng, học
giả v.v. lại không can đảm nói ra dù đã biết phần nào sự thật. Họ vì
tiếc nuối công lao ăn học, vì danh vọng mời chào, vì quyền lợi vật chất
cám dỗ, vì sợ chết hoặc phải sống trong lo âu nên họ đành chấp nhận tiếp
tay với sự dữ, kéo dài sự sống no đủ của bản thân trên nỗi khổ đau chung
của nhân loại. Trường hợp của hai nhân vật W. Churchill và F. Roosevelt
cũng thế mà thôi, chẳng là "anh hùng, xuất chúng" gì hết! Ông W.
Churchill được hội kín đưa vào ghế thủ tướng nước Anh hai lần (1940 -
1945 và 1951 - 1955) cũng do kế hoạch "phát động chiến tranh và tái
thiết sau chiến tranh" của hội kín. Ông F. Roosevelt cũng được họ xử
dụng như vậy, được hội kín giữ yên trên ghế tổng thống hơn ba nhiệm kỳ
(1933-1945), lâu như vậy vì họ không muốn âm mưu của họ bị trắc trở.
Kế hoạch đó là gì?
(1) Là tàn phá tối đa Âu Châu và Á Châu
già nua bằng bom đạn, sau này họ sẽ bỏ tiền ra xây dựng lại qua hình
thức viện trợ, vay mượn v.v. để buộc các quốc gia khốn khổ đó phải đi
vào vòng ảnh hưởng của họ.
(2) Làm kiệt quệ ý chí quật cường của người dân thuộc các chế độ cộng
sản sau này.
(3) Làm trì trệ, chậm lại tốc độ phản công của "đồng minh" để chờ cộng
sản Nga chiếm đủ số đất đã phân chia, đồng thời gia tăng mức độ viện trợ
kỹ thuật quân sự, khoa học cho Nga nhằm giúp nước cộng sản này có đủ
điều kiện trở thành một cường quốc quân sự, biến thành một đối cực với
Âu Mỹ, hội kín ở giữa sẽ thủ đắc tất cả vì các nước nhỏ sẽ cần sự "bảo
vệ" của họ, nghĩa là chịu mua vũ khí và chấp nhận viện trợ có ràng buộc
của họ.
Ngày 25/6/1942, hai "vĩ nhân" nói trên đã âm mưu với nhau khi hoãn lại
kế hoạch đổ quân lên lục địa Âu Châu trong năm 1943 qua năm 1944, mục
đích là chờ cộng sản Nga soạn xong bản kế hoạch về lâu dài sẽ cai trị
vùng Đông-Âu Châu như thế nào. Sau ngày ông Charles Andre Joseph Marie
de Gaulle (23/11/1890 - 9/11/1970) theo chân "đồng minh" tiến vào thủ đô
Ba Lê ngày 26/8/1944, lực lượng quân sự thuộc Quân Đoàn 7 của Mỹ được
lệnh phải "thong thả" tiến quân vào lãnh thổ Đức cũng như thủ đô Bá
Linh, họ phải chờ để Hồng Quân Nga tiến vô trước cho đúng với kế hoạch
mà hội kín đã vạch ra. Ở phía Nam, Tư Lệnh Quân Đoàn 3 của Mỹ (thiết
giáp là chính), Trung Tướng George Smith Patton, Jr (11/11/1885 -
21/12/1945) cũng nhận được lệnh quái gở đó, nhưng ông vẫn phớt lờ và
tung ra nhiều cánh quân thiết giáp tiến ào ạt với ý định chiếm toàn vùng
Tiệp Khắc. Tuy nhiên lệnh từ cấp cao hơn buộc ông phải ngưng lại, nhường
vùng đất đó cho quân Nga đến chiếm đóng! Lệnh ấy được đưa xuống bởi hai
hội viên cao cấp của hội kín,... kiêm... Thống Tướng Tổng Tư Lệnh Quân
Đội Đồng Minh là ông Dwight David Eisenhower (14/10/1890 - 28/3/1969) và
ông George Catlett Marshall (31/12/1880 - 16/10/1959), Đại Tướng Tư Lệnh
Quân Đội Mỹ ở Âu Châu (người sau đó là Bộ Trưởng Ngoại Giao của Mỹ
(1947-1949) rồi nắm toàn quyền kế hoạch tái thiết Âu Châu của hội kín.
Chưa hết, để chắc ăn và kiếm lời nhiều hơn, hội kín đã trao ông ta chức
Bộ Trưởng Quốc Phòng (1950-1951), tới năm 1953, tổ chức "ngụy văn hóa"
của hội kín ở Thụy Điển còn trâng tráo tặng ông ta gỉải "Nobel hòa bình"
(hệt như Henry A. Kissinger sau này).
Tin tức về lệnh nhường đất cho "đồng minh" Nga Sô đã gây một cú sốc và
lắm bất bình cho quân đội Mỹ vào lúc đó. Hơn nữa, sự kiện này còn làm
chấn động cả chính trường nước Mỹ nên sự vụ bị đem ra điều tra trước
quốc hội. Trong tháng 7/1948, sau khi kết tội giới tướng lãnh cao cấp đã
âm mưu tiếp tay với cộng sản trên chiến trường Âu Châu, nghị sĩ Joseph
Raymond McCarthy đã nói một câu ngắn sau đây mà chúng tôi xin ghi lại
nguyên văn để bạn đọc nhìn rõ hơn bộ mặt thật của hai nước Anh và Mỹ:
... "We now come to what was without question the most significant
decision of the war in Europe: The decision by Marshall to concentrate
on France and leave the whole of Eastern Europe to the Red Armies"...
(Chúng ta bây giờ đã tới chỗ chẳng cần đặt câu hỏi về quyết định trọng
đại nhất của cuộc chiến tại Âu Châu.: Quyết định của (tướng) Marshall là
nhằm cô lập nước Pháp và dành toàn vùng Đông Âu cho Đoàn Quân Đỏ"). Cả
hai "vĩ nhân" tiêu biểu nêu trên cũng như những "tai to mặt lớn" khác
của chính trường Âu-Mỹ, phần đông là hội viên của các hội kín như Sáng
Tuệ; Tam Điểm; Thợ Đá Tự Do; Xương và Sọ; Hội Đồng Về Các Quan Hệ Đối
Ngoại - CFR v.v. và v.v. Và cũng chính họ, trước khi Thế Chiến 2 chấm
dứt, đã dàn dựng nên hai cuộc chiến thảm khốc trên quê hương Việt Nam
chúng ta với sự thông đồng tiếp tay của Nguyễn Sinh Cung (198? -
2/9/1969, tức Nguyễn Tất Thành; Hồ Chí Minh sau này), kéo dài từ 1945
đến 1975 và tới nay 2012 vẫn chưa thực sự kết thúc (ông HCM cũng là hội
viên Tam Điểm, chúng tôi sẽ nói thêm ở một trang khác).
Ngày 13/9/1945: Quân đội Anh đưa quân đến Sài Gòn để giải giới quân đội
Nhật Bản (đã đầu hàng từ ngày 14/8/1945) theo quyết định của "Hội Nghị"
Potsdam, tổ chức gần Bá Linh, Đức từ ngày 16/7 tới 2/8/1945, riêng miền
Bắc thì trách nhiệm giải giới giao cho Quân Đội Trung Hoa Dân Quốc.
Không phải ngẫu nhiên mà "hội nghị" đó lại chọn quân đội Anh vào miền
Nam bày trò "giải giới", dù ở xa tắp tận Ấn Độ. Lúc đó Mỹ có binh lực ở
Phi Luật Tân, ở đảo Guam v.v. là các nơi rất gần nhưng Mỹ phải tránh mặt
vì đây là giai đoạn đầu của âm mưu ma quỷ. Họ đưa quân Anh đến đó chỉ
với mục đích gây xáo trộn, tạo thêm căng thẳng, kích thích lòng cuồng
nhiệt của người dân, giúp phe cộng sản của ông Hồ có điều kiện đẩy mạnh
các hoạt động và chắc chắn dân chúng sẽ tham gia vào lực lượng của ông
ta để hình thành dần dần một quân đội sau này. Lực lượng đó sẽ trở thành
một đối trọng mà Pháp rồi Mỹ mới có cớ đem quân vào tham chiến. Lực
lượng quân sự của Anh đến miền Nam Việt Nam đông vào khoảng 26,000
người, phần lớn các chiến binh thuộc nhiều sắc dân của Ấn Độ, lính gốc
người Anh chỉ có khoảng 1,400 tay súng. Lực lượng này gồm: Sư Đoàn 20 Bộ
Binh; Thiết Đoàn 16 Thiết Vận Xa, hai phi đội máy bay khu trục và vận
tải, ba khu trục hạm hạng trung v.v. đặt dưới quyền chỉ huy của Thiếu
Tướng Douglas D. Gracey (1894 - 1964), một hội viên cao cấp của Thợ Đá
Tự Do, Ủy Hội Tam Điểm thuộc Tổng Bộ Luân Đôn.
Ngày 17/9/1945, lấy cớ rằng lực lượng giải giới cần có sự an ninh, cần
hạn chế số vũ khí thất thoát vào tay dân và để dễ dàng hơn trong việc
tập trung binh lính Nhật vào một chỗ, tướng D. D. Gracey ra lệnh cho dân
chúng Sài Gòn phải giao nộp tất cả vũ khí cho lực lượng của ông ta. Vậy
là làn sóng bất bình bắt đầu nổi lên.
Ngày 21/9/1945, nhận thấy dân chúng không chấp nhận lệnh này cũng như sự
hỗn loạn bắt đầu xảy ra, viên tướng Anh này đã chọc giận thêm dân chúng
khi trả tự do và trang bị vũ khí cho khoảng 200 tù binh Nhật, để họ tự
do đi khắp Sài Gòn dán Bản Tuyên Cáo Số 1 của ông ta với những điều như
sau: Thiết Quân Luật không những ở Sài Gòn mà còn trên toàn miền Nam
Việt Nam. Cấm dân chúng không được tự võ trang. Cấm không được mang vũ
khí ngoài đường. Cấm tụ tập đông người tại những nơi công cộng v.v. Sự
uất ức của dân chúng tăng cao thêm qua bản tuyên cáo này.
Ngày 22/9/1945, tướng D. D. Gracey lại châm thêm dầu vô lửa khi cho phát
súng đạn vào tay khoảng 1,700 người dân Pháp ở Sài Gòn.
Ngày 23/9/1945, ông tướng này lại cho lệnh hơn 3,000 lính của ông ta,
gần 2,000 dân Pháp có vũ khí, hơn 600 tù binh Nhật Bản được võ trang tỏa
ra khắp Sài Gòn để tấn công, đập phá các văn phòng Ủy Ban Kháng Chiến
(của dân lập ra, không phải của cán bộ cộng sản), đập nát những trạm gác
do dân chúng dựng lên nhằm canh chừng sự trở lại của Pháp.
Ngày 26/9/1945, lúc 10 giờ tối, nhằm tăng thêm sự phẫn nộ của dân chúng,
tướng D. D. Gracey cho thả thêm hơn 1,000 tù binh Nhật và phát súng đạn
cho họ, những tù binh này được tăng cường cho lực lượng trước đó để cùng
nhận lệnh tung ra một cuộc càn quét quy mô khắp đường phố Sài Gòn. Vậy
là làn sóng cuồng nộ của dân chúng nổ bùng ra khi ước mơ được Độc Lập
của dân tộc bị tước đoạt bởi chính "đồng minh". Người dân không còn sự
chọn lựa nào khác bằng con đường chiến đấu... và tổ chức Việt Minh là
nơi họ chấp nhận đứng vào hàng ngũ, rất ít người biết tổ chức đó đã bị
cộng sản cướp quyền lãnh đạo. Chỉ thời gian ngắn sau đó, những người
hiểu biết thì thấy được bàn tay cộng sản trong tổ chức Việt Minh nên đã
thoái lui, nhưng đó là một con số rất nhỏ. Phần đông vẫn ở lại tiếp tục
chiến đấu vì lòng yêu nước, và họ đã vô tình trởthành vật hy sinh lót
đường cho "quốc tế cộng sản và cộng sản quốc tế" trong âm mưu gây chiến,
thôn tính toàn lãnh thổ nước Việt Nam và toàn thế giới trong tương lai.
Nhìn lại các hành vi của viên tướng Douglas D. Gracey, chúng ta mới thấy
sự vi phạm trắng trợn của ông này nói riêng, của hai chính phủ Anh và Mỹ
nói chung, đối với cơ hội được Độc Lập cho Việt Nam trước cơn ác mộng
xiềng xích thực dân của Pháp. Viên tướng này chỉ là người được ủy nhiệm
đến để giải giới quân đội Nhật Bản. Ông ta chỉ nên làm công việc đó, còn
những vấn đề khác xảy ra trên lãnh thổ Việt Nam là thuộc quyền của người
dân, ông ta không được phép xen vào... trừ khi đó là âm mưu, thủ đoạn
của hội kín mà Anh và Mỹ là hai đầu sỏ dàn dựng nên tất cả. Xa tít tận
thủ đô Đông Kinh của một nước Nhật bại trận, Tư Lệnh Đồng Minh ở Á Châu
- Thái Bình Dương là Đại Tướng Douglas MacArthur (26/1/1880 - 5/4/1964)
khi biết tin về những gì xảy ra ở Sài Gòn, ông đã lớn tiếng chửi thề và
nói ra những lời nhận xét xác đáng trong tư cách của một người lính,
nguyên văn: ... "If there is anything that makes my blood boil, it is to
see our allies (English) in Indochina... deploying Japanese troops to
reconquer... the people we promised to liberrate. It is the most ignoble
kind of betrayal"... ("Nếu có chuyện gì đó làm tôi phải sôi máu lên, là
chuyện nhìn đồng minh của mình đã huy động lính Nhật đi chinh phục lại
những người mà chúng ta đã hứa giải thoát họ. Đó là một loại phản bội
hèn hạ nhất"..., (The Viet Nam Experience, cuốn Passing the Torch, trang
17).
Hơn 18 năm sau, vào tháng 11/1963 hội kín lại qua tay chính phủ Mỹ sát
hại Tổng Thống Ngô Đình Diệm (3/1/1901 - 2/11/1963) và ông Ngô Đình Nhu
(7/10/1910 - 2/11/1963), cũng như làm lơ để ông Ngô Đình Cẩn (1912 -
9/5/1964) bị đem ra xử bắn. Trước đó vào ngày 30/10/1963, lúc biết kế
hoạch đảo chánh và giết luôn anh em ông N. Đ. Diệm của chính phủ Mỹ đã
sẵn sàng qua sự trực tiếp giám sát của Đại Sứ Henry Cabot Lodge, Đại
Tướng Paul D. Harkins (15/5/1904 - 21/8/1984), Tư Lệnh/Bộ Tư Lệnh Yểm
Trợ Quân Sự - Việt Nam (Military Assistance Command - Viet Nam, MAC-VN)
đã gởi một công điện về cho Chủ Tịch Tham Mưu Liên Quân là Đại Tướng
Maxwell Davenport Taylor (26/8/1901 - 19/4/1987), bức công điện đã có
những lời lẽ trách móc như sau: ... "After all, rightly or wrongly, we
have backed Diem for eight long hard years. To me it seems incongruous
now to get him down, kick him around and get rid of him. The U.S has
been his mother superior and father confessor since he's been in office
and he has leaned on us heavily. Leaders of other under-developed
countries will take a dim view of our assistance if they too were led to
believe the same fate lies in store for them"... ("Cuối cùng thì, dù
đúng hay sai, chúng ta cũng đã giúp Diệm suốt tám năm dài đầy khó nhọc.
Đối với tôi, thật chẳng có đạo nghĩa chút nào bởi bây giờ chúng ta đang
hạ nhục ông ta, hành hạ đủ điều rồi bỏ rơi ông ấy. Nước Mỹ như là song
thân kể tội và kiêu căng từ lúc ông ta đảm trách công việc và đã dựa vào
chúng ta khá nhiều. Giới lãnh đạo các nước kém phát triển sẽ có cái nhìn
đầy hắc ám ở sự giúp đỡ của chúng ta và tin rằng một cảnh ngộ như thế
cũng sẽ xảy ra với họ"... (The Pentagon Papers, trang 221. Neil Sheehan;
Hedrick Smith; E.W. Kenworthy. Fox Butterfield, Bantam Book, 1971).
Và còn những gì nữa của một đất nước Việt Nam khốn khổ đối [với] những
"đồng minh trong thế giới tự do" như Mỹ-Anh-Pháp v.v.? Lịch sử đã trả
lời.
Đến đây chúng tôi xin ngưng phần này. Trước khi mời bạn đọc quay về thế
kỷ thứ 18 để tìm nguồn gốc cái quái thai cộng sản, chúng tôi ghi thêm
vài chi tiết của Hội Đồng Về Các Quan Hệ Đối Ngoại và việc ông Nguyễn
Tất Thành (HCM) gia nhập Hội Tam Điểm tại Pháp.
Ngày 30/5/1919: Ủy Hội Tam Điểm Tổng Bộ Châu Âu (the Trilateral
Commission, Europe Grand Lodge) tổ chức một cuộc họp bí mật trong khách
sạn Majestic ở Ba Lê, Pháp. Cuộc họp này đi tới quyết định thành lập một
tổ chức hoạt động ngoài công khai, tầm vóc quốc tế, có tên Viện Quốc Tế
Sự Vụ (the Institute of International Affairs, IIA), đồng thời lập chi
nhánh thứ nhất nằm tại Luân Đôn, nước Anh với tên Học Viện Hoàng Gia
Quốc Tế Sự Vụ (the Royal Institute of International Affairs, RIIA).
Ngày 21/7/1921, hội Tam Điểm lập thêm chi nhánh thứ hai ở Nữu Ước, Mỹ,
có tên Hội Đồng Về Các Quan Hệ Đối Ngoại (the Council on Foreign
Relations, CFR). Chi nhánh ở Mỹ có một tờ báo mang tiếng nói thuộc loại
"nặng ký" là tạp chí Đối Ngoại (Foreign Affairs Magazine, FAM). Điểm đặc
biệt ở chỗ là hội viên của CFR ở Mỹ có cả tổng thống, bộ trưởng, giám
đốc các cơ quan chính phủ v.v. cho tới khoa học gia, kỹ nghệ gia, chủ
nhân ngân hàng và lãnh vực truyền thông, báo chí, điện ảnh v.v.
Ngày 29/11/2011 tại Ba Lê, Pháp một "hội trắng đóng kín" (tenue blanche
fermee) tổ chức một buổi họp tại trụ sở Grand Orient de France (GODF),
gần khu Metro Cadet. Họ đã thuyết trình và chứng minh tài liệu liên quan
việc ông Hồ Chí Minh từng gia nhập hội Tam Điểm. Thuyết trình viên cho
biết Nguyễn Ái Quấc được "khai thị" (initie) vào ngày 14/6/1922, ở trụ
sở của chi hội La Federation universelle, hệ phái GODF, số 94 Av de
Sufferen. Tài liệu lưu trong văn khố là một văn thư do hội viên Tam Điểm
Roger Boulanger giới thiệu thấy ghi như sau:
: Nom et Prenom: Nguyen Ai Quac (tên
họ).
: Lieu et Date de Naissance: An Nam 15 fevrier 1895 (nơi và ngày sanh).
: Profession ou Qualite civile: Retoucher Photographe dessinateur (nghề
nghiệp dân sự).
: Adresse: Impasse Compoint E.v 17e (địa chỉ).
: Nom des FF Presentateurs: frere Boulanger Roger 2e (tên họ những huynh
đệ giới thiệu).
Chúng ta trở lại ngày 1/5/1776.
![]()
QUỐC TẾ
CỘNG SẢN VÀ CỘNG SẢN QUỐC TẾ
Phần:
01
| 02 |
03 | 04 | 05
| 06 |
Đầu trang
03. "CỘNG SẢN Ở VIỆT NAM LÀ AI? LÀ
MỘT HỘI KÍN ĐÃ CHIẾM TRỌN MỘT QUỐC GIA"!
Kính thưa bạn đọc,
Xem lại 6 điểm chính trong bản cương lĩnh của hội kín Sáng Tuệ, chúng
tôi cũng như bạn đọc, thấy ngay rằng đảng cộng sản ở Việt Nam gần như
thực hiện đủ 6 điều này từ năm 1930 tới nay, 2012, và đang tiếp tục duy
trì các hành động đó của một hội kín có từ thế kỷ thứ 18. Suy ra, lịch
sử cũng thật công bằng vì song song với sự có mặt, tồn tại dai dẳng của
cộng sản trên đất nước chúng ta thì cũng có tinh thần đối kháng cộng sản
xuất hiện trong xã hội, tạo được một sức mạnh vô hình và chiến đấu bền
bỉ từ năm 1930 đến hôm nay. Cộng Việt tuy lấn lướt gần một thế kỷ qua
nhưng không còn hy vọng sẽ thắng được đối lực này. Phía những người
chống cộng nói chung, dù đã đối đầu với cộng sản Việt Nam cũng khá lâu
trên nhiều lãnh vực như văn hóa, chính trị tới quân sự, tôn giáo, nhân
quyền v.v. nhưng chưa bao giờ có được một lợi thế áp đảo hẳn thế lực ma
quái đó. Tại sao? Có thể vì quan niệm rằng... "người có chính nghĩa" thì
phải hành động chính trực ngoài ánh sáng, công khai lập đoàn thể, hội
họp, nói ra lý tưởng, kế hoạch, tổ chức nội bộ, địa chỉ v.v. vì phải để
công chúng biết nhằm thu hút sự ủng hộ". Trái lại, cộng sản ở Việt Nam
là một hội kín trá hình, nấp trong bóng tối dưới cái tên như một đảng
chính trị nên họ thấy hết, biết hết các hội, đoàn hoạt động ngoài công
khai. Bởi là hội kín, thu nhận "hội viên" dĩ nhiên phải kín đáo trước
công luận nên các cuộc họp "hội viên", lý lịch cán bộ, sự đi lại hoạt
động, công tác của đảng viên, an ninh quốc phòng, kinh tế, tài chánh
quốc gia v.v. hội kín này phải giữ bí mật. Người của đảng có thể len lỏi
đi các nơi, có tai mắt khắp chốn, cấu kết với thế lực hội kín đa quốc
gia, biết trước những đầu mối đe dọa nên họ luôn có kế hoạch đối phó
v.v. Tổ chức một bộ máy hiểm hóc như vậy và vận hành trong bóng tối mới
khống chế được toàn xã hội, mà trường hợp Việt Nam là một điển hình.
Người ngoài tổ chức đừng mong chi lọt vào guồng máy nội bộ của hội kín
để dòm ngó, phá hoại sự sống còn của một băng đảng lưu manh lạc đường
vào lịch sử. Tóm lại, chính sự khác biệt nhau trong phương cách tổ chức
và hoạt động, giữa công khai và bí mật nên cộng sản ở Việt Nam luôn
chiếm lợi thế trước những đổi thay của thời cuộc. Hơn thế nữa, những
người Việt Nam từng chiến đấu hoặc sẽ tiếp tục đối đầu với cộng sản, từ
người có nhiều kinh nghiệm chính trị tới kẻ có học thức cao v.v. vẫn còn
hiểu biết rất mơ hồ về hội kín ở Âu Châu. Vẫn tin rằng phương Tây, nơi
các thể chế "dân chủ" với "tam quyền phân lập" được ra đời, là mẫu mực
lý tưởng nhất về cấu trúc của những chính phủ pháp trị, công bằng và
minh bạch... nhưng người Việt chống cộng lại không biết hầu hết các
chính phủ ở Âu Châu, ở nước Mỹ đều được lập ra bởi những cá nhân hoạt
động bí mật trong thế giới... hội kín như Tam Điểm; Thợ Đá Tự Do; Sáng
Tuệ v.v.
"Tam quyền phân lập", như nước Mỹ chẳng hạn, gồm Lập Pháp; Hành Pháp; Tư
Pháp, cả ba đều vận hành độc lập, kiểm soát lẫn nhau nên không thể có
lãnh tụ độc tài, phe nhóm độc quyền. Nhìn bên ngoài thì thấy rõ ràng như
vậy nhưng bên trong thì không phải như vậy! Hãy nhìn cho kỹ vào hình cái
tháp (quốc huy thứ hai) sẽ thấy trong đó có tới hai hình tam giác chớ
chẳng phải một. Cái lớn ở dưới không có đỉnh nhọn, nó bị cắt ngang thành
hình "tam giác" có bốn góc! Tách biệt ra hẳn ở trên cao lại có thêm một
hình tam giác nhỏ hơn. Chính hình tam giác nhỏ trên đỉnh mới là nơi nắm
hết quyền lực chính trị, quốc phòng, tài chánh, kinh tế Liên Bang Mỹ.
Đặc biệt hơn dù nó tách ra khỏi cấu trúc (chính phủ) bên dưới nhưng vẫn
thấy và kiểm soát tất. Đó là thông điệp mà hội Tam Điểm và Sáng Tuệ gởi
gắm vào đó từ ngày đầu họ lập ra nước Mỹ, khó mà tin "tam quyền phân
lập" ấy.
Cộng sản ở Việt Nam cũng có cấu trúc tổ chức hình tam giác như thế, vì
lẽ hội kín Sáng Tuệ là cha đẻ của các đảng cộng sản. Họ cũng có ba góc
cạnh căn bản bao bọc tất cả là Chính Trị; An Ninh; Quân Sự. An ninh
(công an) và quân sự là hai yếu tố bảo vệ nền tảng cho đảng, từ dưới
thấp nhất (xã hội) lên nơi cao nhất và bao bọc toàn khối (nội bộ). Chính
trị ở chóp đỉnh là nơi kiểm soát hết tất cả, nhưng nó cũng tách biệt
khỏi toàn khối và cấp dưới đừng mong biết gì về nó, đó là "bộ chính
trị", nơi quy tụ những đảng viên trung thành nhất, hiểu biết rõ nhất về
sự vận hành của đảng, những kẻ nhẫn tâm tàn ác nhất, về nhân cách, học
vấn, kiến thức v.v. là con số không! Đó là một bọn vô lại có được quyền
lực nhờ các biến loạn lịch sử và biết giết người không run tay. Hôm nay
những kẻ sát nhân đó cũng diện "com lê", cũng thắt "cà vạt" như ai...
nhưng bản chất lưu manh, quỷ quyệt trong đầu họ vẫn còn nguyên như thời
đi làm loạn. Nếu có ai mong rằng cộng sản ở Việt Nam sẽ thay đổi chính
sách, cải cách chính trị, mở rộng tự do, dân chủ, nhân quyền v.v. cũng
như mơ tổng thống Mỹ là người Tàu, thủ tướng Tàu là người Nhật, giáo
hoàng người Phi Châu. Những ai nuôi dự tính sẽ soạn kiến nghị, thư ngỏ
này nọ để gởi cho cái đảng đó thì xin quý vị nên dành thời giờ "cầm đàn
khảy tai trâu" vẫn tốt hơn. Những ai đã hoặc sẽ đem kiến thức khoa học,
kinh nghiệm nghề nghiệp của mình về nước hợp tác với cộng sản với hy
vọng họ sẽ học hỏi, cải thiện xã hội, dân chúng được nhờ v.v. xin các vị
đó nên thôi làm chuyện "gởi vàng vào tay cướp"! Tất cả các niềm tin, nỗ
lực nói trên đều vô ích vì không thực tế (ở đây chúng tôi không nói tới
thành phần về nước hưởng thụ hay kiếm tiền nhờ bằng cấp).
Đối với thứ cộng sản rác rưởi, cặn bã như cộng sản ở Việt Nam, đừng mong
chúng từ bỏ quyền lực, và cũng đừng mong rằng các "áp lực" quốc tế làm
họ kiêng dè, tuân thủ các "luật lệ" về quyền dân sự. Hơn ai hết, nhóm
chóp bu cộng sản biết rất rõ nền tảng, cấu trúc các chính quyền ở Âu
Châu, Mỹ chỉ là một thứ xã hội chủ nghĩa "dễ thở" hơn, "dễ nhìn" hơn với
lớp áo tư bản. Hơn thế nữa, tất cả đều cùng một lò mà ra như cộng Việt,
cùng có chung một "sư tổ" là ông Adam Weishaupt nên dĩ nhiên phải chống
lưng lẫn nhau, cùng chơi trò tung hứng bàn cờ chính trị trên sự thống
khổ của nhân loại nói chung, của dân tộc Việt Nam nói riêng. Cộng sản
trên đất nước chúng ta họ không sợ một "chính phủ" nào trên thế gian
này! Họ chỉ lo hai điều là: "tinh thần quật khởi trong tâm thức của
người dân Việt Nam rất mãnh liệt, tuy bị đè nén nhưng vẫn còn đó". Sách
sử còn nhắc nhở: mỗi lúc dân tộc Việt Nam cùng đứng lên thì to mạnh như
ngoại bang cũng phải chạy lùi. Nhưng họ thì không còn nơi nào để chạy.
Điều lo thứ hai: "tinh thần đó sẽ được đánh thức, mà người Việt ở hải
ngoại là nguồn tác động chính". Họ thì không thể ra ngoài kiểm soát hết
được (trừ phi chủ nhà đồng lõa).
![]()
QUỐC TẾ
CỘNG SẢN VÀ CỘNG SẢN QUỐC TẾ
Phần:
01
| 02 |
03 |
04 | 05
| 06 |
Đầu trang
04. MỘT CÁI NHÌN KHÁI QUÁT VỀ HỘI KÍN Ở ÂU CHÂU THỜI TRUNG CỔ.
Từ đầu thế kỷ thứ 5 sau Tây lịch đến cuối thế kỷ thứ 15, Âu Châu trải
qua Thời Trung Cổ (Medieval Time, 5 AD - 16 AD) dưới sức mạnh của thần
quyền là giáo hội Công Giáo La Mã (Roman Catholic). Thời này còn bị gọi
là Thời Tăm Tối (Dark Age). Trong giai đoạn đó rất nhiều hội kín thành
lập. Ban đầu là tín đồ của những đạo cổ xưa hơn như thờ mặt trăng, mặt
trời, vũ trụ, lửa, đá v.v. nhưng nay bị cấm. Họ tuy bị quan binh La Mã
buộc phải cải đạo nhưng một số vẫn lén lút tụ hội, thực hiện các buổi lễ
của tôn giáo mình trong bí mật. Kế đó là các sắc dân chống lại sự chiếm
đóng của La Mã cũng lập hội kín. Rồi những người có kiến thức khoa học,
lịch sử, thiên văn, triết lý v.v. tùy theo lãnh vực mà lập hội kín để
học hỏi, bàn luận những sai lầm của tòa thánh Vatican. Và lúc bấy giờ,
ai bị bắt vì tham gia hội kín sẽ tử hình. Nhưng không vì thế mà dập tắt
được "phong trào" hội kín, họ sống chui núp khắp nơi trong lãnh thổ đế
quốc La Mã. Ngoài ra trước khi có hai đế quốc La Mã và Hy Lạp, đã có một
hội kín ra đời ở Ai Cập hơn 2,000 năm trước Tây lịch, đó là hội Thợ Đá
(the Mason, hội kín Tam Điểm xuất xứ từ hội này). Hội kín Thợ Đá là tổ
chức đáng sợ, đáng nể nhất đối với hai đế quốc nêu trên vì hội viên toàn
là những bộ óc uyên bác nhất, thông thái nhất của Ai Cập. Vì vậy có
không ít giới quý tộc, trí thức, quân nhân La Mã cũng lén xin tham gia
để mong được học hỏi các bí ẩn nằm trong... hình tam giác ("kim tự
tháp").
Đến đầu thế kỷ thứ 16 tới thứ 17 thì xã hội Âu Châu bắt đầu giai đoạn
Phục Hưng (Renaissance Era, cuối Tk 15 đến 17 AD) mở đầu cho Thời Hiện
Đại (Modern Time). Vào lúc này giới trí thức, quý tộc, tu sĩ v.v. như
bừng tỉnh khi tìm học lại những giá trị văn hóa của hai nền văn minh
La-Hy, từ kiến trúc, toán học, quân sự cho tới triết lý, thiên văn, sử
thi, hội họa v.v. Giáo hội tuy nghiêm khắc và cứng rắn hơn, nhưng không
thể cấm cản được hoàn toàn việc lén lút tự tìm hiểu, nghiên cứu của giáo
dân trong xã hội. Quyền lực của tòa thánh Vatican bắt đầu suy giảm. Hội
kín mọc ra như nấm, các quán ăn ở hầm đá, hầm rượu, kể cả gầm cầu, nhà
kho v.v. đêm đêm chật kín đủ hạng người của xã hội Âu Châu. Họ tụ tập
bàn luận đủ thứ chuyện trên đời, kể cả đọc thơ, xướng hát. Có những
người thay nhau đứng trên bục cao để tranh luận, hay nói lên ý tưởng mới
mẻ của mình về xã hội, nhân văn, khoa học v.v. hoặc táo bạo hơn là đọc
những bài diễn văn bốc lửa để kết tội giới thượng lưu, quý tộc và "giáo
triều" Vatican. Chính ở các nơi đó mà Châu Âu rồi sẽ có thêm những triết
gia, khoa học gia và cả các nhà... cách mạng!
Từ những năm trong 1650 tới giữa thế kỷ thứ 18 là Thời Khai Sáng (Age of
Enlightenment, 17-18 AD) rồi tới cuộc Cách Mạng Kỹ Nghệ (Industrial
Revolution, 1750-1850). Những hội kín của nông nô, tá điền cũng được lập
ra nhằm chống lại giới địa chủ quý tộc hoặc chủ đất tỉnh lẻ. Công nhân
của thời kỹ nghệ mới khai sinh cũng thành lập hội kín để đối đầu với
tầng lớp thượng lưu giàu có làm chủ nhà máy.
Hội kín Sáng Tuệ ra đời vào lúc này, ngoài thiểu số trí thức khá giả nằm
trên chóp đỉnh của hội, ba lực lượng chính mà họ nhắm vào để tuyên
truyền, thu nạp là công nhân, nông dân và giới du côn, trộm cướp. Giai
đoạn này trong xã hội Âu Châu đã có rất nhiều hội kín, có đủ loại lý
tưởng mà họ theo đuổi, đủ thứ phe phái và... hệ phái thoát ra từ hội
gốc. Vì vậy trong thế giới ngầm cũng đã xảy ra một cuộc chiến tranh khốc
liệt mà sử sách không nói tới là "Chiến Tranh Giữa Các Hội Kín" (Secret
Societies War). Những hội kín có nguồn gốc xa xưa về vấn đề tín ngưỡng
lần hồi bị đào thải. Các hội lập ra để chống lại giáo hội Công Giáo La
Mã thì bị phân hóa thành nhiều hệ phái, hoặc bị lấn lướt và sáp nhập vào
những hội kín... mạnh tiền và bạo tay hơn. Mỗi sáng bước ra đường, người
dân Âu Châu thường phải bước qua những xác người bị giết chết bí ẩn bằng
dao, bằng giây siết cổ, bao vải đen bao kín đầu v.v., chưa nói tới các
cái chết vì bị đốt nhà, thuốc độc và thuốc nổ. Đó là những hình ảnh dễ
nhìn thấy nhất trong cuộc chiến tranh giành quyền lực của các hội kín.
Quyền lực của tòa thánh Vatican bị loại hẳn ra khỏi các vương triều. Sân
khấu chính trị ở Âu Châu nay các vai trò chính là những ông hoàng, bà
chúa, quý tộc, trí thức và... hội kín. Tuy nhiên, dù có sự tranh giành
ảnh hưởng giữa các hội kín lan ra ngấm ngầm như một cơn dịch, có nhiều
tổ chức bị truy diệt, bị xóa tên nhưng riêng một hội kín không ai có thể
đụng tới được là hội Thợ Đá (the Mason), "hoàng đế" của tất cả các hội
kín. Hội này cũng có nhiều hệ phái, kể cả Tam Điểm và một hệ phái ra đời
tại Anh là hội kín Thợ Đá Tự Do (the Freemason), một thế lực lập ra Liên
Bang Mỹ.
Tóm lại, Âu Châu từ thế kỷ thứ 5 tới cuối thế kỷ thứ 15 đã có nhiều hội
kín ra đời vì áp lực đè nén xã hội của giáo hội Công Giáo. Kiến thức
hiểu biết về cổ sử, nhân văn, khoa học v.v. phần lớn đều nằm trong tay
giới tu sĩ trung thành với giáo hội. Do đó giới trí thức, người có hiểu
biết buộc phải thành lập hay gia nhập hội kín để thỏa mãn sự học hỏi,
nghiên cứu riêng cho mình, họ không còn sợ bị cấm đoán và trừng phạt bởi
các giáo luật của hội thánh. Từ đầu thế kỷ thứ 16 kéo dài tới cuộc cách
mạng kỹ nghệ (1750-1850), bên cạnh những xáo trộn của xã hội như dịch
bệnh, chiến tranh, triều đại nào đó bị lật đổ v.v. thì giới trí thức
cũng tỏa sáng với những phát kiến mới mẻ nhất trong nhiều lãnh vực... mà
người châm ngòi cho cuộc thoát ly trí tuệ ra khỏi ảnh hưởng giáo hội là
nhà thám hiểm hàng hải Christopher Columbus (31/10/1451- 20/5/1506, gốc
Ý Đại Lợi nhưng thần phục Tây Ban Nha). Sau đó là những nhân vật xuất
chúng mà các tư tưởng, công trình của họ làm đổi thay sâu rộng xã hội
loài người đến tận hôm nay. Tiêu biểu như:
Francis Bacon (22/1/1561 - 9/4/1626, triết gia người Anh);
Galileo Galilei (15/2/1564 - 8/1/1642, nhà thiên văn học, toán học,
triết gia Ý Đại Lợi);
Rene Descartes (31/3/1596 - 11/2/1650, triết gia Pháp);
Thomas Willis (27/1/1621 - 11/11/1675, nhà khoa học Anh);
Robert Boyle (25/1/1627 - 31/12/1691, nhà khoa học, triết gia Anh);
John Owen (1616 - 24/8/1683, giáo sư thần học Anh);
Richard Lower (1631 - 17/1/1691, nhà thiên nhiên học, bác sĩ Anh);
John Locke (29/8/1632 - 28/10/1704, triết gia Anh);
Robert Hooke (28/7/1635 - 3/3/1703, triết gia Anh);
Isaac Newton (25/12/1643 - 20/3/1727, nhà thiên văn, vật lý, toán học,
thần học Anh);
Francois Marie Arouet (Voltaire là bút danh, 21/11/1694 - 30/5/1778,
triết gia Pháp);
Charles-Louis de Secondat, Baron de La Brede et de Montesquieu
(18/1/1689 - 10/2/1755, nhà tư tưởng, triết gia Pháp);
Jean Jacques Rousseau (28/6/1712 - 2/7/1778, triết gia Thụy Sĩ);
Georg Wihelm Friedrich Hegel (27/8/1770 - 14/11/1831, triết gia Đức);
Immanuel Kant (22/4/1724 - 2/2/1804, triết gia Đức);
Adam Smith (5/6/1723 - 17/7/1790, triết gia Tô Cách Lan);
Charles Robert Darwin (12/2/1809 - 19/4/1882, nhà thiên nhiên học Anh);
Friedrich Wihelm Nietzsche (15/10/1844 - 25/8/1900, triết gia Đức) v.v.
Những người nêu trên, dĩ nhiên họ cũng phải vào hội kín như bao trí thức
cùng thời tại Âu Châu, nhưng phần lớn đã gia nhập vào hội Thợ Đá (the
Mason. Hội Thợ Đá có nguồc gốc ở Ai Cập, len lỏi vào Âu Châu hoạt động
đã lâu đời và lạc mất đầu mối chốn xa xăm. Họ cũng không rõ lắm người
xưa vì sao lập ra tổ chức này. Mãi tới năm 1717, khắp Âu Châu chỉ còn 4
phân bộ được coi là "già" nhất trong làng hội kín, họ đã tổ chức một
cuộc họp tại Luân Đôn, nước Anh và bầu ra một Tổng Bộ, đổi tên thành Thợ
Đá Tự Do (the Freemason). Sau đó tại mỗi nước cũng lập ra một tổng bộ,
nhưng hệ thống quyền lực của hội này đều nằm ở nước Anh. Hội viên của nó
là giới hoàng gia, quý tộc, chủ ngân hàng, kỹ nghệ v.v. chiếm đa số.
Tính tới nay, 2012, khắp thế giới có hơn 7 triệu hội viên Thợ Đá Tự Do,
nước Mỹ chiếm gần 4 triệu. Toàn cầu họ có hơn 40,000 phân bộ và 200 tổng
bộ. Tuy có hơn 7 triệu hội viên nhưng chỉ có khoảng 600 người mới biết
các bí mật về hội kín đó).
Hội kín Sáng Tuệ do ông Adam Weishaupt lập ra ngày 1/5/1776 ở vùng
Baravia thuộc Phổ (Đức), là vào giai đoạn máy móc kỹ nghệ mới được khai
sinh tại Âu Châu. Như đã trình bày sơ qua ở phần đầu, cũng vì mang lòng
oán hận về chuyện Dòng Tên bị bức tử vào ngày 21/7/1773 bởi Đức Giáo
Hoàng Clement XIV, ông ta lập hội kín này với mục đích trả thù xã hội.
Với tham vọng lật đổ, đảo lộn tất cả những nền móng truyền thống cũ, từ
thần quyền đến thế quyền, và thiết lập một trật tự mới mà mơ ước lớn
nhất của ông là con người phải tuyệt đối được tự do. Vì thế ông đưa ra
bản cương lĩnh với 6 điểm chính được coi là mới mẻ, hấp dẫn và táo bạo
nhất trong thế giới hội kín vào lúc đó.
Chúng ta thử xem lại 6 điểm này của hội Sáng Tuệ:
(1): Lật đổ hết tất cả các triều đại quân chủ trên toàn cầu. Trấn áp hết
các hình thức chính phủ nào khác nếu có trong tương lai (Vô chính phủ).
(2): Tước bỏ quyền làm chủ đất đai và những gì có trên mặt đất của người
dân (Vô tài sản, chống tư hữu).
(3): Bỏ luôn quyền thừa kế gia tài (Vô đạo đức).
(4): Cấm tiệt lòng yêu thương quê hương đất nước của riêng mình, xo'a bỏ
những khái niệm về quốc gia, dân tộc (Vô tổ quốc).
(5): Thiết lập một nền giáo dục chung cho trẻ em (Vô văn hóa, tuyên
truyền). Dẹp luôn sự tôn kính trong gia đình, cấm hẳn vấn đề lễ lạc,
cưới hỏi (Vô gia đình).
(6): xóa bỏ hết tất cả các thứ tìn ngưỡng, tôn giáo đang có trên thế
giới (Vô tôn giáo).
Đọc xong 6 điều này, chúng ta thấy đảng cộng sản ở Việt Nam hiện giờ vẫn
còn làm rất giỏi bài học đó của "đại sư tổ", người tạo ra cái quái thai
cộng sản cách đây 236 năm!
"Dân ngu, nước khổ. Thời như vậy?
Người sáng, đất vui. Thế mới hay"!
(Trộm).
Con người Âu Châu "sơ khai", sau giấc ngủ dài cả ngàn năm dưới bóng đêm
của thế quyền và thần quyền, khi thức tỉnh (Phục Hưng) và nhận chân ra
sự thật (Khai Sáng) họ chẳng còn chi để mất thì chuyện tổ quốc, gia
đình, đạo đức, văn hóa, chính phủ, tài sản có mất cũng không sao! Mọi
thứ sẽ là của chung cho những ai cùng sống trên quả đất này. Lý tưởng
quá! Vậy là người ta xin vô hội Sáng Tuệ khá đông từ những ngày đầu. Lễ
tuyên thệ nhập hội tổ chức trong bí mật với các nghi thức rất trịnh
trọng. Những người gia nhập buổi đầu là giới chủ nhân kỹ nghệ, chủ ngân
hàng, luật sư, trí thức v.v. Họ mau chóng trở thành nhóm chóp đỉnh trong
hội (cái đầu). Nhưng đọc kỹ lại 6 điều trên thì thấy toàn là chuyện khó
làm đối với người giàu sang và có học. Muốn thực hiện được "lý tưởng"
đó, chỉ có cách duy nhất là không ra mặt công khai, bỏ tiền ra thuê mướn
hoặc kết nạp người nhẹ dạ, kẻ nghèo khổ, giới côn đồ vô lại, bọn trộm
cắp lưu manh v.v. và đưa họ vào các kế hoạch đi tạo biến loạn như đốt
trường, phá chợ, ném thuốc nổ, ám sát viên chức, khiêu khích nhà cầm
quyền, biểu tình, đình công, xúi nông dân phá hủy nông sản, nổi loạn
v.v. Một khi phía công quyền ra tay đàn áp, sẽ là cái cớ để hội kín Sáng
Tuệ kêu gọi một cuộc tổng nổi dậy hoặc một cuộc cách mạng. Các thành
phần vừa kể sẽ là nền tảng (hai chân), là động lực vận hành chính cho tổ
chức mỗi khi đi làm loạn. Tầng hạ cấp đó hội Sáng Tuệ cần rất đông nhưng
cũng sẽ đào thải rất nhiều vì họ chỉ là lớp lót đường. Chỉ có một con số
rất nhỏ trong tầng đáy đó mới được đưa lên cấp cao hơn, nếu kẻ đó có
những tính cách đặc biệt khác người, nhất là phải trung thành và kín
miệng. Hầu hết các cơ cấu quan trọng nhất trong hội đều lọt vào tay nhóm
quyền lực ở chóp đỉnh. Các vị trí quan trọng thấp hơn cũng được giao cho
tay chân tin cậy, người thân của nhóm ở trên cao.
Lúc bấy giờ ở những nước như Nga; Phổ; Pháp; Anh; Tây Ban Nha; Ý Đại Lợi
v.v. có khá nhiều nhà máy, khu kỹ nghệ... phun khói mịt mù. Các khu phố,
xóm nhà lụp xụp tồi tàn cũng mọc lên gần đó, nơi những người thợ thở
trong bụi khói cùng với bệnh tật, trộm cướp, gái mãi dâm lui tới thường
xuyên. Giới nông dân bỏ ruộng đồng dồn về thành phố kiếm việc làm, không
có việc thì lang thang phiêu bạt, gặp gì làm nấy hoặc túng quá cũng làm
liều, kể cả được mang danh là đi làm... cách mạng. Những cuộc đời bất
hạnh đó, là nguồn cung cấp nhân lực dồi dào nhất cho các hội kín. Là nơi
những tâm hồn mộc mạc, ít học, thiếu thốn rất dễ bị thu hút bởi các lý
luận về nhân sinh, cuộc sống và lý tưởng... cách mạng!
Con đường cách mạng lối đó cũng chính là con đường mà anh Nguyễn Tất
Thành (Hồ Chí Minh) đã đi làm... cách mạng. Thế rồi ông chết đi, nhưng
để lại trên quê hương Việt Nam một băng đảng hội kín với vô số những tội
ác ngập đầu. Những kẻ sống bằng bạo lực, cướp chủ quyền đất nước của dân
tộc Việt Nam nhưng mạo xưng là đi làm cách mạng, là giải phóng quê
hương!
Kính mời bạn đọc trở lại phần nói về hội Sáng Tuệ.
Giữa tháng 7/1785: Một hội viên Sáng Tuệ bị sét đánh chết lúc trên đường
đi tới vùng Silesia, tỉnh Bavaria thuộc Phổ (Bắc Tiệp Khắc, Tây Nam Ba
Lan ngày nay). Nhà chức trách địa phương cho khám xác nạn nhân, họ tìm
được một bức thư quan trọng giấu trong người. Đây là một bức thư tối mật
mà hội Sáng Tuệ gởi đến các phân bộ chuẩn bị cho ngày "tổng nổi loạn",
do tổng bộ tổ chức nhiều nơi ở Bavaria. Chính quyền liền báo động trong
toàn tỉnh. Họ tung ra nhiều cuộc lùng bắt hội viên Sáng Tuệ suốt 14
tháng. Ngay cả thủ lãnh, ông Adam Weishaupt cũng không chạy thoát.
Năm 1786: Hàng trăm hội viên cao cấp của Sáng Tuệ bị đưa ra tòa Bavaria
xét xử. Hầu hết đều bị kết tội âm mưu gây bạo loạn, phản nghịch với bản
án là tử hình, trong đó có cả ông thủ lãnh. Sau khi các bản án được công
bố, các hội viên cũ của Dòng Tên, giới quý tộc, chủ ngân hàng, kỹ nghệ
đã ráo riết vận động ân xá cho ông Adam W. nên bản án được đổi thành
trục xuất, đuổi ra khỏi Bavaria. Ông ta chọn Thụy Sĩ, nơi lúc ấy được
coi là "thủ đô" của hội kín, những hội có "máu mặt" nhất Âu Châu. Ở Thụy
Sĩ ông Adam W. được coi là thượng khách của giới giàu có, quý tộc và cả
những mục sư theo đạo Cải Cách đang nghiến răng thề sống chết với
Vatican. Ông cũng được các trường đại học mời thuyết giảng về ý tưởng
toàn cầu hóa với một chính phủ duy nhất cho loài người, một quân đội duy
nhất, một ngân hàng độc nhất, xóa bỏ thuyết quốc gia cục bộ, phá vỡ biên
giới giữa các nước, dẹp hết tôn giáo, v.v.
Năm 1789: Tổng Bộ Thợ Đá (the Mason) Anh thành lập ở Trung Hoa một Phân
Bộ Tam Điểm gọi là Hội Tam Hoàng, có liên quan mật thiết với chùa Thiếu
Lâm. Mục đích lập phân bộ này là tạo biến động để gây thêm khó khăn cho
triều đình Mãn Thanh.
Sau vụ toan làm loạn bị đổ bể ở Bavaria đế quốc Phổ năm 1785, hội kín
Sáng Tuệ được sự chú ý của giới chủ nhân kỹ nghệ tại Âu Châu mà Thụy Sĩ
là chốn họ gặp gỡ, nơi ông Adam Weishaupt sống lưu vong. Lần này, Tổng
Bộ Trung Ương Sáng Tuệ (the Illuminati - Grand Central Lodge) hành động
cẩn thận hơn, vì mục tiêu sắp tới sẽ là một triều đại "yếu ớt" ở Âu
Châu. Và họ đã chọn nước Pháp để làm thí nghiệm lần đầu cho tư tưởng
"liên tiếp gây bạo loạn sẽ cướp được chính quyền"! (Tư tưởng này vào lúc
đó lại thích ứng với tầng lớp công, nông nghèo khổ đang muốn nổi loạn,
nó đã thành một "phong trào" có chiều hướng lây lan khắp Âu Châu. Về
sau, Đệ Tam Quốc Tế Cộng Sản đã dựa vào ý tưởng đó để soạn nên một cuốn
"binh thư" gọi là "Chiến Lược Chiến Tranh Cách Mạng", ông Nguyễn Tất
Thành (HCM), học viên của Trường Đại Học Công Nhân Phương Đông là người
học rất thuộc lòng cuốn "binh thư" đó).
Trong tháng 5/1789: hội Sáng Tuệ bắt đầu tung ra vài cuộc tập trung
người đi biểu tình và đốt phá ở thủ đô Ba Lê, Pháp. Trong lúc này, triều
đình vua Louis XVI (23/8/1754 - 21/1/1793, lên ngôi 1774, thuộc dòng
tộc Bourbon) phải lo đối phó với giới trí thức và nhà giàu, họ đòi hỏi
về quyền dân sự của người dân Pháp mà họ là "đại diện"!
Ngày 14/7/1789: hàng ngàn người do hội Sáng Tuệ xúi giục khích động, rầm
rộ kéo tới nhà tù Bastille ở thủ đô Pháp với cuốc, xẻng, cào cỏ, gậy
gộc, dao, búa... súng và thuốc nổ. Họ tấn công và chiếm được nơi đây,
chém đầu viên sĩ quan chỉ huy và giải thoát tù nhân, mở màn cho "Cuộc
Cách Mạng Pháp" (the French Revolution 1789 - 1799. Vua Louis XVI tuy
vẫn được tại vị và chấp nhận nhiều đòi hỏi của phe "cách mạng", nhưng
trước áp lực của họ ngày càng tăng nên năm 1791 ông bỏ trốn và bị bắt
đưa về ngục thất tại Ba Lê. Ngày 20/1/1793, vua Louis XVI bị "cách mạng"
xử tội chết, ông bước lên máy chém ngày hôm sau (21/1) mà đoạn đầu đài
được dựng ngay giữa đường phố thủ đô nước Pháp).
Ngay sau khi cuộc "cách mạng" đẫm máu đó thành công, một trong các lãnh
tụ của biến cố này nhưng không thuộc hội kín Sáng Tuệ, ông Jean Pierre
Louis de la Roche du Maine Marquis de Luchet (1740 - 1792)... đã cho phổ
biến một bản tin trong hội riêng của mình, do ông ta viết để báo động
với hội viên nội bộ: ... "Cuộc cách mạng của chúng ta từ đầu đã bị dàn
dựng trong bí mật bởi hội kín Sáng Tuệ. Nay cuộc cách mạng ấy đã bị họ
sang đoạt và đang thao túng. Hội kín này là một tổ chức ghê gớm hơn
những gì người ta biết về nó. Châu Âu không phải mục tiêu của Sáng
Tuệ... mà toàn thế giới! Vũ khí chính của nó là tư tưởng của Adam
Weishaupt, họ còn được trang bị súng, thuốc nổ, ám sát, bắt cóc, tống
tiền và các kế hoạch xúi nông dân, thợ thuyền nổi loạn cho tới khi nhà
cầm quyền sụp đổ. Những kẻ đứng đầu hội kín Sáng Tuệ gồm các quý tộc
giàu có, chủ nhà băng, kỹ nghệ v.v. là lớp người cả đời chưa từng đổ mồ
hôi để đổi chén cơm, manh áo"... (bản văn này chỉ luân lưu trong nội bộ
một hội kín, giới "công, nông"... nghèo và dốt không hề biết họ bị "cách
mạng" lợi dụng).
Ngày 7/8/1814: Đức Giáo Hoàng Pius VII (1740 - 1823) ban một Giáo Lệnh
cho phép Dòng Tên hoạt động trở lại, cũng như được trả đầy đủ các lề
luật riêng đã có trước đó của dòng tu này. Lúc biết tin, khắp Âu Châu
xôn xao rồi sóng gió nổi lên, mạnh miệng nhất là quý tộc, nhà giàu và
khoa bảng đã kết án tòa thánh Vatican cố tình dung dưỡng "đứa con hư
hỏng" của mình. Những quốc gia Tây-Bắc Âu Châu tự nhận mình là người
"Bên Này-Núi" (Cis-Montanes, dãy núi Alps), họ gọi các nước thường trung
thành với tòa thánh ở Đông-Nam Âu Châu là kẻ "Bên Kia-Núi"
(Ultra-Montanes). Xin xem lại phần cuối của Ngày 21/7/1773 ở đầu bài).
![]()
QUỐC TẾ
CỘNG SẢN VÀ CỘNG SẢN QUỐC TẾ
Phần:
01
| 02 |
03 | 04 |
05
| 06 |
Đầu trang
05. SỰ RA ĐỜI CỦA QUÁI VẬT QUỐC TẾ CỘNG SẢN.
"Các vĩ nhân gần như luôn là những kẻ xấu" ("Great men are almost always
bad men").
"Quyền lực dẫn tới sự tha hóa và quyền lực tuyệt đối là thối nát tuyệt
đối" ("Power tends to corrupt and absolute power corrupts absolutely".)
(John Emerich Edward Dallberg - Acton, 10/1/1834 - 19/6/1902, còn được
biết là (Sir) Lord - John Acton, một sử gia và chính trị gia người Anh).
Trong năm 1836: Một chàng sinh viên 18 tuổi lúc đang học ở trường Đại
Học Bá Linh, đã được nhận vào Câu Lạc Bộ Tiến Sĩ (the Docter Club), một
hội kín tổ chức trong các trường đại học để tìm những người có những ý
tưởng nổi bật, táo bạo v.v. Họ đã tìm được ông Karl Heinrich Marx
(5/5/1818 - 14/3/1883, tên thật trong tiếng Do Thái là Moses Mordecai
Marx Levy).
Năm 1841: Karl H. Marx được một hội viên cao cấp của Câu Lạc Bộ Tiến Sĩ
giới thiệu với Hội của Sự Công Chính (the League of the Just, còn được
biết dưới tên khác là the League of Just Men, Hội Những Người Công
Chính, là một hệ phái vòng ngoài của hội kín Dân Ba Lê Ngoài Pháp Luật
(the Parisian Outlaws League), và cái hội vòng ngoài "vô pháp luật" này
cũng chỉ là một lớp vỏ bên ngoài của hội Sáng Tuệ. Người giới thiệu K.H.
Marx làm quen hội kín đó là ông Moses (Moshe) Hess, 21/1/1812 -
6/4/1875, một triết gia Do Thái và cũng là người giữ một vai trò quan
trọng trong việc đảo ngược các luận điểm của triết gia G. W. F Hegel, từ
"tinh thần (yếu tố con người) là yếu tố chủ đạo của lich sử" biến thành
"vật chất là yếu tố chủ đạo". Ông ta nhận xét về K. H. Marx như sau: ...
"Tiến Sĩ Marx, đó là tên một thần tượng của tôi, người còn rất trẻ nhưng
sẽ cho đám chính trị và tôn giáo thời trung cổ nếm mùi cái chết của
họ"... ("Dr. Marx, that is the name of my idol, is still a very young
man who will give medieval religion and politics their death blow"...,
cuốn The Portable Karl Marx, trang 22, tác giả Eugene Kamenka, xb 1983).
Sau này một nhà phân tích tâm lý và tâm thần học gốc Thụy Sĩ là Carl
Gustav Jung (26/7/1875 - 6/6/1961) đã nói về K. H Marx như sau: ...
"Marx còn chắc chắn sẽ đuổi thượng đế ra khỏi thiên đường của ổng, và kể
cả sẽ kiện ông ta"... ("Marx will surely chase god from his heaven, and
will even sue him"... (trang 144, cuốn Mystery 666, Don E. Stanton, xb
1977). (Xem đến đây, bạn đọc sẽ không còn thấy khó hiểu vì sao một hội
kín mẹ luôn lập ra các hội con ở vòng ngoài, bí mật hoặc công khai. Có
làm như vậy mới vừa che dấu được đầu não chính, vừa càng dễ bịp được
nhiều người, dễ qua mặt công luận cũng như nhà cầm quyền sở tại. Cộng
sản ở Việt Nam cũng tổ chức hệt như vậy từ ngày họ mới hoạt động trên
đất nước này, cũng lập ra nhiều hội bình phong bên ngoài để phân tán,
làm suy yếu những tổ chức không cộng sản, vừa gạt gẫm thêm nhiều người
nhẹ dạ đút đầu vô rọ).
Năm 1843: Karl H. Marx tới Ba Lê, Pháp để học thêm môn kinh tế. Tại đây
ông ta làm quen và kết bạn với ông Friedrich Engels (28/11/1820 -
5/8/1895, công dân Anh gốc Đức-Do Thái, một kỹ nghệ gia, triết gia, nhà
khoa học xã hội. Hơn thế nữa, ông F. Engels còn là hội viên cao cấp của
hội kín Thợ Hồ Tự Do (the Freemason) và là Ủy Viên Trung Ương của Ủy Hội
Tam Điểm (the Trilateral Commission) mà cả hai Tổng Bộ Trung Ương
(Central Grand - Lodge) của hai hội kín này đều đặt tại Anh. Ông F.
Engels thực ra đã được hội kín sắp đặt để làm quen với K. H. Marx. Qua
đó họ có thể tác động, khuyến khích K. H. Marx thăng hoa thêm trí tuệ,
chịu ngồi xuống viết ra những lý thuyết gian dối mà hội kín đang âm mưu
lường gạt loài người. Và để giúp K. H. Marx được yên tâm nghiên cứu và
"sáng tác", thông qua ông F. Engels, hội kín cung cấp bạc tiền để ông
này đủ sống một cách tương đối nhưng không có tiền dư. Đây là nguyên
nhân làm cho K. H. Marx phải bị lệ thuộc vào hội kín ở Anh vì ông thường
bị thiếu hụt tiền để trang trải cho cuộc sống. Từ một chàng trai trẻ 18
tuổi đời, có một bộ óc thông minh, chịu khó học hỏi, nghiên cứu v.v.
nhưng do thiếu kinh nghiệm xã hội, ít từng trải cuộc đời nên bị rơi vào
cái bẫy của hội kín do lớp quý tộc, chủ nhân kỹ nghệ giàu có ở Anh bày
ra. Kết quả là hậu thế sau này, tới nay cũng còn bị mắc lừa vì cứ nguyền
rủa ông K. H. Marx là cha đẻ của tai họa cộng sản, nhân loại không thể
thấy thủ phạm chính vì đã bị che mắt rất tinh vi).
Đầu năm 1844: K. H. Marx rời nước Pháp theo ông F. Engels qua Anh sống
trong hai năm ở nhà ông này để "học hỏi" thêm (gia thế ông F. Engels
thuộc lớp giàu có, cha mẹ từ Đức sang Anh lập nghiệp, lúc đó họ đang làm
chủ một nhà máy kéo sợi bông vải ở Lancashire).
Năm 1846: "Hội Của Sự Công Chính" đổi tên thành Hội Cộng Sản (the
Communist League) và mở "đại hội" lần thứ nhất. Nhân dịp này hội cũng
"chính thức" nhận hai ông F. Engels và K. H. Marx làm hội viên. Vậy là
một trang sử đẫm máu của loài người sắp được diễn ra mà triều đình nước
Anh là thủ phạm chính, khi họ qua tay giới quý tộc, chủ nhân kỹ nghệ,
ngân hàng v.v. dàn dựng một học thuyết lừa bịp nấp dưới cái tên "chủ
nghĩa xã hội" hoặc gọi nôm na là "cộng sản" (cộng hết tài sản của loài
người vào tay một chính quyền duy nhất).
Năm 1847: Hội Cộng Sản mở "đại hội" lần thứ hai ở Luân Đôn. Hai ông K.
H. Marx và F. Engels được giao trách nhiệm viết bản cương lĩnh hành động
cho Hội Cộng Sản. Hai người phải viết theo tài liệu của hội và chịu sự
hướng dẫn cũng như giám sát của Ủy Ban Trung Ương. Ngoài ra Hội Cộng Sản
cũng đưa ra thời hạn biên soạn, họ khuyến cáo hai người phải hoàn tất
bản cương lĩnh trước ngày 1/2/1848 (sở dĩ có chuyện thúc hối như vậy vì
lúc đó hội kín Sáng Tuệ đã lập xong một kế hoạch "tổng nổi loạn" khắp Âu
Châu, do các hội con con vòng ngoài như cộng sản, tam điểm, thợ đá v.v.
ở từng địa phương cùng phát động sau ngày 1/2/1848. Những nơi họ tổ chức
xúi dân nổi loạn gồm có: Bender, Thụy Sĩ ngày 1/3, Vienna, Áo ngày 12/3,
Parma, Ý ngày 13/3, Venice, Ý ngày 22/3, Luân Đôn, Anh ngày 10/4, nhiều
nơi ở Tây Ban Nha ngày 7/5, Naples, Ý ngày 15/5, đặc biệt ở Pháp ngày
23/2 để châm ngòi cho cách mạng Pháp lần thứ ba hay còn gọi là "Cuộc
Cách Mạng Tháng Hai" (February Revolution, 23/2/1848 - 2/12/1848), trước
đó cũng đã xảy ra cuộc cách mạng lần thứ hai trong năm 1830, gọi là
"Cuộc Cách Mạng Tháng Bảy" (July Revolution). Về mặt tổng thể, âm mưu
nổi loạn của các hội cộng sản đã diễn ra đúng như kế hoạch. Tuy nhiên họ
đã bị thất bại nặng nề vì chính quyền các nơi vẫn còn đủ sức mạnh để đè
bẹp những cuộc bạo loạn. Trở lại chuyện biên soạn bản cương lĩnh mà hai
người nêu trên nhận trách nhiệm trước Hội Cộng Sản. Thực ra hai ông
không cần phải suy nghĩ nhiều lắm về nội dung cần phải viết. Cái gọi là
"tài liệu" mà Ủy Ban Trung Ương trao cho họ chính là bản cương lĩnh với
6 điểm hành động của hội kín Sáng Tuệ, do người sáng lập là ông Adam
Weishaupt công bố ngày 1/5/1776. Vì thế, hai "danh nhân" lừng lẫy của
cộng sản là F. Engels và K. H. Marx chỉ việc ngồi xuống sửa lại văn
phong, thuật ngữ của bản cương lĩnh đó cho hợp với thời đại, và thêm vào
bốn điều nữa mà Hội Cộng Sản đã chỉ thị.
Ngày 1/2/1848: Bản Tuyên Ngôn Đảng Cộng Sản bằng tiếng Đức (das Manifest
der Kommunistichen Pertei) được công bố khắp Âu Châu, vài ngày sau bản
tiếng Anh (the Manifesto of the Communist Party) cũng công bố và cả hai
bản đều không đề tên tác giả (đã gọi là viết mướn thì làm sao để tên
người viết được chớ). Bản Tuyên Ngôn Đảng Cộng Sản gồm có 10 điểm chính
như sau:
(1): Bỏ quyền làm chủ đất đai và đưa tất cả các loại đất vào mục đích
công cộng.
(2): Đánh thuế (hoặc sẽ thực hiện thêm) nặng vào các lợi tức thu nhập.
(3): Đánh thuế vào quyền thừa hưởng gia tài.
(4): Tịch thu hết tài sản của di dân và phản loạn.
(5): Tập trung hết các nguồn tín dụng tài chánh của quốc gia vào tay
chính phủ, và chỉ có "nhà nước" mới được quyền giữ toàn bộ tổng sản
lượng quốc gia.
(6): Đặt hết vấn đề giao thông như hàng hải, đường bộ và những lãnh vực
truyền thông như báo chí, bưu điện, sách, in ấn, xuất bản v.v. vào dưới
sự kiểm soát của chính phủ.
(7): Sự hoạt động của các nhà máy và dụng cụ sản xuất phải do "nhà nước"
quản lý. Đưa nông nghiệp vào đất bỏ không và cách khai thác đất phải
thuộc một kế hoạch chung.
(8): Bình đẳng trách nhiệm cho tất cả những người lao động. Thiết lập
một đội ngũ công nhân cho nền kỹ nghệ, đặc biệt trong lĩnh vực nông
nghiệp.
(9): Phối hợp giữa nông nghiệp và công nghiệp. Từ từ xóa bỏ sự ngăn cách
giữa quốc gia và đô thị bằng sự phân bố dân số đồng đều hơn.
(10): Lập nền giáo dục miễn phí cho trẻ em với hệ thống trường công lập.
Cấm dùng trẻ em lao động trong các nhà máy như hiện tại (1848). Phối hợp
giữa giáo dục và kỹ nghệ sản xuất.
(Hội cộng sản, tuy là con đẻ của hội kín Sáng Tuệ, nhưng từ năm 1776 tới
1848 cũng đã hơn 70 năm. Trong thời gian đó xã hội Âu Châu đã có lắm đổi
thay, kể cả dân trí nơi thành thị và nhận thức ở nông thôn của người
dân, nói chung không còn quá "ngu" như trước. Sự thật này buộc cộng sản
phải sửa lại 6 điểm hành động của "sư tổ" Adam Weishaupt. Nếu cứ khư khư
giữ các điểm như "lật đổ hết các loại chính phủ", "tận diệt hết tôn
giáo", "phá nát những nền tảng đạo lý gia đình", "cấm yêu tổ quốc" v.v.
thì nó quá trắng trợn, khó hấp dẫn được dư luận nên về lâu dài cộng sản
khó thực hiện được mục đích. Tuy nhiên, nếu đọc kỹ từng điểm trong bản
tuyên ngôn nói trên của cộng sản, người ta vẫn thấy thấp thoáng đâu đó
cái hồn ý tưởng của ông Adam Weishaupt. Nghĩa là lợi dụng sự ngây thơ
của kẻ có học, lợi dụng sự ngu dốt của người nghèo khổ, ít học (công
nông), lợi dụng sự hung hăng, tàn bạo của bọn côn đồ lang bạt để tạo nên
một sức mạnh rồi gây biến loạn xã hội để cướp đoạt chính quyền. Hơn thế
nữa, 10 điểm trong bản tuyên ngôn đó là bản đưa ra ngoài công khai.
Trong thực tế, 6 điều chính của hội kín Sáng Tuệ vẫn được các đảng cộng
sản áp dụng trong bí mật. Cộng sản ở Việt Nam là một ví dụ đìển hình của
cơn dịch bệnh là hội kín đi cướp quyền lực, nay đang còn giấu mặt sau
cái gọi là "có công giải phóng, giành độc lập cho đất nước"!? Có công
hay không, lịch sử cũng đã sáng tỏ rồi!).
Ngày 28/9/1864: Được sự hậu thuẫn của giới quý tộc và lớp giàu có tại
Anh; Pháp; Đức; Thụy Sĩ; Tây Ban Nha v.v., cũng như được bí mật yểm trợ
từ các hội kín, hai ông F. Engels và K. H. Marx công bố sự thành lập Hội
Thợ Thuyền Quốc Tế (the International Workingmen Association, có thể đọc
là Hội Công Nhân Quốc Tế).
Trong các năm từ 1864 đến 1872: Khoảng thời gian này, do thường có nhiều
hội viên Hội Thợ Thuyền Quốc Tế lui tới họp kín ở Geneva, Thụy Sĩ nên
người ta khám phá ra hội này trong bí mật còn có tên Đệ Nhất Quốc Tế
Cộng Sản (the First Communist International, đọc gọn hơn là Quốc Tế Một
(the First International). Quốc Tế Cộng Sản Một nửa kín nửa hở ra mặt
làm ồn ào ở Âu Châu một thời gian, tới năm 1876 họ rút vào bí mật để tái
tổ chức, chuẩn bị cho các đợt bạo loạn dữ dội hơn trong tương lai.
Tính đến tháng 3/1865: Đã có hơn 20 hội kín không cộng sản ở khắp Âu
Châu xin tham gia và sáp nhập với Hội Thợ Thuyền Quốc Tế. Tiêu biểu có
những hội kín quý tộc lẫn khủng bố sau đây xin gia nhập: the Marianne;
the Freres de la Republique of Lyons - Marseilles; the Fenians of
Ireland; the Carbonari v.v.
Năm 1868: Bản Tuyên Ngôn Đảng Cộng Sản được in lại và công bố lần thứ
hai. Lần này chính thức đổi tên là Tuyên Ngôn Cộng Sản (the Communist
Manifesto), tên của ông Karl Heinrich Marx cũng được ghi vào bản tuyên
ngôn mới này.
Ngày 10/11/1868: Tại Sài Gòn Việt Nam, hội kín Tam Điểm qua Tổng Bộ -
Pháp (Grand Loge de France, GLDF) cho thành lập một phân bộ Tam Điểm
trên xứ sở này, được nấp dưới cái tên là phân bộ Đông Phương Thức Tỉnh
(Le Reveil de l'Orient) với 18 hội viên ban đầu, người trưởng phân bộ là
Ủy Viên Hải Quân Michel Ember (1837-?). Sau đó, vì thấy trước sự trù
phú, lợi lộc về lâu dài của ba quốc gia mà họ xâm lăng và cai trị là
Việt Nam; Lào; Cam Bốt, tổng bộ ở Pháp cho thành lập thêm ở Ba Lê phân
bộ Đại Đông Phương thuộc Pháp (Grand Orient de France, GODF, phân bộ này
cũng có vài hệ phái như Liên Đoàn Hoàn Vũ (La Federation Universelle,
LFU); Nhân Quyền (Droit Human, DH) v.v. Sau này ông Nguyễn Tất Thành
(HCM) gia nhập hệ phái La Federation Universelle của GODF tại Ba Lê ngày
14/6/1922. Tới ngày 7/7/1922, phòng nhì Pháp và các sở chính trị thuộc
Toàn Quyền Đông Pháp đều được báo cáo đầy đủ việc này). Những ngày đầu
phân bộ Đông Phương Thức Tỉnh chỉ nhận những nguời Pháp, sau đó mới mở
rộng sự kết nạp cho người Việt Nam, trong đó có những vị nổi tiếng như
các ông:
Bùi Quang Chiêu, GLDF (1872-1945);
Cao Sĩ Tấn, GLDF (1893-1974);
Cao Triều Phát, GLDF (1889-1956);
Đặng Trung Chữ, FB3 (Cao Đài,?);
Đỗ Hữu Bư, GLDF (?);
Đỗ Hữu Trí, GLDF (?);
Dương Văn Giáo, GLDF (1892-1945);
Hoàng Minh Giám, GODF (1904-1995);
Lê Lan, DH (?);
Lê Thanh Y, GODF (?);
Lê Thước, GLDF (?);
Minh Luen, GODF (?);
Thang, GLDF (?);
Nguyễn Công Chiêu, GODF (?);
Nguyễn Văn Thinh, GLDF (?);
Nguyễn Văn Vĩnh, DH (1882-1936);
Nguyễn Xuân Đại, GLDF (?);
Phạm Huy Lực, DH (?);
Phạm Quỳnh, GLDF (1892-1945);
Phan Anh, GODF (1912-1990);
Tạ Thu Thâu, FB3 (1906-1945);
Trần Nguyên Hạnh, GODF (?);
Trần Quang Nghiêm, FB3 (?);
Trần Trọng Kim, GLDF (1883-1953);
Trần Văn Lợi, GODF (?);
Trần Văn Thy, GLDF (?);
Trịnh Đình Thảo, GLDF (1901-1986);
Trương Kế An, GODF (?);
Vũ Đình Hoè, GODF (1912-2011);
Vương Quang Nhường, GLDF (1902-?);
Vương Tư Đại, GODF (?) v.v.
Giải thích riêng về chữ FB3 nêu trên: Đầu năm 1945, tổng bộ Tam Điểm ở
Mỹ móc nối được một hội viên Tam Điểm là ông Tạ Thu Thâu nên một hội ái
hữu Tam Điểm thân với Mỹ được bí mật thành lập tại Tây Ninh vào năm này.
Lúc đó Đại Tá William Donovan (1/1/1883-8/2/1959) tuy là Giám Đốc Phòng
Công Tác Chiến Lược (Office of Strategic Service, OSS, tiền thân Cục
Tình Báo Trung Ương sau này, CIA-Central Intelligence Agency) nhưng ông
đặc biệt đảm trách tình báo riêng cho khu vực Châu Á - Thái Bình Dương.
Bên cạnh ông W. Donovan còn có hai người quan trọng nữa cũng đang hoạt
động tại khu vực nói trên là Trung Tướng Joseph Stilwell (19/3/1883 -
12/10/1946), đại diện cao cấp của Mỹ cho Thống Chế Tưởng Giới Thạch
(31/10/1887 - 5/4/1975) của Cộng Hòa Trung Hoa Dân Quốc và Đại Tá Claire
Chennault (6/9/1893 - 27/7/1958), Chỉ Huy Trưởng Không Đoàn Cọp Bay
(Flying Tigers Air-Wing) đang hoạt động ở Côn Minh. Phía Mỹ bước đầu lập
hội ái hữu Tam Điểm ở Tây Ninh là để có "nội tuyến" theo dõi quân đội
Nhật Bản ở phía Nam, Việt Nam. Cả ba vị nêu trên đều là hội viên cao cấp
của tổng bộ Tam Điểm Liên Bang Mỹ. Nên khi ba người lập ra nhóm Tam Điểm
riêng cho khu vực Á Châu - Thái Bình Dương, họ đã lập ra một ám danh là
Huynh Đệ Tự Do 3 (Free Brothers 3) để chỉ riêng những người Việt Nam nào
được họ kết nạp trong khu vực này, từ đó mới có ám tự là FB3 như trường
hợp các ông Đặng Trung Chữ (Cao Đài); Trần Quang Nghiêm; Tạ Thu Thâu.
Trường hợp ông Hồ Chí Minh thì không nằm trong nhóm Tam Điểm FB3, vì ông
ta được "khai thị" nhập hội từ năm 1922 ở bên Pháp. Tuy nhiên, sự kiện
ông HCM được xếp đặt gặp ông C. Chennault tại Côn Minh rồi được ông này
giới thiệu cộng tác với OSS dưới bí danh Lucius, bí số 19, được giúp đỡ
vũ khí, huấn luyện v.v. đều bắt nguồn từ tin (bịp) là phe ông ta cứu
được viên phi công Mỹ ở Cao Bằng trong tháng 1/1945 (Trung Úy William
Shaw). Đó là chuyện láo do Mỹ và Việt Cộng phịa ra. Lý do ông HCM được
nhóm FB3 gíúp là vì, trên tất cả, họ là "Huynh Đệ" Tam Điểm với nhau (đó
là luật của hội kín này) cũng như Mỹ đã giúp nhóm Tam Điểm tại Tây Ninh.
Nếu Mỹ quả thật lòng muốn giúp một lực lượng nào đó để đối phó với Nhật
ở miền Bắc Việt Nam. Tại sao họ không giúp cho những nhóm khác lúc đó
cũng có đại diện ở Côn Minh; Trùng Khánh thuộc lực lượng của các ông Hồ
Học Lãm (1883-?); Nguyễn Hải Thần (1878-1959) và Vũ Hồng Khanh
(1898-1995)?? Hội kín chúng nó cấu kết với nhau để cướp nước Việt Nam là
như vậy đó!).
Năm 1884: Luân Đôn nước Anh, hai vợ chồng Beatrice Potter Webb (2/1/1858
- 30/4/1943) và Sidney James Webb (13/7/1859 - 13/10/1947) cùng với ông
George Bernard Shaw (6/7/1856 - 2/11/1950) lập ra một hội kín có tên Hội
Fabian (the Fabian Society). Cả ba người này vốn là hội viên của Sáng
Tuệ cũng như Tam Điểm, nhưng nay lập riêng thêm hội Fabian vì họ muốn
vươn cánh tay nối dài từ chính trường nước Anh tới tận chính trường nước
Mỹ. (Hội kín Fabian không thu nạp hội viên thuộc thành phần nghèo khổ,
thất học hay côn đồ vô lại, hội chỉ chọn giới thượng lưu trong xã hội
Anh như quý tộc vương triều, chủ ngân hàng, chủ kỹ nghệ, giới khoa bảng,
trí thức nổi tiếng, luật sư, thương gia v.v. Cương lĩnh của hội Fabian
cũng giống như hội Sáng Tuệ là tham vọng làm chủ toàn thể thế giới,
nhưng lại khác ở chỗ nó không trực tiếp tổ chức gây bạo loạn. Tuy nhiên
Fabian sẵn sàng cho các hội kín khác vay tiền có điều kiện khi "cách
mạng thành công"! Nếu hội kín Sáng Tuệ được xem như cha đẻ của Liên Bang
Mỹ (thiết kế cấu trúc chính quyền), thì hội kín Fabian chính là mẹ đẻ
của quốc gia này (thao túng chính trường). Chiến lược của hội kín Fabian
là kiên nhẫn, thực hành rất chậm qua nhiều giai đoạn, có thể mất vài thế
hệ và chấp nhận tốn kém tài chánh cho mục tiêu lâu dài. Vì vậy biểu
tượng ban đầu mà hội Fabian chọn là hình một con rùa, sau đó đổi thành
hình một con chó sói khoác áo choàng lông cừu và đi bằng hai chân. Biểu
tượng ấy hàm ý sự hoạt động của Fabian là chậm nhưng chắc chắn, tuy hiền
lành bên ngoài nhưng có nanh vuốt ở bên trong (cộng sản quốc tế ra đời
từ đây với lớp áo "tư bản").
Tới năm 1900, hội kín Fabian cho lập ra ngoài công khai một tổ chức
chính trị mang tên Ủy Ban Đại Diện Lao Động (the Labour Representation
Committee - LRC), nhưng năm 1906 thì cái "uỷ ban" toàn những kẻ chưa
từng đổ mồ hôi vì lao động đó lại đổi tên là Đảng Lao Động Anh (the
British Labour Party - BLP). Nào đã hết đâu! Bên cạnh Đảng Lao Động Anh,
hội kín Fabian cũng cho vay tiền để một nhóm khác lập ra Đảng Bảo Thủ
(the Conservative Party - CP) để tạo ra hai đối cực chính trị tại nghị
trường nước Anh. Công chúng bên ngoài cứ tưởng đó là hai tổ chức đối lập
nhau, nhưng đó là sự che mắt công luận vì thật ra bên trong cả hai đều
có cùng cha mẹ là hội kín Fabian. Đó cũng là trường hợp của hai đảng
Cộng Hòa và Dân Chủ ở Mỹ, lúc tranh cử thì đấu đá nhau, nhưng phe nào
sau khi thắng cử rồi đều cũng phải làm theo ý của kẻ giàu có bỏ tiền ra
cho mình tranh cử, và những kẻ như vậy đều thuộc hội kín Sáng Tuệ hoặc
Tam Điểm. Vấn đề hai đảng ở Anh và ở Mỹ cử người ra tranh cử (thủ tướng,
tổng thống) thì không có sự gian lận. Hội kín để hai đảng tự do chọn
người xuất sắc nhất của mình, sau cùng thì để dân chúng bầu ra một
người. Và bất cứ người nào sau khi đắc cử, nếu muốn yên vị hay được thêm
nhiệm kỳ nữa thì phải làm theo sách lược của thế lực tiền bạc trong bóng
tối đã từng làm chủ chính trường Anh và Mỹ. Vì thế, Bảo Thủ hay Lao Động
(Anh), Dân Chủ hay Cộng Hòa (Mỹ), Đảng hay Nhà Nước (Việt Cộng)... gì gì
đó thì dù tuy hai cũng vẫn là một, là hai mặt khác nhau của một đồng
tiền như trò chơi sấp ngửa. Nhưng trò chơi ấy độc ác ở chỗ, cái nơi để
họ tung đồng tiền lên rồi rơi xuống lật lên một mặt, đó là cái lưng của
người dân làm lụng cực khổ cả đời để đóng thuế nuôi chúng nó, và còn
phải cảm ơn thế lực ma quỷ đó cho mình được tự do... đi bầu, tự do ngôn
luận, tự do đi làm và đủ thứ tự do... trong một cái lồng son mà không ai
thấy. Vậy Fabian có nghĩa là chi? Ấy là tên của một viên tướng rất giỏi
chiến thuật đánh lén sống vào thời đế quốc La Mã. Tên đầy đủ của ông ta
là Quintus Fabius Maxius Verrucosus, biệt danh Cunctator (275-203 trước
lịch Tây). Lúc đó quân đội "nhà nghề" lừng danh của đế quốc La Mã cứ bị
thua xiểng niểng, khắp đế quốc bị tấn công đốt phá bởi quân đội
Phoenician rất giỏi nghề vượt biển, thuộc "vương quốc" thành phố
Carthage (nay là nước Tunisia, Bắc-Châu Phi). Viên tướng tổng tư lệnh
quân đội Phoenician là ông Hannibal Barca (247-183 BC) thành lập một hạm
đội hải quân dũng mãnh, có thể chở cả voi sang tấn công La Mã (nước Ý
Đại Lợi ngày nay). Quân đội La Mã cứ mỗi lần ra mặt giao chiến thì bị
thua vì không chịu nổi đoàn voi chiến xung trận của quân Phoenician.
Viên tướng La Mã là Fabius phải dùng chiến thuật đánh lén. Đêm đêm mò
tới doanh trại Phoenician đốt phá rồi bỏ chạy... và cũng làm voi của đối
phương chạy tán loạn. Đợi lúc quan binh của Phoenician đang nhốn nháo
dọn dẹp doanh trại thì phía La Mã đem quân tới đánh úp. Mỗi khi họ đi
đánh lén thì cho đốt phá hai ba nơi nên quân Phoenician không thể tiếp
cứu với nhau, cũng có khi tướng Fabius lén đem quân đi vòng đường biển
tới tấn công vào hậu phương của địch là thành phố Carthage. Chiến thuật
đánh lén kiểu đó sau cùng cũng làm phía Phoenician thua trận và bị La Mã
thâu tóm. Hội kín Fabian chọn tên viên tướng ấy để nói lên cương lĩnh
hoạt đông của mình là giấu mặt và đánh lén. Cộng sản ở Việt Nam cũng học
mưu chước đánh lén này, nhưng vì học không thuộc bài nên đánh đâu thua
đó là như vậy).
Năm 1888: Quốc Tế Cộng Sản 1 sau vài năm vắng tiếng nay hoạt động trở
lại ở các nước như Thụy Sĩ; Đức; Pháp; Bỉ; Nga; Anh v.v. Cũng trong năm
này, họ chọn một bài hát riêng cho các tổ chức cộng sản là bài Quốc Tế
Ca (the Internationale. Nền nhạc vốn được soạn từ năm 1871 ở Pháp bởi
ông Eugene Pottier (1816-1887). Phần lời được viết trong năm 1888 cũng
tại Pháp do ông Pierre Degeyter (8/10/1848 - 27/9/1932). Ông này sau bị
kiện bởi chính người em trai là Adolphe Degeyter (1858 - 15/2/1917).
Người em thưa rằng lời nhạc được hai anh em viết chung chớ không phải
một người. Sau rốt, tòa tuyên bố cho ông anh được hưởng quyền là tác giả
Quốc Tế Ca (chỉ riêng phần lời bài hát, còn phần nhạc thì thân nhân
người soạn được thừa hưởng. Để được "độc quyền" hát bài Quốc Tế Ca, các
hội cộng sản khắp nơi mỗi năm phải [trả] 500 quan Pháp cho những người
thừa hưởng tác quyền).
Năm 1889: Một nhóm quý tộc, trí thức, chủ nhà băng, thương gia v.v. tổ
chức một cuộc họp ờ Geneva, Thụy Sĩ và tuyên bố họ là đại diện của Đệ
Nhị Quốc Tế Cộng Sản (the Second Communist International). Phong trào
Quốc Tế Cộng Sản 2 cũng đánh trống thổi kèn ầm ỹ vài năm rồi âm thầm đến
Nga hoạt động.
Năm 1895: Hai hội viên Quốc Tế Cộng Sản 2, và cũng là hội viên hội Sáng
Tuệ là ông Lev (Leon) Davidovich Bronstein, bí danh Trotsky (7/11/1879 -
20/8/1940) và Vladimin IIyich Ulyanov Nikolai, bí danh Lenin (10/4/1870
- 21/1/1924) cùng 9 người đồng hội thành lập Đảng Lao Động Dân Chủ Xã
Hội (the Social Democratic Labor Party, tiền thân đảng cộng sản Nga sau
này).
Tháng 7/1903: Ở thủ đô Brussels vương quốc Bỉ, trong đại hội lần thứ 2,
để dứt khoát chọn đường đi làm... cách mạng... cho mình, Đảng Lao Động
Dân Chủ Xã Hội Nga bị chia làm hai lối rẽ. Phe theo ông V. Lenin thì
nhất định "làm cách mạng cần có bạo lực", sau khi cướp được chính quyền
cũng "tập trung vào trung ương đảng tất cả các quyền" và phải "truyền
bá, yểm trợ bạo lực cách mạng đi khắp thế giới"! Phe theo ông L. Trotsky
thì "làm cách mạng không nhất thiết phải cần bạo lực", nếu thành công
phải "phân tán quyền lực cho đồng đều để tránh sự độc tài toàn trị của
đảng hay của một cá nhân", nên chú tâm "phát triển quốc gia trước khi
nghĩ đến phạm vi thế giới"! Buổi họp kéo dài trong căng thẳng và hai phe
cãi nhau như mổ bò. Phe ông L. Trotsky phần đông là nhà giàu, học giả,
trí thức nên cãi không lại phe ông V. Lenin, phần lớn là côn đồ, vô lại,
một bọn lưu manh đầu trộm đuôi cướp trong số dân Nga lang bạt tại Âu
Châu. Đến lúc mệt và quá nhức đầu, trong nhóm ông L.Trotsky có 7 người
đứng lên bước ra ngoài phòng họp. Ngay lập tức, ông V. Lenin cho người
chặn cứng cánh cửa đã đóng đồng thời yêu cầu những người còn lại bỏ
phiếu quyết định. Kết quả phe ông V. Lenin "thắng lớn" nhờ "lâu la" đông
hơn phe kia. Cuộc họp chấm dứt với hơn một nửa số ghế trong Ủy Ban Trung
Ương lọt vô tay phe dùng bạo lực đi làm cách mạng. Họ cũng được quyền
giữ ngân quỹ nội bộ và chiếm luôn tờ báo "Sự Thật" (Praha) của đảng. Kể
từ năm này, trong đảng cộng sản Nga mới có hai chữ "Số Đông" (Bolshevik,
bolshistvo, số nhiều) và "Số Thưa" (Menshevik, menshinstvo, số ít). Phe
thắng thế nhờ sự tinh ranh của ông V. Lenin, phe Bolshevik, sau này tới
thời ông Iosif (joseph) Vissarionovich Dzhugashvili, bí danh Stalin
(21/12/1879 - 2/3/1953) còn được biết tới là phe "Cộng Sản Toàn Nga"
(All - Russian Communist). Với sức mạnh của bạo lực và bạo loạn, phe
Bolshevik đã chiếm nước Nga năm 1917.
Tháng 11/1904: Ông V. Lenin cùng 7 người thân cận nhất của nhóm
"bolshevik" tới Luân Đôn tìm sự giúp đỡ. Họ đã gặp được ông James Ramsey
MacDonald (12/10/1866 - 9/11/1937), người đang là thủ lãnh Fabian trong
bóng tối, đứng đầu Ủy Ban Đại Diện Lao Động (1906 là Đảng Lao Động Anh)
ngoài công khai và sau này sẽ là thủ tướng Anh trong hai nhiệm kỳ
(1924-1935, lúc được làm thủ tướng, ông ta đưa nhiều hội viên cao cấp
của Fabian vào giữ các chức vụ quan trọng trong chính phủ, kể cả người
sáng lập hội kín Fabian là ông Sidney James Webb cũng làm Bộ Trưởng Lao
Động)! Trong các cuộc họp giữa hai bên, phía cộng sản được đại diện
Fabian cam kết sẽ yểm trợ tài chánh cho một cuộc cách mạng tại đế quốc
Nga. Trước mắt, trong thời gian ở Luân Đôn họ được xử dụng Nhà Thờ Huynh
Đệ (Brotherhood Church) làm nơi hội họp. Họ còn được giúp trước 3,000
bảng anh để tiêu xài từ một công dân Mỹ giàu có (gốc Đức-Do Thái), chủ
hãng xà bông là ông Joseph Fels (1853-1914).
Đầu tháng 1/1905: Nhóm cộng sản ở Luân Đôn cùng ông V. Lenin đi Thụy Sĩ,
từ đây họ xâm nhập vô Nga để chuẩn bị một kế hoạch biểu tình quy mô mà
chắc chắn sẽ bị đàn áp bởi nhà cầm quyền. Đó là điều họ mong đợi để có
cớ đẩy mạnh tuyên truyền, phát triển lực lượng và gây sự chú ý trước dư
luận ở Âu Châu (vào lúc này, các chi bộ cộng sản (đảng Lao Động Dân Chủ
Xã Hội) ở Nga tuy nhiều nhưng tổ chức kết hợp còn lỏng lẻo, không đồng
nhất. Chưa kể tới hai phái "Bols" và "Mens" đang "hục hặc" với nhau. Họ
cần phải làm để đảng viên cơ sở học thêm kinh nghiệm và phát triển tổ
chức.
Ngày 22/1/1905: Khoảng 30,000 người dân Nga gồm giới công nhân kỹ nghệ,
hỏa xa, mỏ than v.v. cùng với gia đình của họ tập trung biểu tình trong
ôn hòa tại thủ đô Saint Petersburg (Petrograd). Đoàn người vừa đi vừa
hát vang những bài ca yêu nước, họ nhắm hướng Cung Điện Mùa Đông mà tiến
tới với mục đích sẽ trao các kiến nghị, yêu sách cho Nga Hoàng Nicholas
II (18/5/1868 - 17/7/1918, có thể ghi là Sa Hoàng (Czar). Suốt cuộc tuần
hành, đoàn biểu tình không gặp sự cản trở nào từ cảnh sát, binh lính
nhưng lúc đến trước quảng trường của Cung Điện Mùa Đông thì họ đối mặt
với một lực lượng cảnh sát, quan binh đang cầm súng đứng chờ. Ngay lập
tức, đủ các loại súng chĩa thẳng bắn xối xả vào đám đông làm mọi người
kinh hoàng bỏ chạy tán loạn. Khắp Âu Châu rúng động khi biết được tin
này. Sau đó chính quyền Nga đưa ra con số có 96 người chết và 333 người
bị thương. Riêng phía chống đối thì cho biết có hơn 4,000 người bị giết,
nhưng theo những người nghiên cứu riêng thì ước tính chừng hơn 1,000
người bị chết vì đạn hoặc do giẫm đạp [lên nhau] lúc hỗn loạn xảy ra.
Biến cố này là một tác động quan trọng nhất để đưa những làn sóng căm
phẫn, bất bình lên cao thêm những năm sau và kéo theo sự sụp đổ của đế
quốc Nga. Dĩ nhiên kẻ thủ đắc nhiều nhất chính là bọn xúi giục, khích
động dân chúng biểu tình nhưng ẩn nấp dưới danh xưng là những nhà cách
mạng cộng sản. Sách sử Nga gọi sự kiện bi thảm đó là ngày "Chủ Nhật Máu
Me" (the Bloody Sunday - 1905). Trong cuốn "Unseen Hand - An
Introduction to the Conspiratorial View of History", Publius Press,
Arizona xuất bản năm 1985, ở trang 101 tác giả Ralph Epperson ghi như
sau: ... "Perhaps the most crucial event in the Russian Revolution
occurred in the spring of 1905, when the British Fabian Society, a
non-violent revolutionary group, met the Bolsheviks, a violent
revolutionary group, in London, England. It was at this meeting that
loans were arranged between the two groups so that the Bolsheviks could
start their revolution. Joseph Fels, a member of the Fabian Society and
a wealthy American soap manufacturer, loaned the Bolsheviks large sums
of money, as did other members of the Fabian"... ("Có lẽ sự kiện then
chốt nhất dính líu tới cuộc Cách Mạng Nga trong mùa xuân 1905, là khi
Hội Fabian Anh, một nhóm cách mạng-không bạo động, gặp gỡ những kẻ
Bolshevik, nhóm làm cách mạng bạo động, tại Luân Đôn, Anh. Trong cuộc
tiếp xúc đó tiền cho vay đã được thỏa thuận giữa hai bên để nhóm
Bolshevik có thể phát động cuộc cách mạng của họ. Joseph Fels, một hội
viên của Fabian và cũng là một dân Mỹ giàu có làm chủ hãng xà phòng, đã
cho đám Bolshevik vay một khoảng tiền lớn, các hội viến khác của Fabian
cũng làm như vậy"...).
Tháng 2/1905: Ông L. Trotsky lẻn về Nga rồi tới ẩn thân ở thành phố
Kiev, nơi ông ta có cả một nhà máy in (máy móc đem về từ Anh, Mỹ) truyền
đơn, bản tin và được đặt dưới một căn hầm kín đáo. Tại đây ông L.
Trotsky đã viết rất nhiều, gần như mỗi ngày, nên khắp các ngõ ngách ở
Nga các đảng viên cộng sản đọc được nhận xét về biến cố vừa qua của một
lãnh tụ cộng sản, phe Menshevik, ông ta bắt đầu đưa ra ý kiến rằng "biểu
tình trong ôn hòa sẽ bị thất thế trước nòng súng của kẻ cầm quyền". Như
vậy lập trường cách mạng bất bạo động của ông L. Trotsky đã có sự thay
đổi qua chủ trương bạo động của ông V. Lenin. Sau hai tháng ẩn nấp ở
Kiev, ông L. Trotsky cho di chuyển các phương tiện in ấn tới thủ đô
Saint Petersburg. Giữa tháng 5/1905, cảnh sát và mật thám phát giác sự
có mặt của ông L. Trotsky trong thành phố nên họ tung ra nhiều đợt truy
lùng, buộc ông ta phải trốn qua Phần Lan hoạt động (vào lúc đó hai vương
quốc Phần Lan, Ba Lan v.v. còn đang là "thuộc địa" của đế quốc Nga).
Ngày 3/12/1905: Toàn bộ nhóm lãnh đạo cộng sản Menshevik ở Phần Lan bị
cảnh sát bao vây bắt gọn, kể cả ông L. Trotsky. Sang năm 1906 cả nhóm bị
đưa ra tòa nhưng chỉ bị truy tố với tội "ủng hộ bọn phản nghịch có vũ
trang". Vì vậy nhóm ông không ai bị treo cổ hoặc lên máy chém, họ chỉ bị
đưa đi lưu đày và ông L. Trotsky thì phải tới vùng Obdorsk, Siberia ở
Đông-Bắc nước Nga).
Tháng 1/1907: Trên đường đi đày bằng xe lửa, nhờ sự giúp sức của các
đảng viên cộng sản ông L. Trotsky đã trốn thoát ở ga Berezov rồi được bí
mật chở tới Thụy Sĩ. Tại đây ông đi tiếp đến nước Anh và kịp dự hội nghị
lần thứ năm của Đảng Lao Động Dân Chủ Xã Hội tổ chức ở Luân Đôn. Tại
Nga, nhà cầm quyền đã phát lệnh truy nã đi các nơi, họ treo giải thưởng
thật cao cho những ai bắt được một trong hai người là V. Lenin và L.
Trotsky (riêng ông J. Stalin thì đang bị lưu đày tại Siberia).
Tháng 6/1907: Hai ông V. Lenin và L. Trotsky cùng 17 ủy viên trung ương
đảng đã tổ chức nhiều cuộc họp với ông James Ramsey MacDonald, với các
đại diện của giới chủ nhân kỹ nghệ tại Âu Châu, Liên Bang Mỹ. Họ đã được
cam kết sẽ có nguồn yểm trợ tài chánh, cho vay lâu dài - cho không trước
mắt, nhằm đẩy mạnh các hoạt động tạo biến loạn cho tới khi "cách mạng
thành công" ở nước Nga.
Tháng 10/1907: Cả hai lãnh tụ Menshevik và Bolshevik rời nước Anh tới
Thụy Sĩ, nơi các ngân hàng đã nhận nhiều nguồn tiền đổ vô trương mục
dưới tên những người xa lạ mà chỉ có hai người này biết. Sau khi ghé
Thụy Sĩ, họ lên đường đi các nơi, lui tới như con thoi giữa các nước
Pháp; Áo; Đức; Ba Lan; Bảo Gia Lợi; Hung Gia Lợi v.v. thành lập thêm
nhiều chi bộ địa phương cho đảng Lao Động Dân Chủ Xã Hội (tiền thân của
những đảng cộng sản ở Đông Âu sau này). Họ cũng gởi nhiều nghị quyết,
chỉ thị, mệnh lệnh và kể cả tiền tới Phần Lan; Nam Tư; Nga cho các chi
bộ cộng sản tại địa phương cố gắng thu nạp thêm nhân sự, tích luỹ vũ
khí, đạn dược, thuốc nổ v.v. và sẵn sàng chờ lệnh của trung ương.
Tháng 1/1912: Hai phe cộng sản mở hội nghị tại Cracow, Ba Lan. Dù hai
bên vẫn còn bất đồng về phương cách làm cách mạng, nhưng một nghị quyết
chung cuộc cũng được đưa ra là hai phe vẫn cần sự đoàn kết để tiến tới
mục tiêu là lật đổ Nga Hoàng. Sau hội nghị, ông V. Lenin đi Thụy Sĩ còn
ông L. Trotsky thì tới Vienna của đế quốc Áo-Hung và tiếp tục tung ra
nhiều bài viết kết án đế quốc Nga.
Ngày 28/6/1914: Một vụ ám sát làm chấn động Âu Châu đã xảy ra ở Bosnie,
Nam Tư (vương quốc Serberia). Hai nạn nhân là Hoàng Tử - Công Tước nước
Áo Franz Ferdinand (18/12/1863 - 28/6/1914) và vợ là Quận Chúa Sophie
Chotek (1/3/1868 - 28/6/1914, tên đầy đủ là Sophie Maria Josephine
Albina Chotek von Chotkow unk Wognin) khi họ đến thăm vương quốc này.
Thủ phạm là một nhóm 6 người và kẻ chỉ huy là người gốc Bosnie. Quan
trọng hơn họ thuộc một hội kín có tên Bàn Tay Đen (the Black Hand), một
tổ chức khủng bố vòng ngoài của cộng sản hoạt động tại Nam Tư. Vụ ám sát
này đã đưa Âu Châu vào biển lửa.
Ngày 28/7/1914: Chiến Tranh Thế Giới Lần Thứ Nhất (First World War hay
World War I (28/7/1914 - 11/11/1918) được châm ngòi khi đế quốc Áo-Hung
công bố lời tuyên chiến đối với vương quốc Nam Tư. Chiến cuộc đã xảy ra
suốt bốn năm, làm thiệt mạng 10 triệu người lính, 7 triệu người dân, gần
20 triệu người bị thương cùng với sự tham chiến của các nước như:
Áo-Hung Gia Lợi; Nga; Pháp; Đức; Ý Đại Lợi; Montenegro; Luxembourg;
Albania; Nam Tư; Bảo Gia Lợi; Lỗ Ma Ni; Bỉ; Hy Lạp; Đế Quốc Ottoman (Thổ
Nhĩ Kỳ); Anh cùng chư hầu thuộc địa là Úc Đại Lợi; Gia Nã Đại; Tân Tây
Lan; Ấn Độ; Liên Hiệp Nam Phi... rồi cả hai nước ở xa lắc cũng bị cuốn
vào cuộc chiến là Mỹ và Nhật Bản).
Ngày 3/8/1914: Ông L. Trotsky phải bỏ trốn khỏi Vienna (Áo) chạy sang
nước trung lập là Thụy Sĩ. Ông ta sợ phải mang họa vào thân vì đế quốc
Nga đã tham chiến chống lại đế quốc Áo-Hung.
Ngày 5/9/1914: Ông V. Lenin cũng trốn tới Thụy Sĩ, bí mật hoạt động tại
hai thành phố Bern và Zurich.
Ngày 19/11/1914: Ông L. Trotsky đến nước Pháp sống gần hai năm và chú
tâm tới tuyên truyền trong giới công nhân. Tới ngày 31/3/1916, ông ta bị
chính quyền Pháp trục xuất vì các hoạt động cho cộng sản. Bí quá ông L.
Trotsky phải tới Tây Ban Nha nhưng cũng bị nước này trục xuất vào ngày
25/12/1916. Sau cùng ông ta lên tàu đi Mỹ, tới Nữu Ước ngày 13/1/1917 và
ở lại đây cho tới khi xảy ra cách mạng ở bên Nga.
Ngày 28/2/1917: Nga Hoàng Nicholas II chấp nhận thoái vị, sau khi chứng
kiến một cuộc biểu tình vĩ đại mà người tham dự đông hơn 350,000 người
gồm công nhân, binh lính, thương gia v.v. mà hơn một nửa có súng đạn. Và
có thể sẽ dữ dội hơn trong những ngày tới. Ông vua hết thời không còn sự
chọn lựa, trước sự đòi hỏi của người dân (bị "cộng sản" và "tư bản" xúi
giục), chế độ phong kiến ở Nga cuối cùng cũng tới hồi chấm dứt.
Ngày 15/3/1917: Một Chính Phủ Lâm Thời được thành lập giữa cảnh đình
công, biểu tình, bạo loạn v.v. xảy ra tràn lan trong lãnh thổ đế quốc.
Hoàng tử Georgy Yevgenyevich L'vov (30/1/1861 - 7/3/1925) được bầu làm
thủ tướng (Tuy vậy tình hình vẫn không được khả quan hơn nên tới ngày
21/7/1917, một nhà hoạt động xã hội, ông Aleksandr Kerensky (4/5/1881 -
11/6/1970) được chọn làm thủ tướng. Ông này vừa nhậm chức đã ra lệnh ân
xá cho những tù nhân chính trị thuộc loại nguy hiểm nhất của phong trào
cộng sản, kể cả hủy bỏ các lệnh truy nã đối với hai ông V. Lenin và L.
Trotsky. Ông này thật tình làm theo "lời khuyên" của những chủ ngân
hàng, chủ các công ty ở Anh; Mỹ và Thụy Sĩ. Họ "khuyên" rằng nếu muốn
cứu vãn tình thế, tái lập trật tự ở Nga chỉ có cách cho những người cộng
sản được tự do hoạt động. Giới nông dân và thợ thuyền sẽ nghe lời hai
người đó hơn là các mệnh lệnh đưa ra từ chính phủ lâm thời).
Ngày 27/3/1917: Ông L. Trotsky rời Liên Bang Mỹ về nước. Cùng đi với ông
có 275 người Nga được tuyển mộ tại các khu phố nghèo nàn của thành phố
Nữu Ước, họ thuộc thành phần du đãng, cướp của, giết người v.v. tại
thành phố chật chội này. Ông L. Trotsky rời cảng Nữu Ước trên chiếc tàu
buôn SS Christiana, trực chỉ cảng Petrograd của Nga. Nhưng lúc tàu ghé
bến cảng Halifax, tỉnh bang Nova Scotia thì ông ta và đoàn tùy tùng bị
nhà chức trách Gia Nã Đại bắt giữ sau khi cảnh sát lên tàu khám xét hành
lý. Cảnh Sát Gia Nã Đại cho biết lý do bắt ông L. Trotsky vì ông này
mang thông hành chính thức của Mỹ nhưng lại là một công dân Nga. Hơn
nữa, họ còn tìm được trên 10,000 đô la tiền mặt giấu trong các va ly,
một tấm chi phiếu trị giá 1 triệu đô được ký tặng cho ông V. Lenin,
người ký là giám đốc ngân hàng chi nhánh Nữu Ước, ông William B.
Thompson (1860-1941(?), công dân Mỹ gốc Anh-Do Thái), và cũng là hội
viên cấp lãnh đạo thuộc ngân hàng Chase National Bank của ông John
Davison Rockefeller, Jr (29/1/1874 - 11/5/1960), một chi phiếu khác ký
cho ông V. Lenin vay một số tiền lên tới 20 triệu đô la, người ký là ông
Jacob Henry Schiff (10/1/1847 - 25/9/1920, công dân Mỹ gốc Đức-Do Thái,
tên thật Jakob Heinrich Schiff), một trong vài ông trùm của tập đoàn
ngân hàng Mỹ Kuhn Loeb and Co; JP. Morgan Chase; Wells Fargo v.v., vài
chi phiếu lặt vặt khác từ những ngân hàng nhỏ của Anh; Đức hoạt động ở
Mỹ cũng ký tặng hai ông V. Lenin và L. Trotsky một số tiền lên tới 5
triệu đô la! Thế nhưng, chính phủ Mỹ đã ngấm ngầm vận động thẳng với
triều đình nước Anh, vậy là lệnh từ Luân Đôn gởi qua thì chính quyền Gia
Nã Đại chẳng còn lý do gì để cầm chân ông L. Trotsky ở bến tàu Halifax
(Mười lăm năm sau, vào ngày 10/6/1932, một dân biểu Mỹ (Cộng Hòa) là ông
Louis Thomas McFadden (25/7/1876 - 1/10/1936), Chủ Tịch Ủy Ban Hạ Viện
về Ngân Hàng và Tiền Tệ Liên Bang (Chairman of the United States House
Committee on Banking and Currency)... đã đem sự thật này ra trình bày
trong 25 phút trước quốc hội của... chú Sam! Ông đã chỉ đích danh thủ
phạm tiếp tay cho dịch họa cộng sản là các nhà tài chánh ở Wall Street.
Họ cấu kết với các ngân hàng trung ương ở Châu Âu, chuyển tiền cho
Bolshevik làm cách mạng tại Nga với sự thông đồng từ Thống Đốc Đoàn của
Tư Dụng Liên Bang (Board of Governors of the Federal Reserve, xin lưu ý
là các thống đốc ngân hàng, không phải thống đốc tiểu bang, cơ cấu Tư
Dụng Liên Bang (Federal Reserve) là do các ngân hàng tư nhân lập ra,
chẳng phải của... chính phủ Mỹ dù nó có chữ "liên bang" dính trong đó).
Dân biểu Louis Thomas McFadden còn vận động tổ chức điều tra vụ này sâu
rộng hơn, và vì làm găng quá nên bốn năm sau ông bị chết thật bí ẩn
trong một bệnh viện. Báo chí Mỹ từ đấy cũng không dám hó hé nhắc tới sự
kiện này nữa... cho tới năm 1964, một cuốn sách được in ra để tố cáo hết
các trò ma muội của "chính phủ vô hình" tại Mỹ là cuốn "Chẳng Ngán Gọi
Đó Là Phản Quốc" (None Dare Call It Treason, Liberty Bell Press, xb
1964). Tác giả là ông John A. Stormer, một cựu quân nhân trong Chiến
Tranh Đại Hàn, nguyên Chủ Tịch Liên Đoàn Tuổi Trẻ Cộng Hòa Missouri
(Chairman of the Missouri Federation of Young Republicans), ủy viên Ủy
Ban Cộng Hòa Tiểu Bang Missouri (Republican State Committee of
Missouri). Ông này khôn hơn, sau lúc sách được xuất bản và trở thành quả
bom tấn nổ vang trong xã hội Mỹ thì ổng bỏ... đi tu, thành một vị mục sư
Tin Lành hiền khô từ thuở ấy. Thêm vào đó là báo chí Mỹ "nỗ lực" hướng
dẫn dư luận chú tâm tới vấn đề Việt Nam (1964/1965) suốt ngày đêm, tội
ác nhờ đó cũng bị lấp che vào quên lãng. Trong cuốn sách đó, nơi trang
28 tác giả ghi rằng: ... " In 1916-1917, Leon Trotsky was in exile in
America. In New York, he recruited, financed, and trained a cadre of
gangsters and hoodlums. Transported to Russia, this hard core of
cutthroat shock troops was used by Lenin and Trotsky to sieze control of
the shaky Kerensky Republic"... ("Trong 1916-1917, Leon Trotsky sống lưu
vong ở Mỹ. Tại Nữu Ước, ông ta tuyển mộ, lo tiền, và huấn luyện cho một
đám toàn du đãng và lưu manh. Chở tới Nga, bọn cô hồn cốt cán bạo binh
chuyên cắt cổ này được Lenin và Trotsky dùng đoạt kiểm soát cái nền Cộng
Hòa đang rung chuyển của Kerensky"). Ê chề hơn, ở trang 27 ông John A.
Stormer còn phán một câu chắc nịch: ... "Every Communist country in the
world literally has a "Made in USA" stamp on it"... ("mỗi nước cộng sản
trên thế giới thiệt ra nó được đóng dấu lên đó là "Chế Tạo tại USA").
Ngày 16/4/1917: Ông V. Lenin cùng 32 thuộc hạ đi xe lửa về tới Ga Phần
Lan (Finland Station) ở Petrograd. Ông ta đến trên một toa tàu đặc biệt,
bọc thép kiên cố và được canh gác, bảo vệ bởi một toán lính Đức đưa tới
tận biên giới. Ông trở về Nga lần này công khai và kín đáo mang theo 10
triệu mác (marks) tiền Thụy Điển. Ngoài ra(marks) các nhà tài chánh
khổng lồ ở Anh; Mỹ; Pháp; Đức cũng đã chuyển vô một ngân hàng Thụy Điển
22 triệu mác cho ông ta vay để... "lo toan" các hoạt động tại Nga, và
còn dài dài. Nguồn tiền to lớn mà hai ông V. Lenin; L. Trotsky có để đi
làm cách mạng đến từ: J.P. Morgan & Co. Rockefellers; Max Warburg;
Alfred Milner - Rothschild; Harriman - Rockefeller - Vanderlip; Paul
Warburg - Jacob Schiff; Goldman Sachs v.v. (trong vòng bốn năm từ 1918
tới 1922 sau khi "cách mạng" thành công, cộng sản Nga đã chuyển đợt đầu
600 triệu rúp (roubles) tiền vàng cho ngân hàng Kuhn. Loeb & Company của
ông Jacob Schiff).
... (Vài dữ kiện về hội kín Fabian và Thợ Hồ Tự Do ở nước Nga: Trong một
chừng mực nào đó, cộng đồng các sắc dân tại Âu Châu vẫn âm thầm coi dân
Nga có nguồn gốc từ Đông-Bắc Á Châu (chủng Mongoloid phương Bắc), qua
các đợt di dân về hướng Tây và Nam thời thượng cổ họ đã tiếp xúc, lai
giống với chủng Caucasoid ở hướng Bắc và Đông - Châu Âu ngày nay. Định
kiến đó cũng được dân Âu dành cho nước Thổ Nhĩ Kỳ ở hướng Đông-Nam Châu
Âu. Người dân tại quốc gia này vóc dáng hơi giống như dân Âu, vẫn còn
vài sắc tộc "cố cựu" Caucasus (Caucas), cũng nằm trong Khối Minh Ước Bắc
Đại Tây Dương (North Atlantic Treaty Organization - NATO) v.v. nhưng vẫn
bị coi là gốc Á (chưa nói tới sự khác biệt trong tín ngưỡng), một xứ sở
"trắng không ra trắng, vàng không ra vàng" cũng như dân Nga ở hướng Bắc.
Trong thực tế, từ xa xưa cho tới nay xã hội nước Nga nói chung đời sống
vẫn thấp hơn xã hội vùng còn lại của Âu Châu. Có một sự cách biệt rõ
ràng trong giao tiếp văn hóa giữa hai xã hội, có thể ngoài vấn đề "chủng
lai" còn có những bất lợi như lãnh thổ quá rộng lớn, nằm xa về hướng
Bắc, giá lạnh, ngôn ngữ v.v. nên nước Nga tới nay vẫn còn đi sau Âu Châu
trong nhiều lãnh vực, kể cả vấn đề... hội kín. Tính đến năm 1800, nước
Nga chỉ có vài hội kín của thương nhân và thảo khấu, chưa có hội kín
chống triều đình, tôn giáo, xã hội v.v. như tại Âu Châu. Tới năm 1814,
những hội kín bạo động hoặc không bạo động ở Âu Châu mới có dịp len lỏi
vào Nga, là lúc liên quân ba đế quốc Áo - Phổ - Nga phá vỡ phòng tuyến
Ba Lê, Pháp ngày 30/3/1814. Sau một ngày của chiến thắng đó, Sa Hoàng
Alexander I (23/12/1777 - 1/12/1825); Hoàng Đế (Phổ) Frederick William
III (3/8/1770 - 7/6/1840); Hoàng Tử (Áo) Karl Philipp F. Schwarzenberg
(18/4/1771 - 15/10/1820) cùng cỡi ngựa dẫn đầu đoàn quân chiến thắng đi
vô kinh đô Ba Lê diễn binh trước mắt dân Pháp (riêng hoàng đế bại trận,
Napoleon Bonapartre (15/8/1769 - 5/5/1821) sau đó bị đưa đi "an trí" ở
đảo Elba, không xa bờ biển phía Tây Ý Đại Lợi. Ông ta "ngoan ngoãn" ở
đây đúng 300 ngày, trốn thoát về Ba Lê ngày 26/2/1815, tái lập quân đội
và uy quyền, "tung hoành" thêm 100 ngày chinh chiến nữa mới chịu thua ở
trận Waterloo ngày 18/6/1815. Lần này liên quân đày ông Napoleon B. đi
thật xa xuống tận ngoài khơi phía Tây-Nam Châu Phi. Cựu hoàng đế Pháp
sống ở đảo Saint Helena (thuộc Anh) và không ngờ mình bị đầu độc thạch
tín, ông qua đời ngày 5/5/1821).
Theo sau vó ngựa của Nga trên đất Pháp là những nhà trí thức, khoa bảng,
người giàu có và kể cả những kẻ phiêu lưu, bọn đầu cơ chính trị người
Nga. Họ muốn tìm hiểu thêm về nước Pháp nên đã tới và dĩ nhiên phải liên
lạc, giao thiệp riêng với những người có cùng sự hiểu biết, có kiến thức
thích hợp với mình. Qua sự giao tiếp, họ mới biết tới thế giới hội kín ở
Âu Châu, có người được bí mật nhận làm hội viên và đem về Nga truyền bá
trong xã hội. Đó là trường hợp của ba ông V. Lenin; L. Trotsky; J.
Stalin v.v.
Từ năm 1814 đến 1914, trong lãnh thổ đế quốc Nga có khoảng 20 phân bộ
(chi bộ), hơn 400 phân tổ (tiểu tổ hạ tầng cơ sở) của khoảng 5 hội kín
khác nhau có tổng bộ tại Châu Âu. Riêng hội kín Thợ Hồ Tự Do ở Anh thì
hoạt động mạnh nhất, có uy tín và ảnh hưởng nhất trong "làng" hội kín ở
Nga. Từ năm 1860 về sau, hội Thợ Đá Tự Do đã lập hai phân bộ Ngôi Sao
Phương Bắc (Northern Star Lodge) và Ngôi Sao Phương Nam (Southern Star
Lodge) ở Nga, tổ chức thu nạp hội viên cũng như Âu Châu, kẻ có tiền hoặc
có địa vị trong chính quyền thì nắm quyền lãnh đạo, kẻ có ăn học, trí
thức, khoa bảng cũng ở trong nhóm chỉ huy nhưng có giai đoạn, họ sẽ bị
đào thải sau khi bị tổ chức lợi dụng cho mục đích tuyên truyền, thu hút
công chúng là giới nông dân, thợ thuyền, người ít học, bọn côn đồ vô
lại, bọn phiêu lưu lợi dụng cách mạng để tiến thân. Cả ba nhân vật "lịch
sử" nêu trên của cộng sản đều là hội viên Thợ Đá Tự Do, phân bộ Ngôi Sao
Phương Nam từ năm 1890, sau đó là hội kín Sáng Tuệ vào khoảng năm 1895.
Nói chung, cuộc Cách Mạng Nga 1917 dù được đánh trống thổi kèn là "công
lao" của cộng sản Nga, nhưng thực chất là do sự dàn dựng của hội kín Anh
và Mỹ, nhất là hội Fabian cũng như tài phiệt Mỹ đã bỏ tiền ra cho hai
ông V. Lenin và L. Trotsky làm "cách mạng". Có tới hàng chục bộ sách nói
tới chuyện này, chẳng hạn như cuốn "Russia 1917" mà tác giả là ông
George Katkov đã tóm tắt sự kiện đó như sau: "There is no doubt,... that
a widespread net of conspiratorial organizations modeled on Freemasons
lodges worked for revolution in Russia, and played a decisive role in
the formation of the first Provisional Government"... ("Không còn nghi
ngờ gì nữa, đã có một mạng lưới lan tỏa trong các tổ chức âm mưu kiểu
phân bộ Hội Đá Tự Do đã làm trong cách mạng ở Nga, và giữ một vị trí
quyết định trong sự tạo ra Chính Phủ Lâm Thời lần thứ nhất"). (Trong bạn
đọc có ai muốn tìm hiểu thêm về sự kiện nêu trên, cũng như về nền "Cộng
Hòa" Pháp, sự ra đời của nước Mỹ, xin tìm đọc thêm nơi những cuốn tiêu
biểu như: "Before the Storm", Baron C. Wrangell - Rokassowsky, Italy,
Tipo - Litografia Ligure. "Building Communism - American Opinion", Gary
Allen. "The Rockefeller Syndrome", Ferdinand Lundberg, "The Rockefeller:
An American Dynasty", Peter Collier and David Horowitz).
Ngày 1/5/1917: Để phô trương thanh thế, tạo thêm hỗn loạn hoang mang
trong xã hội và cũng nhằm răn đe Chính Phủ Lâm Thời của Ông A. Kerensky,
cộng sản Nga đã cho tổ chức nhiều cuộc biểu tình rầm rộ ở các thành phố
lớn, đồng thời xúi giục tiếp tục đình công trong kỹ nghệ sản xuất và hỏa
xa. Nhà cầm quyền càng thêm rối bời, bất lực dù đã cho biết sẽ có bầu cử
vào ngày 25/11/1917 (ngày 1/5 mà cộng sản cho biểu tình ở đây được rêu
rao bên ngoài là ngày "quốc tế lao động", nhưng thật ra ở bên trong thì
hai ông V. Lenin, L. Trotsky muốn gởi một tín hiệu báo tin cho hội kín
Sáng Tuệ và Fabian biết họ đã sẵn sàng làm đúng theo ước muốn của hai
hội này (thời cổ đại, có nhiều sắc dân ở Tây và Nam-Âu thường tổ chức lễ
hội, vui chơi đón ngày tàn Xuân lập Hạ (theo cách tính của lịch mặt trời
là ngày 1/5). Hoa, quả trong các buổi lễ được họ dâng lên cho một thần
nữ với ý nghĩa phụ nữ là hiện thân cho sự đơm hoa kết trái, sanh nở v.v.
để bắt đầu cho một cuộc sống sung túc và ấm áp. Đến khi đế quốc La Mã
thu phục những sắc dân đó, họ không dẹp bỏ phong tục này mà còn chấp
nhận nó như một phần văn hóa của mình. La Mã vì thế có Nữ Thần Flora,
tượng trưng cho các loại hoa, quả và mùa Xuân-Hạ. Nhưng tới ngày
1/5/1776 sau Tây lịch thì ông Adam Weishaupt thành lập hội kín Sáng Tuệ
ở Phổ (Đức), và ngày này lại trở thành ngày thiêng liêng của các hệ phái
thuộc Sáng Tuệ cũng như Tam Điểm về sau. Vào ngày 1/5/1886, ở quảng
trường Haymarket thành phố Chicago Liên Bang Mỹ, một cuộc biểu tình ôn
hòa và có diễn thuyết được tổ chức nhằm đòi hỏi quyền được làm mỗi ngày
8 giờ của giới công nhân. Cuộc biểu tình kéo dài tới ngày 4 tháng 5 với
số công nhân tham dự lên tới hơn 300,000, cảnh sát buộc phải xuất hiện
để giải tán. Một kẻ vô danh đã ném thuốc nổ vào toán cảnh sát có mặt nơi
biểu tình làm chết 1 cảnh sát viên và hơn 50 thường dân bị thương. Cảnh
sát Chicago bắt đầu nổ súng vào đám đông biểu tình, tới nay vẫn không có
một con số rõ rệt về thương vong do cảnh sát gây ra. Ngày 14/7/1889, ở
Ba Lê Quốc Tế Cộng Sản II ra nghị quyết công nhận ngày 1/5 là ngày lễ
"Quốc Tế Lao Động", đồng thời kêu gọi một cuộc biểu tình trên toàn thế
giới vào ngày 1/5/1890 để tưởng niệm biến cố công nhân bị đàn áp ở
Haymarket, Chicago nước Mỹ. Ngày lễ "Quốc Tế Lao Động" theo kiểu cộng
sản bắt đầu có từ đây. Và cho dù có biện minh cách nào đi nữa thì ngày
1/5 vẫn là ngày sinh cha đẻ của cộng sản, hội kín Sáng Tuệ).
Từ tháng 5 đến tháng 9/1917: Các toán "xung kích quyết tử" của ông V.
Lenin được tung ra hoạt động trong bí mật. Họ đã thực hiện hàng trăm vụ
bắt cóc, thủ tiêu hoặc ám sát v.v. mà nạn nhân là những viên chức trong
Chính Phủ Lâm Thời, trong các phe phái ôn hòa, dân túy mà cộng sản cho
là... bọn "phản động". Một làn sóng sợ hãi bao trùm lên các thành phố
lớn ở Nga, nhất là tại Petrograd. Thủ tướng Kerensky phải nhượng bộ tới
mức để cho cộng sản nắm luôn hai lực lượng quân sự ở Petrograd và Moscow
(Mạc Tư Khoa). Có một số đông trong nghị trường đã từ chức, một số khác
từ khước tham gia chính trường dù cuộc bầu cử đã gần kề. Những kẻ cầm
đầu các toán "quyết tử" của ông V. Lenin chính là nhóm 275 người do ông
L. Trotsky mướn và huấn luyện ở Mỹ. Toán "cô hồn cốt cán bạo binh chuyên
cắt cổ" đó, sau sẽ trở thành cán bộ lãnh đạo trung kiên hàng đầu mà ông
V. Lenin chọn để lập ra ba tổ chức sát nhân lớn nhất ở Nga là:
1. CHEKA (Chrezvychaynaya Komissiya - Ủy Ban Đặc Trách, Extraordinary
Commission. Cheka là cách đọc tắt theo tiếng Nga, cơ quan này còn có tên
khác là Ủy Ban Đặc Trách Toàn Nga về Chiến Đấu Chống Phản Cách Mạng và
Phá Hoại - All Russia Extraordinary Commission for Combating
Counter-Revolution and Sabotage);
2. KGB (Komitat Gosudarstvennoi Bezopasnosti - Committee for the State
Security, Ủy Ban An Ninh Nhà Nước);
3. GRU (Glavnoye Razvedyvatelnoye Upravlenie - Soviet Military
Intelligence, Tình Báo Quân Sự Sô Viết).
Trong tháng 10/1917: Khắp nước Nga gần như tê liệt, công nhân đình công,
biểu tình liên miên, nông dân nổi loạn cướp những kho chứa lương thực,
lính tráng lũ lượt đào ngũ v.v. Ông A. Kerensky cho phân phát vũ khí vào
tay công nhân ở thành phố Petrograd để tự vệ, mà cán bộ cộng sản thì nhà
máy nào cũng có nên thợ thầy vác súng theo cộng sản luôn.
Trong hai ngày 6 và 7/11/1917: Cộng sản đưa ra những đoàn biểu tình có
vũ trang, khói đạn mịt mù khắp Petrograd. Ông A. Kerensky không dám ra
mặt và buộc phải trốn khỏi thành phố. Sau đó vượt biên giới, bắt đầu
cuộc sống lưu vong khi ông tới Pháp và ở đây tới năm 1940 (tại Pháp ông
kết hôn với bà Lydia "Nell" Tritton, một cựu ký giả Úc Đại Lợi, năm
1940, trước mối đe dọa của Đức hai ông bà xin di dân tới Mỹ và định cư
tại tiểu bang Pennsylvania. Năm 1945, hai người qua Úc Đại Lợi ở đến khi
bà mất ngày 10/4/1946 thì ông trở về Mỹ. Ông Alexander Kerensky qua đời
ở nhà riêng trong thành phố Nữu Ước ngày 11/6/1970. Một nhà thờ Chính
Thống Nga ở đây từ khước việc làm lễ và mai táng ông. Họ cho rằng ông là
hội viên hội kín Thợ Hồ Tự Do, hơn nữa ông cũng có một phần trách nhiệm
vì để nước Nga rơi vào tay cộng sản. Một nhà thờ Chính Thống khác của di
dân Nam Tư ở địa phương cũng không nhận làm lễ. Sau cùng thi hài của ông
được máy bay chở tới Anh và ông được yên nghỉ tại xứ sở... lắm "sương
mù" này).
Ngày 7/11/1917: Nước Nga kể như hoàn toàn lọt vào tay hội kín Âu-Mỹ qua
trung gian của nhóm "cộng sản toàn Nga" (bolsheviks), do một hội viên
Sáng Tuệ và Thợ Đá Tự Do cầm đầu là ông V. Lenin.
Ngày 8/11/1917: Trong một bài diễn văn trước các đảng viên cao cấp, ông
V. Lenin tuyên bố bãi bỏ quyền làm chủ đất đai. Tất cả đất của nông dân,
địa chủ, kỹ nghệ, nhà thờ v.v. sẽ bị tịch thu và đặt dưới quyền kiểm
soát của "nhà nước sô viết". Cũng từ giai đoạn này, khối "cộng sản toàn
Nga" bắt đầu vẽ ra bản sơ đồ về các ban, ngành, cục, phòng, sở, khối, ủy
ban v.v. cho sự vận hành của đảng, dự kiến trong tương lai sẽ rất quy
mô. Những người thiết kế về tổ chức nội bộ đảng dựa vào mô hình hoạt
động của hội kín Sáng Tuệ thuở trước, nghĩa là "nhái" theo cách tổ chức
của giáo hội Công Giáo La Mã từ trên xuống dưới, họ chỉ cần thêm vào các
cơ cấu mới để đáp ứng với nhu cầu thực tế, nhưng phải là một kiểu mẫu
hợp lý nhất, hữu hiệu nhất không chỉ riêng cho đảng cộng sản Nga, mà còn
cho những đảng cộng sản tại các nước khác trong tương lai. Tới thời ông
J. Stalin, cấu trúc hoàn chỉnh về tổ chức nội bộ của đảng cộng sản Nga
có thể thấy được qua vài nét chính như sau: Nếu giáo hội Công Giáo có vị
trí cao nhất là Đức Giáo Hoàng, thì đảng cộng sản có Tổng Bí Thư, cạnh
giáo hoàng có một ban cố vấn với vài vị Hồng Y phụ giúp những vấn đề
quan trọng, cộng sản có Bộ Chính Trị. Tòa thánh Vatican có một Hội Đồng
Hồng Y, cộng sản cũng lập ra Ủy Ban Trung Ương Đảng. Cứ vậy mà "nhái"
theo xuống tận cấp thấp nhất là Giáo Xứ với một vị Linh Mục, chịu trách
nhiệm về phần hồn cho giáo dân trong khu vực mình, thì cấp thấp nhất của
cộng sản là Bí Thư một Chi Bộ cấp xã. Nếu có ai muốn theo đạo Công Giáo,
người đó cần phải học giáo lý về đạo với sự hướng dẫn của linh mục hay
các thầy, các vị trong hội đồng giáo xứ địa phương, người học được gọi
là tân tòng trong tương lai, lúc rửa tội phải lấy tên thánh người đỡ đầu
thành tên thánh của mình. Ngược lại, ai thích cộng sản thì được gọi là
cảm tình viên, muốn theo cộng sản phải học sơ đẳng về chính trị qua sự
hướng dẫn của những đảng viên cấp ủy ở chi bộ cơ sở (xã), người theo học
lúc này được gọi là đối tượng đảng, khi làm lễ tuyên thệ vào đảng thì
tên người giới thiệu được ghi vô hồ sơ đảng tịch của người đó như một
người đỡ đầu. Việc xưng tội giữa giáo dân và chủ chăn cũng được cộng sản
"nhái" theo là tự phê (bình), tự kiểm (thảo) và hồ sơ ghi các "phê và
kiểm" loại đó chỉ có cấp đảng ủy biết, cũng như sự phạm tội và sám hối
của một giáo hữu khi kể ra chỉ có người linh mục đó biết mà thôi v.v. Do
có những sự "hơi" giống nhau như vậy trong tổ chức giữa công giáo và
cộng sản, nên có người cho rằng cộng sản chỉ là sự lộn trái lại của đạo
công giáo mà người chủ xướng ban đầu là ông Adam Weishaupt.
Ngày 14/1/1918: Sau khi đọc diễn văn ở hội trường Petrograd, ông V.
Lenin ra xe ngồi phía sau tài xế, bất ngờ trong đám đông có người nổ
súng bắn vào xe. Người ngồi kế bên dù bị thương vẫn cố gắng đè ông ta
sát xuống sàn xe và nằm phủ lên trên, nhờ vậy ông V. Lenin mới thoát
chết.
Đêm 16 rạng 17/7/1918: Toàn gia đình Nga Hoàng Nicholas II (18/5/1868);
Hoàng Hậu Alexandra Feodorovna Romanova (6/6/1872) đã bị ông V. Lenin ra
lệnh giết chết và chôn xác phân tán nhiều nơi, không để lại dấu vết.
Ngoài hai ông bà, những người bị giết chung gồm có một hoàng tử, bốn
công chúa, người liên lạc của vua, nàng hầu của hoàng hậu, trọn gia đình
bác sĩ riêng và nguyên gia đình của nguời đầu bếp. Sau ngày thoái vị,
15/3/1917, gia đình cựu hoàng về sống ở Dinh Alexander thuộc thành phố
Tsarskoye Selo, phía Nam Petrograd khoảng 24 km. Sau đó họ được "chính
quyền cách mạng" đưa đi quản thúc tại Dinh Thống Đốc thành phố Tobolsk
tỉnh Tyumenoblast. Ngày 30/4/1918, Ông V. Lenin chỉ thị đàn em đưa gia
đinh cựu hoàng Nga đến nhà (kỹ sư) Ipatiev tại thành phố lớn thứ tư của
Nga là Yekaterinburg rồi ra lệnh giết hết vào ngày tháng nêu trên. Mãi
tới năm 1979, nơi vùi xác những nạn nhân ấy tình cờ được tìm thấy bởi
một nhà khảo cổ nhưng cộng sản Nga ra lệnh cấm không ai được nhắc tới
chuyện này. Đến tháng 1/1998, di cốt các nạn nhân mới chính thức được
khai quật ở vài địa điểm khác nhau, mẫu xương được gởi tới những phòng
thí nghiệm để phân tích, so sánh DNA rồi được xác nhận đúng là của gia
đình cựu hoàng Nicholas II. Ngày 1/10/2008, tòa Án Tối Cao của Liên Bang
Nga (Russia Federation) mới công bố gia đình hoàng đế Nicholas II là nạn
nhân của hành vi đàn áp chính trị và phải phục hồi danh dự cho họ. (nhân
chuyện tàn sát gia đình cựu hoàng đế Nga, chúng tôi xin ghi thêm vài chi
tiết về cái chết của ông L. Trotsky để bạn đọc thấy thêm bản chất lợi
dụng trí thức rồi đào thải hoặc "truy cùng, diệt tận" của những "con"
người cộng sản. Sau ngày ông V. Lenin qua đời, phe "cộng sản toàn Nga"
do ông J. Stalin cầm đầu khởi sự dùng mọi thủ đoạn để loại ông L.
Trotsky ra khỏi quyền lực. Từ năm 1925 tới 1927, họ tập trung vây cánh
phê phán ông L. Trotsky đủ chuyện, nhưng quan trọng nhất là họ đem các
việc cũ ra kết tội ông ta:
• Tội lớn nhất là "lập trường" không rõ ràng, "tư tưởng" không dứt khoát
trước kẻ thù của "giai cấp vô sản" là tư bản.
• Tội lớn thứ hai là đi ngược lại "đường lối" đấu tranh của "đồng chí
Lenin vĩ đại".
• Tội lớn thứ ba là làm "chia rẽ" sức mạnh trong nội bộ đảng, làm chậm
trễ ngày "thành công" của cách mạng v.v. và v.v.
Ngày 20/10/1927, ông L. Trotsky bị mất ghế trong "bộ chính trị" và loại
ra khỏi ủy ban trung ương đảng.
Ngày 12/11/1927, ông Trotsky bị tước "đảng tịch" (ra khỏi đảng) và toàn
gia đình bị đưa đi "an trí ở thành phố Alma Ata, Kazakhstan vào ngày
31/1/1928 (ông J. Stalin không dám ra tay tàn độc vì uy tín và ảnh hưởng
của ông L. Trotsky trong đảng cộng sản Nga còn rất lớn).
Ngày 5/2/1929, Gia đình ông L. Trotsky bị trục xuất ra khỏi nước Nga, cả
nhà lên xe lửa đi tới thủ đô Istanbul Thổ Nhĩ Kỳ xin tạm trú.
Năm 1933, thủ tướng Pháp là Edouard Daladier (1884-1970) mời ông L.
Trotsky đến Pháp sống với điều kiện không được đặt chân tới thủ đô Ba
Lê. Ông L. Trotsky vui vẻ nhận lời, ông đến Pháp ở được hai năm thì dọn
nhà đi Na Uy năm 1935. Năm 1937, vì cộng sản Nga làm áp lực "ngoại giao"
nên chính phủ Na Uy "yêu cầu" ông ta nên rời khỏi nước họ. Cả Âu Châu
thờ ơ, chỉ có duy nhất tổng thống Mễ Tây Cơ Lazaro Cardenas (21/5/1895 -
19/10/1970) thật lòng có lời mời nếu ông L. Trotsky không chê đất nước
họ còn nghèo. Gia đình ông L. Trotsky xuống tàu đến Mễ Tây Cơ ngày
7/9/1937, họ sống trong một căn nhà kín cổng cao tường tại khu vực
Coyoacan thủ đô Mexico City. Ở Mễ Tây Cơ chưa được bao lâu, trong năm
1938 ông L. Trotsky đã tuyên bố thành lập Đệ Tứ Quốc Tế Cộng Sản (the
Fourth Communist International) và tố cáo nước Nga đã rơi vào tay "chủ
nghĩa Stalin" (Stalinism-Stalinist). (Ở một nước Việt Nam xa xôi cũng có
những người bị cuốn hút vào tinh thần cách mạng không bạo lực của Đệ Tứ
Quốc Tế, rồi các vị ấy cũng bị phe cộng sản của ông Nguyễn Tất Thành dán
cái nhãn là "Tờ-Rốt-Kít" (Trotskist-Trotskism) và họ lần lượt bị ám sát,
thủ tiêu, đó là các ông Phan Văn Hùm (1902-1946); Tạ Thu Thâu
(1906-1945); Nguyễn An Ninh (1900-1943, chết trong tù Côn Đảo vì bị tù
nhân cộng sản hành hạ). Tận bên Nga, J. Stalin chịu hết nổi nên quyết
định bằng mọi giá phải giết cho được ông L. Trotsky, nói cho đúng hơn là
giết người bịt miệng.
Ngày 5/5/1939, ông L. Trotsky dọn tới nhà mới số 19 Avenida Viena, cũng
khu Coyoacan phía Nam thành phố, sau khi cho sửa sang lại để thành nơi
cũng thuộc loại "kín cổng cao tường".
Ngày 24/5/1940, toán cảm tử của ông J. Stalin đặt chân tới Mexico City,
họ trang bị vũ khí gọn, nhẹ và được chỉ huy bởi tay đồ tể lừng danh của
Nga là ông Iosif Romualdovich Grigulevich (5/5/1913 - 2/6/1988). Cuộc
tấn công chớp nhoáng vào nhà ông L. Trotsky diễn ra trong ngày 24/5 đúng
như kế hoạch nhưng thất bại vì ông ta thoát chết. Chưa nản, ông J.
Stalin thực hiện tiếp lần ám sát thứ hai.
Ngày 20/8/1940, một sát thủ lọt vào tận văn phòng với cái búa rìu giấu
trong người, ông L. Trotsky bị chém trúng một búa vào đầu nhưng vẫn kịp
ôm và vật lộn với kẻ sát nhân. Tới lúc này thì người cận vệ bên ngoài
cửa mới nghe tiếng động nên chạy vào tiếp cứu, anh ta khống chế được thủ
phạm và toan bắn chết thì ông L. Trotsky đưa tay cản: ... "đừng giết
hắn, hãy để hắn trả lời trước pháp luật cho công chúng biết mặt thật của
kẻ sai hắn đến đây".... Chính phủ Mễ Tây Cơ đã cấp tốc đưa ông L.
Trotsky vô bệnh viện cứu chữa, nhưng vì vết thương quá nặng và bị mất
nhiều máu nên ông qua đời ngày hôm sau, 21/8/1940. Riêng sát thủ Ramon
Mercader (7/2/1913 - 18/10/1978, gốc cộng sản Tây Ban Nha được Nga tuyển
chọn) bị tòa án Mễ Tây Cơ kết tội sát nhân chính trị và lãnh 20 năm tù.
Sau khi mãn án, năm 1961 ông R. Mercader về đến Nga và được ông Nikita
Khrushchev đón tiếp trang trọng, được thưởng "Huân Chương Lenin", được
KGB phong danh hiệu là "Anh Hùng Liên Bang Sô Viết").
30/8/1918: Ông V. Lenin đến dự một cuộc hội thảo của công nhân tổ chức ở
hội trường Moscow. Lúc bước ra ngoài chuẩn bị lên xe đi về ông bị một
phụ nữ bắn ba phát vào người. Viên đạn thứ nhất trúng cánh tay, viên thứ
hai chạm nhẹ dưới cằm và ghim vào cổ, viên thứ ba trúng một người đàn bà
bên cạnh. Ông ta được cấp tốc đưa về phòng riêng của mình trong Điện Cẩm
Linh ở Mạc Tư Khoa (Moscow Kremlin Palace). Các bác sĩ Nga cố gắng cứu
được mạng ông ta nhưng đầu đạn vẫn còn nằm trong cổ, tới ngày 24/4/1922,
đầu đạn mới được lấy ra nhờ cuộc giải phẩu của một bác sĩ Đức nổi tiếng,
từ đó về sau sức khỏe ông V. Lenin suy yếu hẳn và phải ngồi trên xe lăn
đến khi qua đời vào ngày 21/1/1924. (Cũng như các "lãnh tụ" khác của
cộng sản, ông V. Lenin chết đi cũng để lại nhiều huyền thoại. Đối với
chúng tôi, huyền thoại lớn nhất mà ông V. Lenin tạo ra là một câu trả
lời của ông vào năm 1922 trước câu hỏi hóc búa từ đảng viên là... "tại
sao tư bản yểm trợ chúng ta?" Ông V. Lenin đã nói lấp liếm như sau: ...
"Quan trọng nhất, chúng ta cần phải ổn định kinh tế của mình. Nếu không
có máy móc, phương tiện của tư bản, chúng ta khó hoàn thành trong thời
gian ngắn về "thí nghiệm" này. Khi tới thời điểm treo cổ bọn tư bản,
chúng sẽ vì ham lợi mà giành nhau bán cho chúng ta sợi dây thòng lọng.
Trước mắt tư bản sẽ cung cấp phương tiện qua sự yểm trợ kỹ thuật và dụng
cụ mà chúng ta không có, bọn chúng sẽ xây dựng kỹ nghệ chiến tranh cho
mình để các cuộc chiến đấu trong tương lai chúng ta mới có riêng nguồn
tiếp liệu. Nói cách khác, bọn tư bản đang làm cái việc sửa soạn cho cái
chết của chính họ...." Đây là huyền thoại lớn nhất không những của ông
V. Lenin mà còn của các "lãnh tụ" cộng sản vì:
(A): Hội kín Sáng Tuệ, Thợ Đá Tự Do, Tam Điểm v.v. dưới lớp áo "tư bản"
đã đưa vốn cho "quốc tế cộng sản" lập ra nơi thí nghiệm (ở Nga) là để so
sánh với xã hội "cộng sản quốc tế" (ở Mỹ), cũng do họ lập ra từ năm
1776. Hội kín (tức "tư bản" Âu Châu) sẽ theo dõi cả hai thứ cộng sản
này, giữa chế độ toàn trị tuyệt đối (Nga) và chế độ toàn trị có giới hạn
(Mỹ) nhằm tìm ra cũng như tích lũy được sự lợi và hại giữa hai xã hội đó
để đi từng bước tới tham vọng thiết lập một chính phủ toàn cầu (hội kín
đã lập ra nào Hội Quốc Liên (Liên Hiệp Quốc sau này); tòa Án Quốc Tế;
Ngân Hàng Thế Giới; Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế; Cảnh Sát Quốc Tế v.v. cũng
trong âm mưu toàn cầu hóa). Vì thế các đảng cộng sản "lon ton" khác chỉ
là thứ tay sai nằm trong cuộc thí nghiệm đó (cộng sản ở Việt Nam là một
điển hình), họ không đi làm "cách mạng" để cứu người giúp đời như đã rêu
rao, họ là những kẻ lợi dụng vào thế thời hỗn loạn (do hội kín tạo ra)
để làm "cách mạng" cho chính bản thân mình, nếu may mắn còn sống và
thành công thì sẽ có được quyền lực trong xã hội. Những chữ như "độc
lập, tự do, hạnh phúc, giải phóng v.v." chỉ là cục mồi tuyên truyền, dụ
dỗ những người nhẹ dạ.
(B): Một khi "tư bản" bỏ ra số vốn lớn như vậy cho "vô sản" (V. Lenin)
làm thí nghiệm (như lời ông ta thú nhận), dĩ nhiên họ phải nắm chắc cái
đầu của anh "vô sản" đó, từ phần hồn tới phần xác. Và đã gọi là thí
nghiệm thỉ kẻ bỏ tiền ra sẵn sàng dẹp bỏ vấn đề "nghiên cứu" đó bất cứ
lúc nào. Sau hơn 70 năm làm "thí nghiệm", hội kín chỉ thấy toàn hận thù,
ngu dốt, lừa dối, yếu kém, oán than v.v. trong xã hội toàn trị của "quốc
tế cộng sản", hơn thế nữa, việc "thí nghiệm" đã vuột khỏi tầm kiểm soát
của họ với sự ra đời của cộng sản Tàu và Bắc-Hàn, nên "tư bản" hội kín
phải dẹp bỏ cái "lò thí nghiệm" máu me đó từ ngày 9/11/1989 (ngày bức
tường Bá Linh bị đập bỏ) đến ngày từ chức 25/12/1991 của ông Mikhail
Sergeyevich Gorbachev (Cộng Hòa Liên Bang Xã Hội Chủ Nghĩa Sô Viết-Nga
bị giải tán). Nói tóm lại, từ các ông Joseph Vissarionovich Stalin
(18/12/1878 - 5/3/1953); Nikita Sergeyevich Khrushchev (15/4/1894 -
11/9/1971); Leonid Ilyich Brezhnev (19/12/1906 - 10/11/1982) cho tới mấy
ông như M. K. Gorbachev; Ronald Wilson Reagan (6/2/1911 - 5/6/2004);
George Herbert Walker Bush; Boris Nikolayevich Yeltsin (1/2/1931 -
23/4/2007); William Jefferson "Bill" Clinton; Vladimir Vladimirovich
Putin, v.v. chỉ là những con cờ mà "tư bản" chọn đưa ra cho tiến trình
"thí nghiệm" và "thí bỏ" của họ bởi những kẻ vừa nêu tên đều nằm trong
các hội kín như Sáng Tuệ; Thợ Đá Tự Do; Tam Điểm v.v. mà đầu não của nó
nằm ở một xứ sở "sương mù" là triều đình nước Anh và "ngân hàng" Thụy
Sĩ. Kính thưa vong linh ông V. Lenin: Nếu ông đã thừa nhận mình (Nga)
làm "thí nghiệm" nhờ tiền của "tư bản". Vậy làm sao ông có thể treo được
cổ bọn "tư bản" chớ? Đúng là chuyện huyền thoại, cũng như "chuyện huyền
thoại" về một anh Nguyễn Tất Thành lang bạt đi... "tìm đường cứu nước"
với tờ đơn xin vô học trường đào tạo công chức của thực dân Pháp,
"chuyện huyền thoại" cũng như đảng cộng sản của ông ta "giành độc lập"
và "giải phóng" quê hương với kết cuộc như hiện nay vậy! Thật là điếm
nhục và ê chề cho những "danh nhân", "vĩ nhân" một thời được nhân loại
tôn xưng!
Ngày 2/3/1919: Ông V. Lenin tuyên bố sự thành lập Đệ Tam Quốc Tế Cộng
Sản, văn phòng đặt ở khách sạn Lux, thành phố Mạc Tư Khoa (the Third
Communist International, ngắn gọn hơn có thể đọc Comintern Đệ Tam, là
chữ ghép lại từ chín mẫu tự đầu của hai danh từ vừa kể). Ngay lập tức,
Quốc Tế Cộng Sản 3 có nhiều tổ chức khắp thế giới xin gia nhập và trở
thành hội viên, họ thuộc các nước sau đây:
Đảng Xã Hội Anh;
Đảng Lao Động Xã Hội Anh;
Công Nhân Kỹ Nghệ Thế Giới Anh;
Công Nhân Kỹ Nghệ Thế Giới Úc Đại Lợi;
Công Nhân Kỹ Nghệ Thế Giới Mỹ;
Liên Hiệp Công Nhân Kỹ Nghệ Quốc Tế Mỹ;
Đảng Lao Động Xã Hội Mỹ;
Đảng Xã Hội Mỹ;
Hội Spartacus Đức;
Đảng Cộng Sản Áo và Đức;
Đảng Công Nhân Cộng Sản Hung Gia Lợi;
Đảng Cộng Sản Ba Lan;
Đảng Cộng Sản Phần Lan;
Đảng Cộng Sản Estonia;
Đảng Cộng Sản Latvia;
Đảng Cộng Sản Lithuanian;
Đảng Cộng Sản Byelorussia;
Đảng Cộng Sản Ukraine;
Đảng Dân Chủ Xã Hội-Tiệp Khắc;
Đảng Dân Chủ Xã Hội và Lao Động Bảo Gia Lợi;
Đảng Dân Chủ Xã Hội Lỗ Ma Ni;
Đảng Dân Chủ Xã Hội Nam Tư;
Đảng Cánh Tả Dân Chủ Xã Hội Thụy Điển;
Đảng Lao Động Na Uy;
Nhóm Klassekampen Đan Mạch;
Đảng Cộng Sản Hòa Lan;
Đảng Lao Động Bỉ;
Các nhóm phái Xã Hội và Liên Kết Pháp;
Đảng Dân Chủ Xã Hội Thụy Sĩ;
Đảng Xã Hội Ý Đại Lợi;
Đảng Công Nhân Xã Hội Tây Ban Nha;
Đảng Xã Hội Bồ Đào Nha;
Những tổ chức "công nhân cách mạng" của Ái Nhĩ Lan;
Vài nhóm thuộc phái Xã Hội Nhật Bản;
Đảng Công Nhân Xã Hội Trung Hoa;
Liên Hiệp Công Nhân Đại Hàn v.v. và v.v.
Quốc Tế 3 sau này vẫn tiếp tục có thêm hội viên mới, kể luôn Đảng Cộng
Sản ở Việt Nam, trước khi Quốc Tế 3 tuyên bố ngưng hoạt động vào ngày
15/5/1943 vì lý do đang bận đánh Phát Xít Đức. Trong thực tế, Đệ Tam
Comintern sau năm 1945 vẫn âm thầm hoạt động vì tôn chỉ (bịp) của nó là
"yểm trợ cách mạng thế giới" và "cộng sản hóa toàn cầu". Có như vậy nên
từ năm 1945, cả cộng Tàu lẫn cộng Việt mới có súng đạn để đi làm loạn.
Cơ cấu mà Quốc Tế Cộng Sản 3 thành lập để thế họ làm tiếp công việc đó
là Cục Thông Tin Cộng Sản (the Communist Information Bureau Cominform),
thành lập ngày 5/10/1947 tại thủ đô Warsaw Ba Lan. Tới năm 1956,
Cominform âm thầm dọn văn phòng về Nga hoạt động đến năm 1980 thì giải
tán.
Ngày 21/4/1921: Đệ Tam Quốc Tế Cộng Sản cho thành lập ở Mạc Tư Khoa một
Ủy Ban Phương Đông (the Eastearn Committee, có người gọi là Đông Phương
Bộ) và Trường Đại Học Thợ Thuyền Phương Đông (the Eastern Worker
University, the University of the Toilers of the East, cũng có người ghi
là Trường Đại Học Công Nhân Phương Đông), hiệu trưởng là ông Karl
Bernhardovic Radek (31/10/1885 - 19/5/1939) và có hơn 130 giảng viên
chính trị. Trường này tới ngày 21/10/1921 mới chính thức "khai giảng",
nó chiếm một diện tích gần bốn mẫu tây bao gồm một nhà thờ (bị tich thu)
làm hội trường chính, 6 dãy nhà cho "học viên" lưu trú dài hạn trong hơn
hai năm, khu nhà bếp, nhà vệ sinh, bệnh xá, nhà kho, một thư viện có hơn
40,000 cuốn sách chọn lọc (tuyên truyền là chính), trường còn được cấp
riêng một miếng đất rộng khoảng 50 mẫu tây, cách Mạc Tư Khoa chừng 60 km
hướng Đông Nam để "học viên" phải... "vừa học vừa làm" mà có lương thực
nuôi chính mình. Ngày khai giảng trường này có khoảng 800 học viên thuộc
hơn 50 sắc dân trên thế giới, nhưng nhiều nhất vẫn là gốc Đông-Á rồi tới
Trung-Á; Trung-Nam ChÂu-Mỹ; Bắc Châu Phi và Đông Châu Âu. Những người
học tại đây được nuôi ăn, cấp áo quần miễn phí, mỗi tháng còn được cấp
mỗi người 5 rúp để tiêu xài lặt vặt bên ngoài, học viên cũng lập ra một
tờ tuần báo là tờ "Người Phương Đông" (the Easterner). Phí tổn hoạt động
cho trường này, mỗi năm Đệ Tam Quốc Tế chi ra một số tiền hơn nửa triệu
rúp (một số tiền khá lớn vào thời đó). "Tài liệu học tập" quan trọng
nhất ở trường "đại học" này là phương pháp lý luận, nghĩa là nhồi nhét
vào đầu người học cách nói chuyện thật hay, hay đến mức "một kẻ đần độn
"tốt nghiệp" ở đây có thể nói như một nhà thông thái" về "Chủ nghĩa duy
vật biện chứng và Chủ nghĩa duy vật sử quan" (the Materialism dialectics
and Materialism historic). Những bài học kế tiếp là dạy cách đi làm...
cách mạng mà không cần bằng cấp khoa bảng, chẳng cần vốn liếng trí thức
căn bản mà chỉ cần biết khéo léo xúi người khác gây biến loạn giùm mình.
Những bài học kế theo là phương thức tổ chức nhân sự, từ các tổ, toán,
nhóm ở cấp thấp nhất lúc ban đầu cho đến các phường, hội, mặt trận, lên
tới khung sườn của một đảng chính trị về sau. Cách thiết kế một khung
sườn của đảng cũng đòi hỏi sự hiểu biết về sắp đặt chồng chéo, đan kẽ
nhau, cái này kiểm soát được cái kia, cái kia theo dõi cái nọ mà không
có cái nào biết được mình cũng đang bị theo dõi. Khi khung sườn của tổ
chức (đảng) đã thành tựu, đảng viên chỉ bám vào đó để hoạt động, sự vận
hành của toàn hệ thống cứ vậy mà chạy đều đều. Đảng viên nào đi lệch
hướng của cấu trúc chắc chắn sẽ bị lãnh một hậu quả khốc liệt, không
những cho mình mà cho cả người thân, vì họ bị ràng buộc bởi những lời
thề độc địa, dễ sợ nhất lúc tuyên thệ vào đảng. Cạnh các "bài học" nêu
trên còn có dạy những cách làm khủng bố, từ khủng bố trắng (công khai)
qua tới khủng bố đen (bí mật) và khủng bố xám (xúi kẻ khác làm giúp) và
khủng bố không nhất thiết phải bằng mã tấu, súng đạn hay thuốc nổ mà trà
trộn vào hàng ngũ địch, viết văn, làm báo, nghệ thuật v.v. nhằm đối
kháng với địch cũng là một hình thức khủng bố, khủng bố bằng văn hóa
v.v. và v.v. Trường Đại Học Thợ Thuyền Phương Đông hoạt động tới cuối
năm 1939 thì đóng cửa. Đóng cửa vì nhu cầu phát triển đô thị của Mạc Tư
Khoa, nên trường phải phân tán về thủ đô các nước chư hầu trong Liên
Bang Sô Viết, nấp dưới nhiều tên khác nhau để tiếp tục dạy cách đi làm
cách mạng bằng bạo lực, tới năm 1970 nó mới chính thức bị dẹp vì Liên Sô
đã hết sạch tiền. Những người Việt Nam trong thời hỗn loạn đó vào đây
học cũng đông, ví dụ như:
Ông Nguyễn Tất Thành (nấp dưới tên chôm là Nguyễn Ái Quắc) khóa
1922-1924;
Trần Phú (1904-1931) khóa 1927-1930;
Lê Văn Dục (Lê Hồng Phong, 1902-1942) khóa 1928-1931;
Hà Huy Tập (1906-1941) khóa 1929-1932;
Nguyễn Thị Vịnh (Nguyễn Thị Minh Khai, 1910-1941) khóa 1934-1936;
Trần Văn Giàu (1911-2010) khóa 1931-1933;
Bùi Công Trừng (1905-1986) khóa 1927-1929;
Dương Bạch Mai (1904-1964) khóa 1929-1932 v.v.
![]()
QUỐC TẾ
CỘNG SẢN VÀ CỘNG SẢN QUỐC TẾ
Phần:
01
| 02 |
03 | 04 | 05
|
06 |
Đầu trang
06. KẾT LUẬN.
Những người kể trên, là những cá nhân nổi bật nhất trong giai đoạn tiên
khởi đã thiết kế nên khung sườn cho đảng cộng sản ở Việt Nam, mà lớp
đảng viên hậu thế mới có chỗ bám vào đó để tàn phá, đục khoét đất nước
đến tận hôm nay, 2012. Trừ ông Nguyễn Tất Thành, những người còn lại
trong nhóm kể trên đều là kẻ có học (trường Tây, trường Tàu) trước khi
là người "cộng sản". Nhưng trước tất cả, họ là những người thật sự có
tấm lòng đối với quê hương lúc dân tộc bị lầm than, tủi nhục dưới cái
ách thực dân. Những vị đó đã hiến dâng trái tim, lý tưởng của mình một
cách chân thành khi đi tìm một phương kế có thể đập tan xích xiềng của
kẻ thống trị trên đất nước. Tiếc thay họ đã trao đời mình cho một "học
thuyết" không bao giờ có thật, một kịch bản dàn dựng về "chủ nghĩa" được
bàn tay phù thủy của hội kín Âu Châu vẽ vời ra dưới ngòi bút cao ngạo
của ông trí thức Karl H. Marx, và chính ông này tới lúc nhắm mắt cũng
còn ngây thơ không biết kiến thức mình bị lợi dụng, bị lừa. Vì là trí
thức, nên phải biết ý thức giữa đúng và sai, việc nào thiện và điều gì
là ác. Đối với "cộng sản", đã có học thức và còn nhận thức được
Chân-Thiện-Mỹ của lẽ sống, dứt khoát người đó không thể chung đường với
kẻ nương theo lửa cách mạng và dùng bạo lực để mưu tìm quyền lực. Vì lẽ
đó, các vị nêu trên đã bị những kẻ vô lại, lưu manh lợi dụng giai đoạn
đầu đến khi khung sườn của tổ chức đã thành hình, sau đó họ bị chúng
mượn tay thực dân Pháp loại ra dần bằng các thủ đoạn bắn tin cho địch
biết nơi cư trú, nơi hội họp, chỗ lui tới, nguồn gốc bản thân, hoặc lợi
dụng vào chữ "lập trường" để bỏ tù, giết lén, bỏ đói, cô lập (tới đời
con cháu) v.v. như Huỳnh Thúc Kháng (1876-1947); Phan Khôi (1887-1959);
Hữu Loan (1916-2010); Nguyễn Mạnh Tường (1909-1997) v.v. Và dù có những
trí thức nào đó còn giữ lại trong nội bộ thì cũng bị vô hiệu hóa, có
chức danh to nhưng chẳng có thực quyền, đó là trường hợp của các ông Võ
Giáp (Võ Nguyên Giáp); Trần Văn Giàu; Bùi Công Trừng; Trương Gia Triều
(Trần Bạch Đằng (1926-2007); Nguyễn Văn Trấn (1914-1998); Dương Bạch Mai
(chết vì thuốc độc khi dám nói trước "quốc hội": ... "đảng cai trị đất
nứớc như kiểu trại lính"...), v.v.
Nói tóm lại cho gọn, con đường mà ông Nguyễn Tất Thành (Hồ Chí Minh
189?-1969) đi "tìm đường cứu nước" quả là con đường bi đát cho cả một
dân tộc. Theo sau ông gồm những học trò không cần học thêm chữ như
Nguyễn Công Viễn (Lâm Đức Thụ, 1890-1947); Nguyễn Trọng Cảnh (Trần Quốc
Hoàn, 1916-1986); Nguyễn Kim Thành (Tố Hữu, 1920-2002); Phan Đình Khải
(Lê Đức Thọ, 1911-1990); Đặng Xuân Khu (Trường Chinh, 1907-1988); Lê Văn
Nhuận (Lê Duẩn); Nguyễn Cống (Đỗ Mười); Phạm Văn Thiện (Phạm Hùng,
1912-1988); Lê Đức Anh; Văn Tiến Dũng (1917-2002) v.v. Cái đảng mà các
ông giương cờ đỏ đi trên máu xương của giống nòi, cấu trúc của nó từ đầu
được thiết kế theo khuôn mẫu ở Nga, mà Nga thì học theo sự hướng dẫn của
ông Adam Weishaupt và ông này đã nói... "chỉ có bạo lực mới chiếm được
quyền lực".... Vì thế cái đảng "cộng sản" mà ngày nay đang tiếp tục đè
đầu dân tộc Việt Nam, từ nguyên thủy, nó đã được tạo ra vì mục đích bạo
lực thì mỗi ngày càng tích lũy thêm nhiều bạo lực, cuối cùng sẽ thành
nơi tập trung, ẩn nấp của một thiểu số nhiều mưu trí và tàn độc nhất chỉ
biết duy trì bạo lực để tồn tại. Với nguyên tắc đối kháng là: số ít dùng
bạo động để thu phục số đông, vì vậy, cái đảng đó buộc phải đi tới giai
đoạn chót là sẽ đối diện với số đông tới phiên mình lấy bạo động khuất
phục số ít! Nhưng khổ cho các ông là càng sợ vì tội ác thì càng bám chặt
vào cái khung sườn đó. Và càng ôm cứng thì sự lừa dối thêm chồng chất,
tội ác cũng dày thêm cho tới lúc các ông ra đi. Hôm nay cái khung sườn
mục nát ấy, cái cỗ máy bạo hành có từ thế kỷ thứ 18 đó, dù được vá víu,
bưng bít, che đậy, sơn phết đủ thứ lên trên nhưng nó không thể che dấu
được một sự thật là, càng ngày người ta càng thấy có thêm nhiều những
hành động côn đồ, phi luân, vô liêm sĩ, từ bọn du côn thuê mướn ngoài
đường cho tới lớp chóp bu trong đảng, những kẻ ngồi ghế "lãnh đạo" của
quốc gia và ngồi trên đầu của một dân tộc. Một đảng được lập ra với nền
tảng là lừa dối và bạo tàn, đương nhiên từ dưới lên đến nóc cũng phải
"xây dựng đảng" theo "đường lối" gian manh và tàn bạo. Còn gì để nói
nữa?
Còn chớ! Hôm nay, 2012, những "cán bộ" cao cấp trong đảng cộng sản ở
Việt Nam, như "truyền thống", họ giữ luôn các chức vụ cấp cao trong
"chính quyền" dân sự, cũng là cánh tay bên ngoài của đảng. Lớp người này
phần lớn là con là cháu của thế hệ "cán bộ" thời đảng mới tượng hình,
hoặc thời chiến tranh từ 1945 đến 1975. Đó là những Nông Đức Mạnh; Tô
Huy Rứa; Đỗ Hữu Ca; Nguyễn Tấn Dũng; Nguyễn Phú Trọng; Phan Văn Khải;
Nguyễn Minh Triết v.v. mà tư cách, trình độ, khả năng của họ ra sao thì
dư luận thế giới cũng đã thấy rõ rồi: "họ là những "đại diện" tiêu biểu
cho "chính phủ" của một quốc gia, cũng chức tước rềnh rang, cũng "com lê
cà vạt" đàng hoàng nhưng họ không che giấu được bản chất lưu manh, côn
đồ hạ cấp trong giao thiệp và lời ăn tiếng nói". Họ được đảng cho kế
thừa và núp bóng theo "sự nghiệp" cách mạng của cha, chú họ trong quá
khứ mà cha, chú họ đã sai lầm và tạo nhiều tội ác từ ngày cộng sản có
mặt ở Việt Nam. Vì lẽ đó, sai lầm cứ nối theo sai lầm, nói láo-làm dối
vẫn tiếp tục tạo ra sự gian trá và ngụy biện, tội ác cứ triền miên sinh
ra tội ác v.v., và tới nay những tai họa ấy đã chiếm hết các ngõ ngách
trong nội bộ đảng, tệ hại hơn, nó còn lây nhiễm ra toàn xã hội mà người
dân Việt Nam phải gánh chịu trong nhục nhã trước công luận quốc tế. Vậy
mà, những người được coi là cấp "lãnh đạo" trong đảng, dù đã thấy hết sự
thật cay đắng và ê chề trong "lịch sử" của đảng, nhưng họ vẫn cứ tiếp
tục tung hô "bác và đảng" đã có công "giành độc lập, giải phóng" đất
nước, "đảng là nơi quy tụ những đứa con trung thành và xuất sắc nhất tổ
quốc, "đảng luôn bảo vệ quê hương tổ quốc" và "kẻ thù nào cũng đánh
thắng" v.v. và v.v!
Để kết thúc bài biên khảo này, chúng tôi có một câu hỏi thật ngắn, rất
đơn giản, để xin hỏi hết tất cả đồng bào Việt Nam và kể cả những đảng
viên cộng sản đang hoạt động trên đất nước này. Câu hỏi ấy chắc chắn
trong lương tâm từng người dân nước Việt sẽ có câu trả lời, cũng như sẽ
thấy chân tướng thật sự đảng là ai?
"NẾU ĐẢNG CỘNG SẢN Ở VIỆT NAM QUẢ QUYẾT
RẰNG: SỰ RA ĐỜI VÀ TỒN TẠI CỦA ĐẢNG LÀ DO BIẾT GIƯƠNG CAO NGỌN CỜ YÊU
NƯỚC, ĐÃ HY SINH VÀ CHIẾN ĐẤU VÌ DÂN, VÌ NƯỚC. NÊN ĐẢNG RẤT XỨNG ĐÁNG LÀ
NGƯỜI TIẾP TỤC LÃNH ĐẠO VÀ XÂY DỰNG TỔ QUỐC VIỆT NAM".
"VẬY THÌ NGAY LÚC NÀY ĐÂY, CHÚNG TÔI, NHỮNG NGƯỜI DÂN NƯỚC VIỆT, YÊU CẦU
ĐẢNG CỘNG SẢN Ở VIỆT NAM HÃY CHỨNG MINH, HÃY TRƯNG BẰNG CỚ ĐỂ CHÚNG TÔI
THẤY LÒNG YÊU NƯỚC ĐÓ NHƯ TRONG QUÁ KHỨ MÀ ĐẢNG NHIỀU LẦN XÁC NHẬN"? HÃY
TRẢ LỜI ĐI!
"NẾU KHÔNG CHỨNG MINH ĐƯỢC BẰNG LỜI NÓI HAY HÀNH ĐỘNG, THÌ LÚC THÀNH LẬP
CHO TỚI HÔM NAY, ĐẢNG CỘNG SẢN TẠI VIỆT NAM KHÔNG HỀ CÓ LÒNG YÊU NƯỚC,
CHẲNG CÓ TÌNH NGHĨA GÌ ĐỐI VỚI QUÊ HƯƠNG DÂN TỘC, MÀ ĐẢNG THẬT RA CHỈ LÀ
MỘT PHƯƠNG TIỆN, LÀ NƠI TẬP TRUNG NHỮNG KẺ LƯỜNG GẠT, LỢI DỤNG LÒNG YÊU
NƯỚC CỦA ĐỒNG BÀO RỒI CƯỚP ĐOẠT ĐẤT NƯỚC VIỆT NAM CỦA CHÚNG TÔI"!
Kính thưa bạn đọc,
Chúng tôi là những người lính, tuổi thanh xuân phải bước ra chiến trường
lửa đạn và tiếp theo là tù đày khổ sai vì cộng sản, vốn liếng trí thức
vì thế chẳng được cao rộng như những người may mắn được học hành đầy đủ
ở hậu phương. Chúng tôi tuy cố gắng hết mình để hoàn tất bài biên khảo
này, nhưng chắc chắn vẫn có nhiều thiếu sót trong việc tham khảo, tìm
kiếm tài liệu v.v. để ghi chép cho đầy đủ như chúng tôi mong muốn. Xin
bạn đọc thông cảm, lượng thứ cho các chi tiết, dữ kiện nào đó mà chúng
tôi ghi chép thiếu hoặc không chính xác. Chúng tôi rất mong muốn nhận
được sự đóng góp những ý kiến của quý vị, hãy lên tiếng nếu có người
thấy được chỗ nào sai để bài biên khảo này được hoàn chỉnh hơn, được đầy
đủ thêm nữa cho thế hệ trẻ có điều kiện hiểu rõ hơn về giai đoạn khốc
liệt nhất, tang thương nhất trong lịch sử Việt Nam. Chúng tôi cũng mong
quý vị cùng giúp sức phổ biến bài biên khảo này đến khắp chốn, nhất là
giúp đưa đến tận tay đồng bào ở trong nước, nơi rất thiếu thốn các tài
liệu, dữ kiện v.v. để biết thêm về nguồn gốc thật sự của cộng sản ở Việt
Nam.
Riêng vấn đề sách tham khảo (liệt kê phía dưới), các loại sách mà chúng
tôi có sẽ không bao giờ có trong các thư viện chính thức của những
"chính phủ" ở Âu Châu và nước Mỹ. Đơn giản chỉ vì chẳng có thứ chính phủ
nào muốn dân chúng biết được các thủ đoạn đen tối của họ, vì vậy sách
chúng tôi có là do mua tại tiệm, mua trên mạng toàn cầu và tác giả là
những trí thức, học giả, khoa bảng tên tuổi nổi bật qua các công trình
nghiên cứu riêng của họ, mà nhà cầm quyền cấm không đưa vào thư viện.
Cách tốt nhất, bạn đọc có thể tìm theo tựa sách để xem trên mạng, nếu
muốn mua riêng hãy liên lạc với tác giả nơi trang nhà của tựa sách.
Chào kính trọng.
Chép
xong trong đêm tăm tối 30 tháng 4, rạng sáng ngày 1 tháng 5/2012.
Thay mặt nhóm biên soạn.
Biệt Động Quân Đỗ Như Quyên.
![]()
NGUỒN THAM KHẢO: Để tìm hiểu
thêm về vấn đề hội kín Âu-Mỹ mà chúng tôi trích dẫn, ngoài các tựa sách
đã ghi trong nội dung, xin đọc thêm ở những cuốn:
1. Prince of Darkness, Grant R. Jeffrey, 1994.
2. And the Truth Shall Set You Free, David Icke, 2001.
3. The Biggest Secret, David Icke, 2000.
4. Secret Societies of Americas Elite, Steven Sora, 2003.
5. Conspiracies and Secret Societies, Brad Steiger và Sherry Steiger,
2006.
6. Secrets of the Temple, William Greider, 2007.
7. Up Against the American Myth, Tom Christoffel-David Finkelhor-Dan
Gilbarg, 1970.
8. Who Stole The American Dream?, Burke Hedges, 1992.
9. Wake-Up America, Robert L. Preston, 1975.
10. Who Rules America?, William G. Domhoff, 1967.
11. Who Owns America?, Walter J. Hickel, 1977.
12. Who Running America?, Thomas R. Dye, 1986.
13. Rule By Secrecy, Jim Marrs, 2001.
14. Cloning of the American Mind, B. K. Eakman, 1998.
15. The Invisible Government, David Wise và Thomas B. Ross, 1964.
16. Freemasonry and its Ancient Mystic Rites, C. W. Leadbeater, 1986.
17. Freemasonry and its Etiquette, William Preston và Campbell Everden,
2001.
18. The New World Order, Pat Robertson, 1991.
19. America: What Went Wrong?, Donald L. Barlett và James B Steele,
1992.
20. Lies and the Lying Liars Who Tell Them, Al Franken, 2003.
Để đọc thêm về các bí ần trong cuộc cách mạng ở Mỹ và Nga, xin tham khảo
thêm ở:
21. Secret History of the American Revolution, Carl Van Doren, 1969.
22. Presidents Above Party, Ralph Ketcham, 1987.
23. Russias Road to the Cold War, Vojtech Mastny, 1979.
24. Stalin - Triumph and Tragedy, Dmitri Volkogonov, 1991.
Về giáo hội Công Giáo và đế quốc La Mã, tham khảo thêm nơi các cuốn:
25. The Rise of the West, William H. McNeill, 1963.
26. The Romans, 850 B.C - 337 A.D, Donald R. Dudley, 1993.
27. The Christ Conspiracy, Acharya. S, 1999.
28. The Catholic Myth, Andrew M. Greeley, 1997.
29. The Vatican Connection, Richard Hammer, 1982.
Tìm hiểu thêm về Tư Dụng Liên Bang, xin đọc:
30. The Federal Reserve and our Manipulated Dollar, Martin A. Larson,
1978.
31. American Symbols - The Seals and Flags of the Fifty States, M. B.
Schnapper, 1975.
![]()
Nguồn: Internet E-mail by Văn Nguyên
Dưỡng chuyển
Phần: 01 | 02 | 03 | 04 | 05 | 06 | Đầu trang
Đăng ngày Thứ Tư, June 6th, 2012
Ban Kỹ thuật Khóa 10A-72/SQTB/ĐĐ, ĐĐ11/TĐ1ND,
QLVNCH