Bắc đẩu tinh


Tết Nguyên Đán - Bính Thân 2016

Khối Kỹ Thuật UBTTTAĐCSVN
P.O.BOX 6157. Fullerton, CA.92834
Phone: 626-257-1057. Email: ubtttadcsvn.vg@gmail.com
Web: http://ubtttadcsvn.blogspot.com

Lịch sử: MT1968-BT2016 * 48 Năm sau
Tết Bính Thân 2016 nhớ về Tết Mậu Thân 1968


Mừng Xuân Mới - BÍNH THÂN 2016

Bấm vào đây để in ra giấy (Print)

      

Lời giới thiệu: kính thưa Quý Độc giả và toàn thể Quý ACE cựu Quân nhân QLVNCH, nhân dịp xuân về và năm nay cũng là năm Thân hay năm Con Khỉ, BKT trang điện báo LHCCS HTĐ&PC xin được hân hạnh giới thiệu cùng toàn thể quý vị loạt bài về Biến cố Tết Mậu Thân đã xảy ra như thế nào tại Kinh Đô Huế vào Tết Mậu Thân 1968 - 48 năm trước đây. Đây là loạt bài gồm nhiều dữ kiện lịch sử rất có giá trị đã được tác giả Liên Thành trích từ quyển sách "Huế Thảm Sát Mậu Thân 1968" do chính tác giả biên soạn và phổ biến. Kính mời quý vị theo dõi các bài viết sau đây. Trân trọng. --BKT.

 

 

Mục lục

Bính Thân nhớ Mậu Thân...
Bốn mươi tám năm trôi qua...
Có bao nhiêu mồ chôn tập thể ở Huế
BCH CSQG VNCH tại Huế và tên VC Hồ Tỵ...
Đoàn công Lập - Kẻ phản bội
Thống kê con số nạn nhân bị Vc giết năm MT68...

 

Huế sau Mậu Thân 1968
Cuốn băng nhựa Tối mật của Thích Đôn Hậu - Đệ III Tăng Thống PGVNTN...
Tên HCM, ĐCSVN, Tên sát nhân Thích Đôn Hậu và đám Thổ phỉ PGVNTN...
Những dòng lệ khóc thương Thiếu tướng Nguyễn Ngọc Loan
Trận chiến Mậu Thân 1968 - Cộng sản Hà Nội thắng hay bại
Chiếm lại Con đường, Cửa Sập, Chiếm lại Kỳ Đài
10,000 quân Việt cộng tấn công Huế
Huế - Những phút Bình yên cuối cùng
Viết về một nhân viên CIA...
Huế, những ngày Thanh bình trước Tết Mậu Thân - 1968
Mùa Đông San Bernardino - Nhớ về Huế Mậu Thân 1968
Mùa Xuân Đau Thương
HUẾ - MẬU THÂN 68 46 NĂM TỘI ÁC DIỆT CHỦNG CỦA BĂNG ĐẢNG HỒ CHÍ MINH

 

 

 

 

Khối Kỹ Thuật UBTTTAĐCSVN
P.O.BOX 6157. Fullerton, CA.92834
Phone: 626-257-1057. Email: ubtttadcsvn.vg@gmail.com
Web: http://ubtttadcsvn.blogspot.com

Lịch sử
1968-2016
B
ỐN MƯƠI TÁM NĂM TRÔI QUA
VỤ THẢM SÁT ĐỒNG BÀO HUẾ VÀO TẾT MẬU THÂN 1968,

CÔNG LÝ VÀ CÔNG BẰNG VẪN CHƯA ĐƯỢC SÁNG TỎ
LIÊN THÀNH
Orange county, CALI, USA. Ngày 1/1/2016
(Trích Huế Thảm Sát Mậu Thân 1968.Trang 788-798)

      

      

Tết Mậu Thân 1968 đến nay 2011, tính ra đã bốn mươi tám mùa xuân trôi qua. Sống nơi xứ lạ quê người cứ mỗi lần sang mùa, gió đông về se sắt lạnh, và khu Bolsa, Phước Lộc Thọ vùng Little Saigon Nam Cali bắt đầu nhộn nhịp họp chợ bán hoa, bán bánh, mứt, lòng tôi bỗng nặng trĩu mối u hoài, chạnh nhớ cố quốc, nhớ xứ Huế dấu yêu, vì biết rằng một mùa xuân nữa lại về, và Tết lại đến trên vùng đất mà trước 30/4/1975 tôi chẳng bao ngờ sẽ là vùng đất mà mình có thể phải sống cho hết kiếp nhân sinh.

Bốn mươi ba năm quả là một khoảng thời gian quá dài, nhưng tại sao khi nghĩ đến Tết Mậu Thân 1968, lại cảm thấy như Mậu Thân chỉ mới ngày nào đây. Dường như những chấn động tâm lý không có tuổi, nên đã bốn mươi ba năm mà chưa đủ để quên những kinh hoàng của hai mươi sáu ngày địa ngục có thật ở trần gian, khi mà quân cộng sản tràn vô Huế vào lúc 2:33 phút sáng ngày mùng 2 Tết Mậu Thân, gây bao nhiêu chết chóc, tang thương, đớn đau cùng cực cho dân chúng Huế.

Năm ngàn ba trăm hai mươi bảy [5327] thường dân vô tội bị hạ sát, 1200 bị bắt đi mất tích mà đến nay vẫn không có dấu vết để tìm kiếm. Thử hỏi họ đã làm gì nên tội để phải gánh chịu cái chết tức tưởi, ngoài cái tội độc nhất là không chịu nghe lời kêu gọi “tổng nổi dậy cướp chính quyền” của Hồ Chí Minh, của đảng cộng sản Việt Nam, của đám cộng sản nằm vùng Đôn Hậu, Trí Quang, Thiện Siêu, Chánh Trực, Lê Văn Hảo, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Hoàng Phủ Ngọc Phan, Nguyễn Đắc Xuân, Phạm thị Xuân Quế, Nguyễn thị Đoan Trinh, Tôn Thất Dương Tiềm, Nguyễn Đóa, trong lực lượng Liên Minh Dân Tộc Dân Chủ Hòa Bình mà Chủ tịch là Lê Văn Hảo, giáo sư Nhân Chủng Học Viện Đại Học Huế, và Phó Chủ tịch là Thích Đôn Hậu, Chánh Đại Diện Phật giáo Ấn Quang Miền Vạn Hạnh.

Đây là một lực lượng chính trị thứ 2, sau Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam do Hồ Chí Minh và đảng cộng sản Việt Nam thành lập trước Tết Mậu Thân 1968 trong kế hoạch “tổng công kích, tổng nổi dậy” của bọn chúng.

Với 10 ngàn quân, gồm chính quy, du kích và quan trọng nhất là đám hạ tầng cơ sở Việt Cộng và Việt Gian cộng sản trong Lực Lượng Liên Minh Dân Tộc Dân Chủ Hòa Bình của Lê Văn Hảo và Thích Đôn Hậu, chúng mưu đồ dùng lực lượng quần chúng Huế thực hiện một cuộc “Tổng Nổi Dậy” cướp chính quyền, nhưng bọn chúng đã đánh giá sai lầm mức độ dân chúng Huế ủng hộ chúng, nên chúng đã trả thù và do đó mà dân chúng Huế đã phải trả giá bằng một cuộc thảm sát lớn nhất trong lịch sử Việt Nam.

Ngay những giờ phút đầu của sáng ngày mùng hai Tết Mậu Thân 1968, Việt cộng đi đến đâu, dân chúng Huế bỏ chạy đến đó. Bọn chúng thành lập chính quyền “cách mạng” Phường, Quận, Tỉnh, Thị, đưa những tên nằm vùng Việt Gian cộng sản trong lực lượng Liên Minh Dân Chủ Hòa Bình ra nắm chính quyền, và kêu gọi đồng bào Huế “tổng nổi dậy”. Mục đích của Hồ Chí Minh và đảng cộng sản Việt Nam nhằm phỉnh gạt thế giới, truyên truyền rằng dân chúng tại các đô thị Miền Nam đặc biệt là cố đô Huế đã đồng loạt đứng dậy chống lại Ngụy quân, Ngụy quyền và đế quốc Mỹ xâm lược. Ngoài ra nếu cuộc “tổng nổi dậy” chiếm Huế thành công, cộng sản sẽ dùng kết quả của cuộc “tổng nổi dậy” này như là một thế mạnh của bọn chúng trong cuộc Hòa Đàm Paris bắt đầu giữa bọn chúng và Hoa Kỳ vào ngày khởi đầu thăm dò là tối ngày 26/6/1968, tại nhà riêng của phái đoàn cộng sản Việt Nam ở Cyrus Vance, Pháp Quốc.

Thế nhưng đã không có cuộc “tổng nổi dậy” tại Huế, vì đồng bào Huế không một ai tham gia, không một ai hợp tác với bọn quỷ dữ trong cuộc “tổng nổi dậy” của bọn chúng. Tại sao?

Trong quá khứ, người Huế đã có quá nhiều kinh nghiệm với bọn ác quỷ cộng sản từ sau 1945, khi mà mặt trận Việt Minh công khai xuất hiện hoạt động tại Thừa Thiên-Huế. Nhiều vụ bắt cóc, ám sát dã man do bọn chúng chủ mưu thi hành tại các làng mạc trong lãnh thổ tỉnh Thừa Thiên, gây tang tóc đau thương cho nhiều gia đình. Nay Mậu Thân 1968, chỉ mới sau 24 giờ chiếm Huế, đã có quá nhiều các vụ xử bắn đồng bào một cách vô lý, vô cớ của đám lực lượng Liên Minh Dân Tộc Dân Chủ Hòa Bình do Lê Văn Hảo và Thích Đôn Hậu làm chủ tịch và phó chủ tịch, mà đại diện là Đoàn Vũ Trang Thanh Niên, hay còn gọi là Lực Lượng An Ninh và Bảo Vệ Khu Phố của Nguyễn Đắc Xuân, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Nguyễn Thị Đoan Trinh, Tôn Thất Dương Tiềm, Hoàng Phủ Ngọc Phan, v.v.

Những hành động giết người kinh rợn của đám quỷ dữ này đã tạo thảm khốc, kinh hoàng cho đồng bào Huế, cho nên trong suốt 22 ngày chiếm Huế, mỗi khi cán binh Bắc Việt và đám Nguyễn Đắc Xuân, Hoàng Phủ Ngọc Tường xuất hiện ở vùng nào, ở khu phố nào, thì đồng bào ùn ùn kéo chạy, chạy bá thở, chạy vắt chân lên cổ, chạy không dám quay nhìn phía sau, vì sợ ác quỷ rượt theo bắt đem đi chôn sống, đem trói bằng dây kẽm gai rồi dùng cuốc xẻng đập vào đầu nạn nhân đem lấp vào hố sâu, hầm cạn. Nỗi kinh hoàng và sợ hãi của đồng bào Huế đối với quân cộng sản và đám Việt Gian cộng sản nằm vùng đã vút tận trời xanh, thì thử hỏi làm gì có sự hợp tác với bọn đồ tể cộng sản để có thể có “cuộc tổng nổi dậy của nhân dân Thừa Thiên-Huế chống lại Ngụy quân, Ngụy quyền và Đế quốc Mỹ xâm lược”.

Thất bại vì cuộc “tổng nổi dậy” bất thành, Hồ Chí Minh và Bộ Chính trị đảng cộng sản Việt Nam cho lệnh tư lệnh mặt trận Trị-Thiên-Huế Trung tướng VC Trần Văn Quang và Chính ủy quân khu Trị-Thiên-Huế Lê Chưởng, áp dụng biện pháp “bạo lực cách mạng” hay “bạo lực đỏ” đối với đồng bào Huế để hù dọa răn đe.

Và những ai, những đơn vị nào của bọn chúng thi hành chỉ thị “bạo lực cách mạng” của Hồ Chí Minh và bộ chính trị đảng cộng sản Việt Nam?

1- Lực lượng an ninh của Khu ủy Trị Thiên-Huế do trưởng ban an ninh Tống Hoàng Nguyên chỉ huy.

2- Lực lượng công an Thừa Thiên-Huế, do trưởng ty Công An Việt Cộng Đại tá Nguyễn Đình Bảy với bí danh Bảy Lanh chỉ Huy.

3- Cơ quan an ninh của Lực Lượng Liên Minh Dân Tộc Dân Chủ Hòa bình của Giáo Sư Lê Văn Hảo và Thích Đôn Hậu, do Nguyễn Đắc Xuân chỉ huy với danh xưng là Lực Lượng An Ninh bảo vệ Khu Phố hay Đoàn Võ Trang Thanh Niên, đó là một tổ chức sắt máu giết người tàn bạo nổi tiếng: Nguyễn Đắc Xuân, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Nguyễn Đóa, Tôn Thất Dương Tiềm, Hoàng Phủ Ngọc Phan, Nguyễn Thị Đoan Trinh, tên thầy bói Diệu Linh, tên Gù bán thuốc Cẩm lệ ở Quận II, Thiên Tường chủ nhà thuốc bắc ở đường Duy Tân Quận III, hai thằng con trai của Thiên Tường và hằng trăm đoàn viên của Nguyễn Đắc Xuân.

Ba cơ quan an ninh trên đã phối hợp chặt chẽ thi hành bạo lực cách mạng của Hồ Chí Minh và bộ chính trị đảng cộng sản Việt Nam, vì vậy mà Huế đã trở thành một “địa ngục trần gian có thật”.

Mạng sống của con người đâu phải là con sâu cái kiến, với 5327 thường dân vô tội bị giết và 1200 thường dân bị bắt đi mất tích, con số quả thật quá lớn và quá kinh hoàng đối với cố đô Huế, một thành phố nhỏ hiền hậu thơ mộng với sông Hương núi Ngự, với cầu Tràng Tiền sáu vài mười hai nhịp, với cung miếu triều xưa của triều đại nhà Nguyễn, triều đại đã có công lao thống nhất sơn hà, mở rộng giang sơn từ Ải Nam Quan vào đến tận mũi Cà Mâu. Vậy mà chỉ 22 ngày chiếm Huế, Hồ Chí Minh và đảng cộng sản Việt Nam đã biến Huế thành một thành phố đổ nát điêu tàn, xác người chết sinh thối nằm khắp mọi nơi trong thành phố. Huế trở thành một thành phố trắng với khăn tang áo chế, với hằng trăm hằng ngàn cỗ quan tài, lặng lẽ u buồn chậm bước từ trong lòng thành phố lên đến nghĩa trang Ba Đồn, nơi an nghỉ của 5327 nạn nhân của Hồ Chí Minh, đảng cộng sản Việt Nam và bè lũ tay sai, chỉ vì tội độc nhất đó là họ không chịu hưởng ứng lời kêu gọi “tổng nổi dậy” của bọn chúng.

Tội ác của đảng cộng sản Việt Nam, Hồ Chí Minh và bè lũ tay sai đối với dân tộc nói chung và đối với đồng bào Huế nói riêng đã quá lớn, gây thống hận cho hằng triệu sinh linh, cho hằng triệu gia đình, đặc biệt là Mậu Thân 1968 tại cố đô Huế. Tội ác như vậy mà bọn chúng vẫn cho đó là một chiến thắng, chiến thắng Mậu Thân 1968, chiến thắng với nỗi oan khiên của trên năm ngàn người dân vô tội Huế bị chôn sống, bị đập đầu bằng vật cứng rồi vùi dập đây đó trong thành phố Huế, nơi Bãi Dâu, Chi Lăng, Ngự Viên, Chùa Áo Vàng, nơi Thành Nội, đường Hòa Bình, ngã tư Anh Danh, trường Thiên Hựu, Dòng Chúa Cứu Thế, Bến Ngự, chùa Từ Đàm, chùa Tường Vân, nhà máy nước Vạn Niên, lăng Tự Đức, lăng Đồng Khánh. Tại Phú Vang, Phú Thứ, Hương Thủy, Khe Lụ, Khe Đá Mài.

Bốn mươi hai năm đã trôi qua, nhưng niềm đau và nỗi oan khiên đó vẫn là một vết thương còn rỉ máu trong lòng đồng bào Huế, và trong lòng của thân nhân của 5327 nạn nhân bị giết, và 1200 người bị mất tích bởi vì bốn mươi hai năm qua đã không có một cử chỉ hối hận, không một lời xin lỗi của những kẻ đã phạm tội ác, tội diệt chủng, tội ác chiến tranh đối với dân tộc, đối với vong linh và thân nhân của tất cả các nạn nhân thảm sát Mậu Thân.

Kẻ sát nhân vẫn không chịu bỏ đồ đao xuống để sám hối, ngược lại, hằng năm đảng cộng sản Việt Nam vẫn tổ chức lễ mừng chiến thắng Mậu Thân 1968, và rồi còn để cho những tên thủ phạm trong vụ tàn sát đồng bào Huế trong Tết Mậu Thân 1968 như: Hoàng Phủ Ngọc Tường, Nguyễn Đắc Xuân, Lê Văn Hảo, Hoàng Phủ Ngọc Phan, Nguyễn Thị Đoan Trinh, v.v... chối tội sát nhân. Với sự phụ họa của tên Đại tá cộng sản Bùi Tín, bọn chúng tuyên bố tráo trở và bỉ ổi với các hãng thông tấn thế giới các đài truyền thanh truyên hình quốc tế rằng:

Vụ tàn sát trên năm ngàn đồng bào Huế trong Tết Mậu thân 1968 là do ngụy quân, ngụy quyền Miền Nam và đế quốc Mỹ xâm lược làm ra, rồi đổ tội cho cách mạng hầu làm giảm lòng thương yêu của đồng bào Huế đối với cách mạng”.

Bốn mươi hai năm qua, công bằng, công lý vẫn chưa được trả lại cho vong linh những người quá cố, như tôi đã trình bày ở phần “Huế đòi nợ”:

Ngày 27/1/1973 là ngày mà Chính Phủ Việt Nam Cộng Hòa, chính Phủ Hoa Kỳ, chính phủ cộng sản Bắc Việt, chính phủ Lâm Thời Mặt Trận GPMN, bốn phe tham chiến ký vào Nghị Định Thư ngưng bắn và tái lập hòa bình cho Việt Nam, tại Paris, Pháp quốc.

- Ngày 28/1/1973 đúng 7:00 giờ sáng lệnh ngưng bắn trên toàn lãnh thổ Miền Nam có hiệu lực.

- Ngày 30/1/1973 phái đoàn quân sự của chính phủ Bắc Việt và Chính Phủ Lâm Thời Mặt Trận GPMN, trong Ủy Ban Quân Sự Bốn Bên Kiểm Soát Đình Chiến và Tái Lập Hòa Bình từ Hà Nội đến Huế vào khoảng 12 giờ đêm bằng máy bay C-130 của không lực Hoa Kỳ, bọn chúng trú đóng tại Bãi Dâu.

Chỉ 3 ngày sau tức là ngày 2/2/1973, Bộ Chỉ Huy Cảnh Sát Quốc Gia Thừa Thiên đã bí mật hỗ trợ đồng bào Huế, nhất là thân nhân của những nạn nhân bị thảm sát trong Tết Mậu Thân 1968, tổ chức một cuộc biểu tình gần 10 ngàn người kéo về căn cứ Bãi Dâu, nơi mà hai phái đoàn quân sự của Bắc Việt và chính phủ lâm thời Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam đang trú đóng, để đòi nợ chồng, nợ con, nợ thân nhân bị bọn cộng sản sát hại trong Tết Mậu Thân 1968.

Trưởng phái đoàn, Thượng tá Hoàng Anh Tuấn, không chịu tiếp phái đoàn cô nhi tử sĩ thân nhân của những nạn nhân bị bọn chúng sát hại trong Tết Mậu Thân. Tức giận vì hành động im lặng, khinh thường những đòi hỏi chính đáng của đồng bào Huế, đoàn biểu tình đã tràn vào căn cứ đập phá gây thiệt hại nặng nề cho bọn chúng. Mười hai giờ sau bọn chúng phải rời khỏi Huế, căn cứ Bãi Dâu đóng cửa vĩnh viễn.

Đó là lần thứ nhất Huế đòi nợ, nợ công bằng và công lý mà bọn sát nhân phải trả lại cho linh hồn của 5327 nạn nhân vô tội bị bọn chúng thảm sát, và 1200 người bị dẫn đi mất tích trong Tết Mậu Thân 1968.

Bao nhiêu năm qua, tại hải ngoại, cứ mỗi lần Tết đến, cộng đồng người Việt tỵ nạn cộng sản từ Hoa Kỳ, Âu Châu, Úc Châu, đều tổ chức lễ tưởng niệm đồng bào nạn nhân Tết Mậu Thân 1968 tại Huế. Mỗi lần được tham dự những buổi lễ đó, lòng tôi lại thấy xót xa, vết thương Mậu Thân bỗng rỉ máu trở lại, tôi thầm khấn nguyện với vong linh những nạn nhân:

Tháng 2/1973, tôi đã cố gắng yểm trợ một lần đòi nợ bọn Việt cộng tại Bãi Dâu-Huế, nhưng chưa đòi được, lần này xin vong linh tiền nhân, xin oan hồn tử sĩ, giúp tôi có đủ ý chí, nghị lực, tôi sẽ cố gắng vận động những ai có lòng cùng với tôi, đứng ra truy tố bọn cộng sản và bè lũ tay sai đã sát hại dã man đồng bào Huế ra truớc tòa án quốc tế về Tội Ác Chiến Tranh và tội diệt chủng để lấy lại công bằng và công lý cho những oan hồn tử sĩ.

Và cũng để cho đảng cộng sản Việt Nam và những chính phủ hay cá nhân, hiện tại cũng như tương lai biết rằng, nếu cầm quyền, nắm giữ sinh mạng đồng bào mà làm ác, sát hại lương dân, không sớm thì muộn, cũng phải trả lời trước công lý về hành động tàn ác của minh, vì “lưới trời lồng lộng, tuy thưa nhưng khó thoát
.”

Trong khấn nguyện đó, và với quyết tâm, đầu năm 2010, chúng tôi cùng một số chiến hữu CSQG Thừa Thiên-Huế, một số chiến hữu trong quân lực VNCH, một số thân nhân các nạn nhân bị thảm sát, cùng một số bạn hữu thân thích, đã thành lập Ủy Ban Truy Tố Tội Ác Đảng cộng sản Việt Nam, để truy tố bọn tội phạm vụ tàn sát đồng bào vô tội Huế vào Mậu Thân 1968 ra trước tòa án quốc tế với tội danh:

Tội Ác Chiến Tranh và Tội Diệt Chủng.

Trong hơn một năm nay, chúng tôi đã được sự hưởng ứng, biểu đồng tình của thân nhân nạn nhân và đồng bào Huế trong nước cũng như ở hải ngoại. Họ đã gởi cho Ủy Ban những lời khai, lời tường thuật trường hợp thân nhân họ bị cộng sản Việt Nam và đám tay sai giết hại trong tết Mậu Thân 1968 tại Huế.

Chúng tôi đã đúc kết được một số hồ sơ tội phạm, phiên dịch ra Anh ngữ, Pháp ngữ, Đức ngữ, và chuyển hồ sơ nội vụ cho tổ hợp luật sư quốc tế đại diện cho Ủy Ban Truy Tố Tội Ác Đảng cộng sản Việt Nam trước tòa án quốc tế.

Chúng tôi đặt tin tưởng vào khả năng của tổ hợp luật sư này, vì họ đã thắng nhiều vụ kiện liên quan đến nhân quyền và đặc biệt đã thắng vụ kiện truy tố Giang Trạch Dân lãnh tụ Trung Cộng và đồng bọn trước tòa án quốc tế về tội đàn áp, bức hại tín đồ và giáo phái Pháp Luân Công tại Trung cộng.

Tôi đã công khai mọi thứ, từ thư từ, văn kiện, email, liên lạc giữa Ủy Ban Truy Tố Tội Ác Đảng cộng sản Việt Nam với tổ hợp luật sư quốc tế này, cũng như những tài liệu liên quan đến vụ thảm sát Mậu Thân của thân nhân nạn nhân, hoặc của những nhân chứng khác, mà chúng tôi đã được họ cung cấp, chúng tôi đã công khai phổ biến ở phần cuối của cuốn sách này, và lẽ đương nhiên tên tuổi, địa chỉ nguồn tin đã được chúng tôi giữ kín.

Với việc công khai và bạch hóa những hồ sơ đó, cùng tên, địa chỉ, số điện thoại, Email của tổ hợp luật sư quốc tế đang đại diện cho ủy ban chúng tôi, chúng tôi đã ghi nhận nhiều lời khuyên như sau:

“Không nên công khai hóa lúc này, đợi cho đến khi phiên tòa đầu tiên bắt đầu xử hãy công bố thì hay hơn, như vậy tránh được sự đánh phá của đảng cộng sản Việt Nam cùng bè lũ tay sai, và có thể ngay cả những người quốc gia cùng chiến tuyến, nhưng vì lòng tị hiềm, đố kỵ, họ cũng sẽ đánh phá. Như vậy công việc khó mà thành tựu được”.

Chúng tôi xin ghi nhận và hết lòng cám ơn về những lời khuyên chân thành và xây dựng đó, nhưng cá nhân tôi và anh em trong ban tham mưu của UBTTTAĐCSVN chúng tôi nghĩ rằng:

Công việc mà chúng tôi đang làm là công việc chẳng vì danh mà cũng chẳng vì lợi, mà chỉ vì nỗi oan khiên của hằng ngàn đồng bào Huế vô tội, bị cộng sản tàn sát trong Tết Mậu Thân 1968 (cũng phải đề cập đến hàng triệu đồng bào bị giết hại trong các đợt đấu tố cải cách ruộng đất, các đợt tiêu diệt “trí, phú, địa, hào”, các đợt “cải tạo” công, thương nghiệp, các án “tập trung cải tạo” hay đày dân đi kinh tế mới, v.v. Tóm lại, những tội ác mà chúng gây ra cho dân tộc Việt Nam từ khi có đảng cộng sản VN đến nay). Đã không vì danh mà cũng chẳng vì lợi thì tại sao không công khai, minh bạch việc truy tố Hồ Chí Minh, đảng cộng sản Việt Nam, và những tên Việt gian sát nhân giết hại đồng bào Huế ra trước tòa án quốc tế để lấy lại công bằng và công lý cho những người đã khuất.

Hơn nữa bổn phận, trách nhiệm, cũng như bản chất của người lính VNCH và người chiến sĩ Cảnh Sát Quốc Gia chúng tôi là trực diện trước hiểm nguy và đương đầu. Trước ngày 30/4/1975 chúng tôi đương đầu với quân cộng sản từng phút, từng giờ, từng ngày, để bảo vệ lãnh thổ, bảo vệ sinh mạng và tài sản của đồng bào, thì nay có sá gì chuyện truy tố bọn chúng ra tòa về tội ác, mà bọn chúng đã gây ra cho đồng bào Huế mà chúng tôi phải sợ, không dám công khai đương đầu với bọn chúng.

Ủy Ban Truy Tố Tội Ác Đảng cộng sản Việt Nam chúng tôi thách thức, chờ đợi và đương đầu, với những hành động phá họai của đảng cộng sản Việt Nam và đám Việt Gian tay sai, trong công việc chúng tôi đang làm là truy tố bọn chúng ra tòa án quốc tế để lấy lại công đạo và công lý cho cho 5327 thường dân vô tội bị giết và 1200 người bị bắt đi mất tích.

Cuối cùng chúng tôi hiểu rõ rằng:

Một cây làm chẳng nên non
Ba cây chụm lại thành hòn núi cao


Ủy ban Truy Tố Tội Ác Đảng cộng sản Việt Nam chúng tôi trân trọng kính mời quý đồng bào, quý hội đoàn, và bất cứ ai quan tâm đến nỗi oan ức của những nạn nhân đã bị Việt Cộng sát hại trong Tết Mậu Thân 1968 tại Huế, cùng góp sức với chúng tôi trong công việc lớn lao và trọng đại này, hầu trả lại công bằng và công lý cho oan hồn của 5327 nạn nhân vô tội và 1200 người bị bắt đi mất tích, mà Hồ Chí Minh, đảng cộng sản Việt Nam và bè lũ Việt gian Liên Minh Dân Tộc Dân chủ Hòa Bình là thủ phạm.

Trân Trọng,



Liên Thành

- Cựu Chỉ Huy Trưởng Bộ Chỉ Huy CSQG Thừa Thiên-Huế
- Chairman, Ủy Ban Truy Tố Tội Ác Đảng cộng sản Việt Nam
Phone: (626) 267-1057.
Email: ubtttadcsvn.vg@gmail.cpm
Web: http://ubtttadcsvn.blogspot.com

 

****** ||| ******

 

PHỤ BẢN HÌNH ẢNH

 

Quốc Kỳ chính thống của Quốc Gia Việt Nam
(Cờ Việt Nam từ 1890 thời Vua Thành Thái)

(Gồm Quốc Hiệu Việt Nam Cộng Hòa 1955-1975)

HUẾ VÀ BIỂU TƯỢNG QUỐC GIA VNCH



NHỮNG LÁ CỜ MÁU NGOẠI VI cộng sản


Cờ Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam,
Tay Sai cộng sản Miền Bắc (thành lập năm 1960)


Cờ Liên Minh Dân Tộc Dân Chủ Hòa Bình,
Tay sai cộng sản Miền Bắc, thành lập trong
dịp tổng công kích Tết Mậu Thân 1968.


Phi Cảng Huế-Phú Bài, tháng 1 năm 1968


Phi trường Phú Bài - Huế, tháng 1-1968 Phi trường Phú Bài
nằm ở phía nam TP Huế cách trung tâm thành phố 15 km.
Tọa độ: 16°24′06″N, 107°42′10″E.


Phi trường Phú Bài tháng 1 năm 1968,
mọi người nô nức về Huế ăn Tết, 3 ngày ngưng chiến


Rồi cộng sản tràn vào, 3 ngày ngưng bắn chỉ là sự lường gạt...
bao nhiêu điêu linh thống khổ kéo đến theo gót chân đạo quân xâm lược


Đạo quân quần cộc, nón cối dép râu, đêm mùng một
rạng sáng mùng hai tiến vào Huế 1968 (hình TTXCSVN)

 

Hãy đọc những gì bọn sát nhân Hồ Chí Minh viết về Mậu Thân:

Trong đêm đầu xuân mưa bay, giá lạnh và sương mù, một đòan người áo đen, quần cộc, dép cao su, từ trong rừng đi ra, vượt qua sông, qua làng, không một tiếng động, lặng lẽ tiến vào thành phố Huế bằng tất cả các ngõ đường, các cửa ô...

Mậu Thân trong chiến đấu, bộ đội cả chủ lực và địa phương hy sinh lẫn bị thương khỏang 3.000 người. Trong Thành ủy có 2 đồng chí hy sinh. Nhưng ta đã diệt hơn một vạn tên địch trên mặt trận Huế. Toàn bộ căn cứ địch tại thành phố đều bị ta đánh nát; tất cả 36 cơ quan cấp tỉnh và trung phần của chúng đều bị ta chiếm hết, bọn đầu não đều ra hàng.

Thành quả vẻ vang này trước hết biểu hiện phẩm cách anh hùng của cán bộ, chiến sĩ các lực lượng vũ trang nhân dân. Suốt 26 ngày chiếm giữ thành phố, chiến sĩ ta đương đầu với khó khăn ác liệt chưa từng thấy; thế mà không một đơn vị nào từ Trung đội, Đại đội trở lên bị xóa mất phiên hiệu, không một người nào ra đầu hàng hoặc đào ngũ; sống chung với dân như thế, vẫn giữ vững kỷ luật tác phong, khi xa rồi dân vẫn còn thương nhớ, người nằm xuống đó dân vẫn tiếp tục hương khói phụng thờ.”

“Dân hương khói phụng thờ chúng bay?” Bọn giết người diệt chủng, hãy chờ xem bản án của tòa án quốc tế dành cho bay...

 

QLVNCH và quân đội Hoa Kỳ phản công cứu Huế


Xe tăng Hoa Kỳ tấn công từ bên ngoài Hoàng Thành


Quân Lực VNCH chiếm lại Đại Nội, ngai vàng tại điện Thái Hòa


QLVNCH sống chết với lá cờ và Huế


Cứu Huế, Quân đội đồng minh Hoa Kỳ và dân Huế


Huế đổ nát điêu tàn


Huế khóc


Tổng Thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu trong lễ an táng đồng bào Huế
bị Việt Cộng sát hại Tết Mậu Thân tại nghĩa trang Ba Đồn


Giải khăn trắng trải dài từ thành phố lên đến tận Ba Đồn




Biểu ngữ “Xót thương đồng bào ruột thịt bị
Việt Cộng sát hại trong biến cố Mậu Thân”

Chính quyền VNCH và Thừa Thiên đã tận lực
truy tìm và chôn cất 5327 thi thể nạn nhân



Sau cùng, với nỗ lực vượt bực của dân chúng và
chính quyền Việt Nam Cộng Hòa, Huế đã hồi sinh...

VÀI HÌNH ẢNH KỶ NIỆM CỦA
LL CSQG Thừa Thiên-Huế VÀ TÁC GIẢ LIÊN THÀNH



Đại úy Liên Thành - Nhật lệnh trước hàng quân


LL CSQG Thừa Thiên-Huế tận tụy vì trách nhiệm
Chúng tôi triền miên phải đối đầu với những thế lực
chính trị muốn phá nát Huế và Miền Nam...
vì mọi biến động luôn khởi đầu từ Huế


Vinh quang cũng có mà cay đắng cũng nhiều...
Thiếu tướng Nguyễn Khắc Bình thăm BCH CSQG Thừa Thiên-Huế


“Người lính không bao giờ chết, họ chỉ mờ dần theo thời gian.”
– (General Douglas MacAuthur)

 

****** ||| ******
LỜI CÁM ƠN
của Tác Giả Liên Thành

 

Chúng tôi chân thành cảm ơn các Nhiếp ảnh gia, chuyên nghiệp cũng như tài tử, các tác giả mà chúng tôi không rõ danh tính, địa chỉ, còn tại thế hay đã qua đời, các trang mạng điện tử, có đăng những hình ảnh mà chúng tôi đã sưu tầm và trích dẫn trong cuốn sách này.

Dù không liên lạc được, chúng tôi cũng xin phép trích đăng để tiếp tay với quý vị phổ biến những hình ảnh này trước công luận, hầu làm bằng chứng cho những tội ác của bọn cộng sản và tay sai, đã tàn sát dã man và đưa đi biệt tích 6527 người dân Huế vô tội.

Thành thật cảm tạ và tri ân.
Liên Thành

 

Những tên sát thủ của lịch sử đang họp bàn
để quyết định cuộc thảm sát Mậu Thân Huế.
Có thể chối cãi không cuộc họp giết người
ngày 28 tháng 12 năm 1967 tại Bắc Bộ Phủ tức Phủ Chủ Tịch?

 

Xin tiếp tay với chúng tôi truy tố chúng và đồng đảng ra trước tòa án quốc tế. Lưới trời lồng lộng, tuy thưa nhưng nếu chúng ta quyết tâm thì chúng sẽ khó thoát...

 

 

 

 

 

Khối Kỹ Thuật UBTTTAĐCSVN
P.O.BOX 6157. Fullerton, CA.92834
Phone: 626-257-1057. Email: ubtttadcsvn.vg@gmail.com
Web: http://ubtttadcsvn.blogspot.com

Lịch sử
CÓ BAO NHIÊU MỒ CHÔN TẬP THỂ TẠI THIÊN - HUẾ
SAU MẬU THÂN 1968

LIÊN THÀNH
Orange county, CALI, USA. Ngày 29/12/2015
(Trích Huế Thảm Sát Mậu Thân 1968.Trang 265-273)

 

      

     

      

Huế còn lại gì sau 26 ngày cộng quân chiếm đóng? Thưa, đổ nát điêu tàn xác xơ đến cùng cực. Huế với thây người nằm rải rác khắp nơi. Thây người sình thối trên đường phố, trong con hẻm, bên bờ cây bụi cỏ, trong vườn ngoài sân. Huế bây chừ là một nhà xác mênh mông ảm đạm. Xác của những người vô tội bị cộng sản và những tên đồ tể nằm vùng tàn sát thẳng tay. Họ có tội tình chi rứa? Họ có tội! Cái tội của họ lớn lắm! Tội của họ là không chịu theo cộng sản, có chết cũng không theo, không “tổng nổi dậy” mà cũng chẳng “tổng khởi nghĩa” theo lệnh của Hồ Chí Minh và đảng cộng sản vì rứa mà họ phải chết.

Người Huế chết lộ thiên, chết đứng, chết nằm, nằm nghiêng, nằm sấp, nằm ngửa, chết chất đống, chết như đang nhìn trời hiu quạnh sầu thảm, như đang không hiểu tại sao mà phải chết.

Có bao nhiêu ngàn xác người nằm phơi trên phố Huế, và có bao nhiêu ngàn xác người đã nằm duới hố cạn hầm sâu? Bao nhiêu mồ chôn tập thể tại thành phố Huế và các quận quanh vòng đai thành phố Huế? Nỗi oan khiên nào vút tận trời xanh.

Câu trả lời sẽ không chính xác một trăm phần trăm, có thể thiếu sót, vì thời gian cũng đã quá lâu, 47 năm đã trôi qua rồi còn chi, tài liệu thì không còn đầy đủ như văn khố bộ chỉ huy CSQG Thừa Thiên-Huế còn trí nhớ thì cũng bị ảnh hưởng bởi thời gian, chỉ trừ con số 5327 và 1200 là chúng tôi nhớ chính xác.

Những chi tiết khác, nhớ được chừng nào, cộng với số tài liệu hiện có, và với sự cộng tác của anh em còn lại của ty CSQG Thừa Thiên-Huế và các nhân chứng sống khác còn ở trong nước và ở hải ngoại tôi xin ghi lại dưới đây, dù không được đầy đủ 100%:

 

 

 

Người Huế chết như đang nhìn trời hiu quạnh sầu thảm,
như đang không hiểu tại sao mà phải chết.

 

Tại Quận I, tức Quận Thành Nội Thị xã Huế.

1- Dưới chân tường thành cạnh cửa Đông Ba: Một hầm chôn 7 xác. Tất cả bị trói 2 tay, đầu ngực, và gáy bị đạn.

2- Ngay dưới chân tường thành cạnh cửa An Hòa: Có hai hầm chôn, một hầm có 12 xác, đầu và ngực bị vết đạn, hầm kia có 7 xác, miệng bị nhét giẻ. Chết trong tình trạng bị ngộp thở.

3- Dọc đường Cường Để gần cống Thủy Quan: Có 4 hầm chôn tập thể, tổng cộng khoảng 60 xác, tất cả đều có dấu đạn ở đầu, cổ và ngực.

4- Trong khuôn viên Tòa Án Huế: Có hai mồ chôn tập thể, mỗi mồ khoảng trên 10 xác chết, không có dấu đạn, tình trạng bị chôn sống.

 

 

Đào xới để tìm xác những sinh linh vô tội

 

Tại Quận II, tức Quận Hữu ngạn Thị xã Huế

1- Tại trường học Gia Hội: Đây là địa điểm mà Cộng quân thiết lập Tòa Án Nhân Dân do Hoàng Phủ Ngọc Tường ngồi ghế Chánh Án. Tổng cộng có 14 hầm chôn tập thể, một số hầm nằm sau lưng trường, một số hầm nằm hai bên bờ rào của trường, và một số hầm nằm phía trước trường. Tổng cộng trong 14 hầm chôn tập thể có tất cả là 204 xác. 2/3 trong số 204 nạn nhân chết trong tình trạng bị trói từng chùm vào với nhau bằng dây kẽm gai, miệng bị nhét giẻ, tình trạng bị chôn sống. Số còn lại bị bắn vào đầu, ngực và bụng.

2- Khu Bãi Dâu: Tổng cộng có 6 hầm chôn tập thể với tổng số nạn nhân trên 150 người. Đa số bị bắn vào đầu và gáy, một số ít bị nhét giẻ vào miệng, chết vì bị chôn sống.

3- Tại Chùa Therevada hay thường gọi là chùa Tăng Quang Tự: Tại đây có 18 hầm chôn tập thể với 140 xác. Tất cả bị bắn vào đầu và gáy.

4- Tại Cồn Hến: Cồn Hến là một cù lao nhỏ có hình dáng giống như loại hến vỏ dài. Cồn Hến nằm giữa dòng sông Hương, đứng từ cầu Tràng Tiền nhìn về Cồn Hến thì phía bên tay phải của Cồn Hến là thôn Vỹ Dạ, phía bên tay trái của Cồn Hến là cầu Gia Hội và vùng Gia Hội. Phía đầu của Cồn Hến nhìn sang phải là Đập Đá.

Cồn Hến là nơi có 1 mồ chôn tập thể 100 thân xác của quân nhân, công chức, cán bộ chính quyền. Nạn nhân bị đoàn Vũ Trang Thanh Niên hay là Đội An Ninh và Bảo Vệ Khu Phố của Nguyễn Đắc Xuân bắt giữ trong những ngày mùng 2, mùng 3, mùng 4 Tết tại Quận I, Quận II đem sang Cồn Hến và hành quyết họ tại đây. Tất cả đã chết trong tình trạng đau đớn cực độ vì đánh đập. Họ bị gãy xương tay chân, bể sọ, đầu, ngực, và bụng bị bắn.

5- Dọc theo đường Chi Lăng, đường Trung Bộ, đường Bạch Đằng, khu mã ông Trạng đã có rất nhiều ngôi mộ chôn tập thể, trung bình mỗi ngôi mộ chôn tập thể tối thiểu vào khoảng năm bảy xác, tối đa khoảng từ 10 đến 20 xác.

Tại Quận III tức Quận Hữu Ngạn Thị xã Huế.

1- Tại Trường Trung Học Thiên Hữu: Trường trung học Thiên Hữu là nơi trưởng ty công an Việt Cộng Nguyễn Đình Bảy hay Bảy Lanh đặt Bộ Chỉ Huy An ninh tại đó. Theo nhiều nhân chứng cho biết, trong suốt thời gian chiếm đóng trường Thiên Hữu bọn chúng đã dùng hai phòng học làm pháp trường xử bắn một số đông Quân, Cán, Chính mà bọn chúng bắt từ các nơi trong Quận III. Ngoài ra, sau khi chiến cuộc chấm dứt tại Quận III, đã có 3 hầm chôn tập thể được phát giác bên hông trường gần khu cánh đồng An Cựu.

2- Tại sau Tiểu Chủng Viện: Ngay tại sau lưng Tiểu Chủng Viện, cũng đã có hai hầm chôn. Một hầm là hai xác người Mỹ, và một hầm 3 xác là người Việt Nam. Tất cả bị bắn vào đầu và gáy.

Tại các vùng ven thành phố Huế thuộc Quận Hương Trà.

1- Tại Cầu An Ninh Hạ thuộc Quận Hưởng Trà: Nơi đây có 6 hầm chôn tập thể. Có một hầm 20 xác người tất cả bị trói bằng kẽm gai, không một ai bị vết đạn, họ chết trong tình trạng bị ngộp thở vì bị chôn sống. Đồng bào trong vùng nhận diện được 2 xác, đó là xác của Trung sĩ Trương Văn Triệu, và ông Trần Hy, Nhân Dân Tự Vệ.

2- Tại Trường tiểu học An Ninh Hạ: Có 6 hầm chôn tập thể, 6 hầm này được phát giác vào ngày 17 tháng 3 năm 1968, tổng cộng gần 200 xác. Tất cả chết trong tình trạng bị bắn vào đầu và ngực. Trong đó có xác của Trung sĩ Cảnh Sát Trần Triệu Tục. Trung sĩ Trần Triệu Tục phục vụ tại Bộ Chỉ Huy Cảnh Sát Hương Trà. Trung sĩ Tục có vợ 7 con, Anh Tục bị bắt tại nhà vào hôm mùng 5 Tết.

3- Tại trường tiểu học Vân Chí: Tại đây có 8 hầm chôn tập thể, có khoảng 150 xác. Một số chết trong tình trạng bị chôn sống, một số bị bắn vào đầu và gáy.

4- Tại vùng Chợ Thông, gần chùa Thiên Mụ: Tại đây có 4 hầm chôn tập thể. Có 120 xác. Họ chết trong tình trạng bị bắn vào đầu và gáy. Có nhiều nạn nhân bị bắn từ gáy, đạn bung ra phá nát cả miệng. Điều đáng ghi nhận là có khoảng 12 xác đàn bà.

Tại Quận Phú Thứ.

1- Tại vùng Đồng Di: Vào ngày 1/4/1968 tìm thấy một hầm chôn tập thể 101 xác, đa số là quân nhân công chức, học sinh. Họ bị chôn sống, chết trong tình trạng bị trói tay, miệng nhét giẻ, ngộp thở.

2- Tại vùng Phú Xuân, Phú Lương, Vinh Thái: Trước sau phát hiện một số hầm chôn tập thể, tổng cộng trên 900 xác. Họ cũng chết trong tình trạng bị chôn sống miệng bị nhét đầy giẻ.

3- Đến tháng 8/1969 còn tìm được một hầm chôn 135 xác. Làng Phú Lương 22 xác. Làng Phú Xuân 230 xác tất cả bị chôn sống, chết trong tình trạng ngộp thở.

4- Tháng 12/1969 còn tìm thêm được 357 xác trong 3 làng kể trên.

Vùng này gần biển, cạnh đầm (vịnh) Hà Trung do đó đất ở vùng này chứa số lượng muối rất cao, vì vậy thi thể nạn nhân như trong tình trạng bị ướp muối nên còn chưa bị ươn thối, do đó xác chết có thể được nhận diện dễ dàng.

Tận mắt, tận tai, tôi đã nghe, đã thấy một cảnh rất thương tâm, khi một thiếu phụ ôm xác người chồng từ hố cát lên, kỳ lạ thay một dòng máu tươi từ trong miệng nạn nhân ứa ra, như là một cử chỉ hay một lời nói của người chồng nói với vợ rằng “Anh bị chết oan ức, đau đớn tận cùng...”

Người vợ một tay ôm xác chồng, tay kìa dùng vạt áo lau nhẹ dòng máu đang chảy trên miệng chồng, dịu dàng nói với xác chồng:

- Anh đau lắm hả? đau lắm hả? em biết anh đau lắm... em đưa anh về nhà... mình về nhà đi anh....

Một điều lạ lùng người thiếu phụ vừa dứt câu nói, dòng máu nơi miệng người chồng cũng ngừng chảy.

Tôi và những người đứng chung quanh thiếu phụ nhìn cảnh tượng đó, nghe những lời dịu dàng của bà nói với xác chồng, đã không ngăn nổi xúc động. Mọi người kể cả tôi đều bậc khóc. Tiếng khóc nghẹn ngào, tiếng khóc thật bi thảm đau thương của đồng bào như khóc thay cho người thiếu phụ đã quá đau đớn, đã đụng đến tận cùng khổ nạn nên không còn có nước mắt, không còn có tiếng khóc. Thiếu phụ nói với xác chồng âu yếm, dịu dàng, như nói với người chồng đang còn sống trên cõi đời.

Mậu Thân 1968 đến nay đã bốn mươi hai năm trôi qua, vậy mà cảnh người thiếu phụ ôm xác chồng, nói những câu dỗ dành dịu dàng với xác chồng vẫn còn mãi trong ký ức của tôi... rồi tôi tự hỏi, bao nhiêu xác của nạn nhân Huế đã được về nhà? Xác nào còn đâu đó trên rừng sâu núi thẳm mãi mãi cất lên lời oán than với hồn thiêng sông núi rằng trên đời này còn có loài nào bất nhân hơn loài cộng sản?

 

 

Trời nắng lắm, em che cho anh đây!

 

Tại Quận Hương Thủy.

Hầu hết các hầm chôn tập thể tại quận Phú Vang, Phú Thứ, Hương Thủy được phát hiện là do tên cán bộ Huyện, ủy Viên huyện ủy Hương Thủy tên là Hồ Tỵ, bí danh Sơn Lâm, trưởng ban An Ninh Huyện bị chúng tôi bắt sau Mậu Thân khai báo. Xin nói qua cùng độc giả về tên Hồ Tỵ, bí danh Sơn Lâm:

Trưởng ban an ninh huyện Hương Thủy Hồ Tỵ bí danh Sơn Lâm đã tổ chức được một nhân viên Cảnh Sát Dã Chiến thuộc Đại Đội 102/CSDC bộ Chỉ Huy Cảnh Sát Quốc Gia Thừa Thiên-Huế làm nội tuyến cho y.

 

***

 

 

 

 

 

Khối Kỹ Thuật UBTTTAĐCSVN
P.O.BOX 6157. Fullerton, CA.92834
Phone: 626-257-1057. Email: ubtttadcsvn.vg@gmail.com
Web: http://ubtttadcsvn.blogspot.com

Lịch sử
BỘ CHỈ HUY CẢNH SÁT QUỐC GIA THỪA THIÊN-HUẾ
BẮT GIỮ TÊN CÁN BỘ VC HUYỆN ỦY VIÊN,
TRƯỞNG BAN AN NINH QUẬN HƯƠNG THỦY.
HỒ TỴ BÍ DANH SƠN LÂM VÀO SAU TẾT MẬU THÂN 1968.
TÊN NÀY ĐÃ CHÔN SỐNG TRÊN 500 ĐỒNG BÀO HUẾ

LIÊN THÀNH
Orange county, CALI, USA. Ngày 31/12/2015
(Trích Huế Thảm Sát Mậu Thân 1968.Trang 173-291)

 

      

     

      

Tôi nhớ sau Mậu Thân khoảng cuối tháng 8/1968, vào một buổi sáng, Trung sĩ Nguyễn Trọc, trưởng toán 2 bảo vệ an ninh, đem xe của tôi đi rửa tại bến Đập Đá gần khách sạn Hương Giang và Cuộc Cảnh Sát Đập Đá, đã gọi máy cho tôi với giọng hết sức hốt hoảng:

-Trình thẩm quyền Tango tôi đang rửa xe ở bến Đập Đá, tôi vừa phát giác trong thùng xe dưới ghế ngồi của Ôn có cục chất nổ lớn lắm, chừ làm răng đây Ôn?

Tôi bình tĩnh trả lời anh ta:

- Chừ cái ông nội Ôn! bỏ xe chạy gấp đi, đứng đó là tan xác, chạy ngay đi.

Chạy vào Cuộc Cảnh Sát báo cho ông Cuộc Trưởng biết, nói với ông Cuộc Trưởng lệnh của tôi phong tỏa khu vực đó ngay, không cho đồng bào và xe cộ lưu thông ngang qua khu vực đó. Tôi đến ngay.

Tôi gọi Biên Tập Viên Trần Văn Trinh (thời gian này Lực Lượng CSQG chưa mang cấp bậc như quân đội. Sau này Biên Tâp Viên CSQG mang cấp Đại úy. Đại úy Trần Văn Trinh hiện định cư tại Seallte, WA) Trung tâm trưởng Trung tâm Hành Quân Cảnh Lực:

- Trinh, gọi cho Trung Tâm Hành Quân Tiểu Khu nhờ họ xin một toán tháo gỡ đạn dược của Quân Cụ đến ngay bến Đập Đá tháo gỡ chất nổ trên xe tôi, xe tôi bị bọn VC gài chất nổ.

- Tôi gọi ngay Tango!


Tôi đến bến Đập Đá thì Biên Tập Viên Trương Công Ân (Hiện định cư tại Nam California) trưởng phòng CSĐB và thẩm sát viên Phạm Cần (tử trận ngày 28 tháng 3 năm 1975 tại bờ biển Thuận An) Chỉ Huy Trưởng BCH/CSQG/Quận III cũng vừa đến.

Chỉ mười lăm phút sau toán tháo gỡ đạn dược của Quân Cụ đến, làm xong công việc chuyên môn, họ cho chúng tôi biết ngòi nổ trong khối hợp chất C3 không kích hỏa, bằng không thì lớn chuyện rồi, vì với khối lượng hợp chất C3 này, khi nổ chiếc xe Jeep của tôi chỉ còn là một đống sắt vụn.

Cuộc điều tra để tìm ra thủ phạm đặt chất nổ rất may mắn không gặp khó khăn. Tôi và Ân bắt đầu từ hai Trung sĩ Trưởng Toán An Ninh của tôi đó là Trung sĩ Nguyễn Đình Ánh phụ trách 24 giờ trước, và Trung sĩ Nguyễn Trọc đổi phiên với Trung sĩ Ánh.

Theo trình bày của Trung sĩ Ánh, chiều hôm trước khi đưa tôi đi họp Ủy Ban An Ninh tỉnh, vì phiên họp thường kéo dài từ ba đến bốn giờ nên anh ta lái xe về BCH. Tại BCH người bạn của anh mời anh ra quán uống bia, chỉ khoảng hơn nửa tiếng đồng hồ ăn uống với người bạn xong anh lái xe về BCH và sau đó đến giờ lên Tòa Hành Chánh Tỉnh đón tôi về.

Trung sĩ Nguyễn Đình Ánh cho biết tên người bạn của anh ta là Hùng, cảnh sát viên Trần Văn Hùng là Cảnh Sát Dã Chiến Đại Đội 102.

Ban Hoạt Vụ của phòng CSĐB cũng như ban An Ninh Nội Bộ (Phản Gián, bộ phận chống xâm nhập) có hồ sơ của Cảnh Sát Dã Chiến Trần Văn Hùng, y hiện đang bị đặt trong tình trang theo dõi, bởi lẽ gia đình của Trần Văn Hùng hiện ở vùng bất an ninh (vùng D) y lại thường xuyên về thăm gia đình và ngủ lại ban đêm.

Tôi chỉ thị cho Biên Tập Viên Trương Công Ân phối hợp chặt chẽ với Trưởng Ban An Ninh Nội Bộ điều tra vụ này và cho tôi biết kết quả càng sớm càng tốt. Tôi dặn Trương Công Ân rất kỹ, tạm thời gọi Trần Văn Hùng trình diện Ban An Ninh Nội Bộ, Thẩm Sát Viên Lê Khắc Kỷ (hiện định cư tai thành phố Rosemead, California) giữ đương sự tại Ban An Ninh Nội Bộ để thẩm vấn. Nếu tìm ra được manh mối gì liên quan đến nội vụ, trình tôi ngay, tôi sẽ ký giấy câu lưu đương sự và sau đó đưa về Trung Tâm Thẩm Vấn.

Khoảng 8 giờ tối cùng ngày, chúng tôi đã có kết quả: Theo lời khai của Trần Văn Hùng thì thủ phạm vụ đặt chất nổ trên xe tôi không phải là anh ta, mà là một cơ sở khác. Anh ta chỉ có bổn phận tạo điều kiện thuận lợi cho công tác đặt chất nổ là dụ Nguyễn Đình Ánh đem xe tôi đi nhậu với anh ta, để cho một cở sở khác thi hành gài đặt chất nổ.

Trần Văn Hùng đã khai anh ta bị móc nối hoạt động cho tổ chức nội thành của Việt Cộng đã gần 8 tháng qua. Cán bộ chỉ đạo anh ta là ông Văn.

Được hỏi lần tiếp xúc cuối cùng với ông Văn vào ngày, giờ, nào?

Trần Văn Hùng cho biết:

- Mới hồi chiều này.
- Mục đích gì?


Trần Văn Hùng trả lời:

- Để báo cáo công tác, và đem thuốc tây chữa bệnh cho ông ta, ông ta đang bị bệnh nặng lắm.
- Bệnh gì?
- Sốt rét rất nặng.
- Chiều này đã gặp ông ta tại đâu?


Trần Văn Hùng trả lời:

- Tại nhà một người tôi không quen, ở tại một xóm nhỏ thuộc vùng Dương Trường gần đầm Thanh Lam, Quận Phú Vang.

- Anh nghĩ ông ta còn tại đó không?
- Còn.
- Tại sao?
- Vì ông ta sốt nặng lắm không đi đâu được.


Sau khi đọc xong bản cung của Trần Văn Hùng, tôi phản ứng ngay tức thời. Tôi nói với Trung úy Ân và Trung úy Trưởng Ban An Ninh Nội Bộ.

- Mình đi ngay.
- Đi mô Ôn?


Ân hỏi tôi.

- Thì đi bắt thằng Việt cộng đó. Tôi quyết định mở cuộc đột kích chớp nhoáng bắt tên Việt Cộng này.

Tôi gọi Biên Tập Viên Trinh, trung tâm trưởng Trung Tâm Hành Quân Cảnh Lực lệnh cho Biên Tập Viên Tôn Thất Lãnh (Hiện định cư tại Úc Châu) Đại đội trưởng Cảnh Sát Dã Chiến 102 trong vòng ba mươi phút nữa có mặt tại Bộ Chỉ Huy cùng với một trung đội trang bị tác chiến để đi công tác với tôi.

Gần một giờ sau, vào khoảng 9 giờ tối chúng tôi xuất phát từ BCH Tỉnh. Đoàn xe trực chỉ quận Phú Vang gồm có năm xe, 3 xe Jeep: tôi, Ân và Đại đội trưởng Tôn Thất Lãnh, theo sau là 2 xe Dodge chở Trung Đội CSDC. Chúng tôi dừng lại Quận, Chi Khu Phú Vang liên lạc với Trung Tâm Hành Quân Chi Khu để xin vào vùng và xin yểm trợ khi cần.

Để bảo mật chúng tôi đổ quân và đi bộ khoảng hơn 30 phút mới đến mục tiêu. Mục tiêu là một trong 6 căn nhà tranh nằm cô quạnh giữa cánh đồng, may là chúng tôi đột kích ban đêm, nếu ban ngày sẽ bị lộ ngay.

Tôn Thất Lãnh với trung đội CSDC bao vây và làm nút chận phía mặt sau căn nhà. Tôi chỉ huy tiểu đội “biệt kích” của tôi cộng thêm 7 nhân viên Cảnh Sát Đặc Biệt. Trương công Ân tấn công thẳng vào cửa trước căn nhà.

Qua hệ thống truyền tin FM-1, Lãnh gọi tôi giọng rất nhỏ:

-Tango, Tango, ông nghe tôi được không?
-Tôi nghe anh rõ, nói đi.
-Tôi rải anh em sau này xong rồi.
-Nhận rõ, nhắc lại, nếu nó chạy thoát ra phía anh, cố gắng bắt sống.
-Nhận rõ.


Tôi và tiểu đội “biệt kích” cùng Ân và 7 nhân viên CSDB của Ân chúng tôi chỉ chạy một đoạn ngắn, đạp cửa chính xông vào nhà.

Một bộ bàn bằng tre èo ọp ngay giữa căn nhà, trong ánh sáng của ngọn đèn dầu leo lét không đủ sáng căn phòng, hai người đàn bà một già, một trẻ, đang ngồi bất động vì quá sợ, nét mặt hốt hoảng trước gần 20 mũi súng của chúng tôi đang chỉ vào họ. Họ đang ăn cơm, chỉ có hai người nhưng trên bàn tre lại có 3 chén cơm đang ăn dở dang. Tôi biết ngay là có tên Văn trong nhà này.

Tôi bỗng chợt thấy có một chút bất nhẫn và hơi xấu hổ khi gần 20 họng súng chĩa về 2 người đàn bà tay yếu chân mềm nên vội hỏi họ:

- Ông Văn đâu?

Cả hai có lẽ vì quá sợ không nói được.

Tôi xoay nhìn qua căn phòng nhỏ thì đã thấy Trung sĩ Ánh đứng ngay cửa phòng chĩa mũi súng vào trong phòng với tư thế yểm trợ. Bỗng có tiếng la lớn từ trong phòng của Trung sĩ Trương Văn Diệp (hiện đang định cư tại thành phố Denver, Colorado):

- Ôn ơi! Có hai cái chân dưới gần giường.
- Hắn đó, dang ra coi chừng hắn tung lưu đạn chết cả đám.


Hơi có rối loạn trong toán vì nhà quá chật chỉ đủ chứa khoảng sáu bảy người, vách nhà bằng đất trộn với rơm lấy gì đỡ đạn, thật là lúng túng, nhưng rất nhanh một số anh em đã lui ra phía ngoài, còn lại tôi và tiểu đội “biệt kích”, chúng tôi xông thẳng vào trong phòng, tên Việt Cộng đang chui trốn dưới gầm giường tre, tôi la lớn:

- Tôi Trung úy Liên Thành Trưởng Ty Công An (danh từ của bọn chúng), tôi cho anh đầu hàng, đôi vũ khí ra trước.

Trung sĩ Trương Văn Diệp đứng phía dưới nắm 2 chân tên Việt Cộng lôi y ra khỏi gầm giường.

Đó là một người đàn ông khoảng 45 tuổi, thấp, ốm, mặt xanh như lớp rêu xanh mọc nơi bờ giếng, có lẽ vì vừa bệnh và vừa sợ. Đặc biệt là môi thâm đen.

Trung sĩ Diệp rút còng số 8 còng tay y và dẫn ra xe, 2 anh em khác nhấc chiếc giường tre lên khỏi mặt đất để quan sát phía dưới đất, mọi người đều la lớn: “có súng.” Đó là một khẩu súng AK-47 báng xếp và một cây súng lục K-54 của Trung Cộng, chiến lợi phẩm trong vụ đột kích này. Tôi nói nhỏ với Trung úy Trương Công Ân bắt giữ hai người đàn bà kia luôn vì cần khai thác tin tức liên hệ đến tên Việt Cộng mà họ đã chứa trong nhà, và cũng để bảo mật vì sợ họ sẽ thông báo cho đồng bọn biết là tên Việt Cộng này đã bị chúng tôi bắt.

Chúng tôi ra khỏi căn nhà, rời khỏi vùng đột kích.

Tôi vào tần số nội bộ Chi Khu Phú Vang thông báo kết quả cho Thiếu tá Trừng, Quận/Chi khu trưởng và cảm ơn ông ta. Sau này ông được thăng Trung tá, thuyên chuyển về làm Quận Trưởng/Chi khu trưởng Hương Thủy. Trung tá Trừng bị tử trận vì lọt vào ổ phục kich của Cộng quân trên đoạn đường ông về thăm nhà tại tỉnh Quảng Ngãi.

Trên đường về tôi vẫn dẫn đầu đoàn xe, quyết định về thẳng Trung Tâm Thẩm Vấn chứ không về Bộ Chỉ Huy. Khoảng hơn 4 giờ sáng thì về đến Trung Tâm Thẩm Vấn, chúng tôi bắt tay vào công việc ngay.

Khó khăn đầu tiên là chúng tôi chưa biết tên này tên thật là gì, chức vụ gì trong tổ chức nào của Việt cộng, mà chỉ biết hắn tên Văn theo như Trần Văn Hùng khai báo. Tạm thời cứ gọi hắn là Văn cho đến khi tìm ra “tên cúng cơm” của hắn thì khi đó mới có thể tính sổ với hắn mới được.

Trương Công Ân bắt đầu thẩm vấn tên Văn. Tôi thẩm vấn hai người đàn bà kia mục đích là để tìm tông tích lý lịch của tên Văn.

Gần ba mươi phút sau tôi buớc sang phòng kế bên, nơi Ân đang thẩm vấn tên Văn. Bây giờ thì dưới ánh đèn sáng trong phòng thẩm vấn tôi nhìn rõ mặt tên này. Đúng, như tôi đã trình bày ở phần trên y khoảng trên 45 tuổi, khuôn mặt ốm, xanh xao, môi tím ngắt.

Tôi nói với Ân gọi Thẩm sát viên Hồ Lang, Trung Tâm Trưởng Trung tâm Thẩm vấn vào thay anh, tôi cần bàn với anh chút việc.

Hai chúng tôi sang phòng trống kế bên, tôi nói ngay:

- Thằng này thuộc loại cán bộ cao cấp bởi lẽ vũ khí của nó vừa là AK-47 báng xếp, ngoài ra còn có súng lục K-54. Hai người đàn bà kia khai hắn tên là Hồ Tỵ, hồ sơ trận liệt Việt Cộng Quận Hương Thủy đâu, lấy ra sưu tra xem có tên hắn không và có thì hắn giữ chức vụ gì.

- Đúng rồi, anh hay thật. Anh đợi tôi về bên Bộ chỉ Huy lấy sang.


Chỉ hơn 10 phút sau Ân trở lại, chúng tôi dò trong hồ sơ trận liệt địch thuộc quận Hương Thủy, hai chúng tôi cùng la to:

Đúng là Ôn rồi!”.

Xin độc giả hãy vui cùng với chúng tôi, bởi vì Ôn này chính là: Hồ Tỵ bí danh Sơn Lâm, Trưởng Ban An Ninh huyện Hương Thủy.

Trong suốt thời gian Mậu Thân, y là viên chức phụ tá đắc lực cho Tên Đại tá Trưởng Ty Công An Việt Cộng Thừa Thiên-Huế Nguyễn Đình Bảy tự Bảy Lanh. Hồ Tỵ bí danh Sơn Lâm đã phối hợp với đoàn Vũ Trang Thanh Niên của Nguyễn Đắc Xuân đã bắt và giết quá nhiều đồng bào vô tội tại Quận III, Quận II Thị xã Huế, và Quận Hương Thủy.

Tôi nói Ân đưa thẩm vấn viên khác vào thế Thẩm Sát Viên Hồ Lang, gọi Hồ Lang ra họp bàn cách thẩm vấn tên này.

Sau khi bàn thảo, tôi quyết định hai ưu tiên khẩn cấp:

1- Buộc y phải khai hết đường dây và cơ sở an ninh nội thành, cơ sở nội tuyến trong BCH/CSQG/Thừa Thiên-Huế, các cơ sở trong quận Hương Thủy của y.

2- Phải hỏi cho ra thật kỹ, số nạn nhân bị bắt đi trong suốt thời gian Mậu Thân thuộc 3 Quận trong Thị xã Huế đã đem đi đâu? và hiện giam giữ tại đâu.

Những vấn đề khác sẽ hỏi sau.

Phương thức thẩm vấn:

1- Dùng chiến thuật xa luân chiến, liên tục thay phiên nhau thẩm vấn, không cho y ngủ một giây phút nào cả.

2- Hắn là tên sát nhân đã giết hại quá nhiều đồng bào, vì thế nếu lễ nghĩa với y không xong, chúng ta qua giai đoạn II, tôi cho phép. Tôi chịu trách nhiệm chuyện đó.

3- Tôi, rồi anh Ân, kế đến anh Lang, và 10 nhân viên thẩm vấn thượng thặng của trung tâm luân phiên thẩm vấn y.

4- Thẩm Sát Viên Dương văn Sỏ trưởng G-2 và 10 nhân viên cộng thêm 1 trung đội CSDC tăng cường trực 100% đợi lệnh, sẵn sàng đi bắt các cơ sở nội thành mà tên này khai báo.

Như vậy tạm đủ, tôi sẽ là người đầu tiên thẩm vấn y. Vào lại phòng thẩm vấn, ngồi đối diện, tôi nhìn thẳng vào mặt y:

- Tôi đã giới thiệu tôi với anh từ hồi đêm rồi, bây giờ đến phiên anh.

- Tôi tên Văn, du kích huyện Hương Thủy, trên đường đi công tác bị sốt rét nên vào nhà đồng bào xin tá túc.

- Tôi không có thì giờ và anh cũng chẳng còn có cơ hội nữa nếu anh và tôi cứ đi loanh quanh như thế này. Thật ra trước khi đi bắt anh chúng tôi đã nắm vững lý lịch về anh, sở dĩ tôi hỏi anh là để anh tự nguyện nói ra mà thôi, vì chúng ta vẫn còn có cơ hội hợp tác với nhau, có phải không ông Hồ Tỵ Bí danh Sơn Lâm, Trưởng ban An Ninh Huyện Hương Thủy?


Tôi vừa dứt câu nói, mặt tên này vốn đã xanh xao bạc nhược bây gời lại còn xanh hơn. Hắn lạnh lùng nói với tôi:

- Đúng, tôi là Hồ Tỵ, bí danh Sơn Lâm, Trưởng Ban An Ninh Huyện Hương Thủy. Tôi đã rơi vào tay các ông rồi, tùy các ông xử trí, tôi chẳng có gì khai báo với các ông.

- Có chứ! Anh có rất nhiều chuyện phải nói với chúng tôi, nhưng trước tiên chúng tôi muốn biết chỉ hai việc thôi:


1- Cơ sở nội ngoại thành của anh.

2- Thời gian Mậu Thân vừa qua, anh là Phụ tá cho Trưỏng Ty Công An Nguyễn Đinh Bảy. Các anh đã bắt rất nhiều Dân, Quân, Cán, Chính VNCH. Các anh đã dẫn họ đi đâu? Hiện tại các anh giam giữ họ tại đâu?

Tôi mong anh suy nghĩ kỹ, đằng nào thì hợp tác làm việc với nhau vẫn thoải mái hơn, và với tư cách người có thẩm quyền ở đây, tôi hứa với anh: Anh sẽ được đối xử đàng hoàng nếu anh chịu hợp tác.
Tôi phải về lại BCH để giải quyết công việc hằng ngày, tất cả giao lại cho Đại úy Ân.

Khoảng bốn giờ chiều cùng ngày, Trương Công Ân trình tôi bản thẩm cung đầu tiên người đàn bà trẻ. Bà ta đã nhìn nhận là nữ giao liên của Hồ Tỵ, và đã khai một số cơ sở trong Quận III và Quận II Thị xã Huế.

Chúng tôi phản ứng ngay, vì trong thành phố không có gì nguy hiểm tôi giao cho Ân chỉ huy cuộc hành quân bắt giữ các cơ sở nội thành này. Tổng cộng có khoảng 12 cơ sở nội thành bị bắt giữ trong đó kể cả tên học sinh đặt chất nổ trong xe tôi.

Riêng đối với tên Trưởng Ban An Ninh Hồ Tỵ, ngoài kế hoạch xa luân chiến, với Ân, Hồ Lang, và 10 thẩm vấn viên hỏi cung hắn liên tục, có lẽ hắn đã mờ người, mệt lả, cộng vào chúng tôi dùng chiến thuật chụp hình những cơ sở của hắn đã bị chúng tôi bắt và yêu cầu hắn xác nhận danh tánh và nhiệm vụ hắn đã giao cho họ. Đây chỉ là đòn tâm lý, ngầm nói với hắn là những người này đã bị bắt và đã khai hết rồi.

Cuối cùng sau gần một ngày một đêm chống đỡ, hắn ngã gục, khai hầu hết các cơ sơ của hắn đã tổ chức trong nội thành. Nhưng điều quan trọng và vui mừng nhất là hắn khai và chỉ cho chúng tôi những địa điểm mồ chôn tập thể ở các quận ven thành phố, đặc biệt là Quận Hương Thủy, và chính hắn xác nhận:

Mấy ngàn người bị bắt đi trong thời gian Mậu Thân 1968, không một ai còn sống, tất cả đã bị giết chết hoặc dùng súng bắn, nhưng đa số là bị chôn sống”.

Được hỏi tại sao lại không bắn mà lại dã man chôn sống tù nhân như vậy?

Hồ Tỵ Trưởng ban An ninh trả lời:

- Có hai lý do:

1- Tiếng súng nổ và ánh lửa phát ra khi bắn súng dễ làm lộ vị trí của chúng tôi. Chúng tôi sợ phi pháo của các anh.

2- Tiết kiệm đạn. Đạn nào bắn cho vừa, bắn cả mấy ngàn người làm sao đủ đạn.

- Tại sao lại bắn hết, chôn hết, giết hết không chừa một ai, các anh có biết rằng, hầu như gần một trăm phần trăm những người bị các anh bắt là thường dân vô tội?


Hồ Tỵ trả lời:

- Có những lý do sau đây:

1- Trên đường rút lui còn phải tác chiến với Ngụy Quân các anh, và “Lính Thủy Đánh Bộ” của đế quốc Mỹ xâm lược thì làm gì có thì giờ lo cho tù nhân.

2- Với số lượng tù nhân đông như vậy làm sao biết được ai oan, ai không oan. Tốt hơn hết là: giết lầm còn hơn bỏ sót”.


Qua lời khai của tên Hồ Tỵ tôi làm phiếu trình Đại tá Tỉnh Trưởng, khi ấy là Đại tá Lê Văn Thân, với lời đề nghị xin Đại tá chỉ thị cho các vị Quận Trưởng liên hệ tổ chức tìm kiếm mồ chôn tập thể theo chỉ dẫn của tên Hồ Tỵ. Tôi cũng đánh điện lệnh cho các Chỉ Huy Trưởng CSQG các quận, các cuộc Cảnh Sát Xã phối hợp với chính quyền Quận, Xã, giúp đỡ tối đa cho đồng bào đi tìm kiến mồ chôn tấp thể, tìm kiếm thân nhân.

Riêng tại BCH Tỉnh, tôi thành lập tiểu ban theo dõi và thống kê nạn nhân bị chết và mất tích. Tiểu ban này đặt tại Trung Tâm Hành Quân Cảnh Lực dưới quyền BTV Trần Văn Trinh, Trung Tâm Trưởng Trung Tâm Hành Quân Cảnh Lực. Tiểu ban có nhiệm vụ thu thập tin tức, kết quả công việc tìm kiếm xác nạn nhân do các cuộc Cảnh Sát Xã, Các BCH/Cảnh Sát Quận báo cáo lên BCH Tỉnh, sau đó đúc kết báo cáo lên:

1- Đại tá Tỉnh Trưởng.
2- Giám Đốc Cảnh Sát Quốc Gia Vùng I
3- Bộ Tư Lệnh Cảnh Sát Quốc Gia tại Sài Gòn

Vì vậy con số tổng kết 5327 nạn nhân bị giết và 1200 người bị bắt đi mất tích do Bộ Chỉ Huy Cảnh Sát Quốc Gia Thừa Thiên-Huế đưa ra là con số chính xác nhất có thể chấp nhận được.

Nhân đây, tôi xin kể câu chuyện bên lề vụ tên Trưởng Ban An Ninh Hồ Tỵ này là nguyên nhân chính gây ra vụ xích mích giữa tôi và Đại tá Tỉnh Trưởng Lê Văn Thân, đến độ sau đó tôi đã gặp quá nhiều khó khăn và trở ngại với Đại tá Tỉnh Trưởng trong công việc.

Do chỉ điểm của tên Hồ Tỵ, việc tìm kiếm hầm chôn tập thể nạn nhân Mậu Thân có kết quả rất tốt đẹp. Nhiều hầm chôn tập thể đã được khám phá. Dân chúng Huế thân nhân của trên 6000 ngàn nạn nhân (chết+mất tích) đổ xô đi tìm xác thân nhân. Đại tá Tỉnh Trưởng Lê Văn Thân cho thành lập Ủy Ban Mai Táng Nạn Nhân Mậu Thân 1968, và Chủ Tịch là Nghị Viên Võ Văn Bằng (hiện định cư tại Westminter, nam California). Dân chúng Huế, thân nhân của 5327 nạn nhân bị cộng sản thảm sát không bao giờ quên ơn Đại tá Tỉnh Trưởng Lê Văn Thân và ông Nghị Viên Võ Văn Bằng.

Cũng vì việc chỉ điểm có hiệu quả tốt, vì thế mà liên tục trong vòng nhiều tuần lễ, hằng đêm khoảng sau 8 giờ tối Đại tá Tỉnh trưởng lại yêu cầu tôi đem tên Hồ Tỵ lên tư thất của ông để ông gặp.

Phòng làm việc của Đại tá Tỉnh trưởng vào ban đêm là một trailer đặt trong vườn của dinh Tỉnh trưởng. Đêm nào cũng vậy, tôi ngồi với tên Hồ Tỵ và Đại tá Thân hỏi nó rất nhiều câu hỏi hầu như đều liên quan đến kế hoạch tấn công Huế trong Mậu Thân, hướng tiến quân, đường rút lui của Cộng Quân, vân vân và vân vân... cuối cùng của buổi gặp mặt là những câu hỏi của Đại tá Thân về những hầm chôn tập thể. Ngay sáng hôm sau lại bay trực thăng cùng Đại tá để cho Hồ Tỵ chỉ vị trí các hầm chôn tập thể. Những vị trí phát hiện được tôi đánh dấu trên bản đồ và sau đó, theo lệnh Đại tá Tỉnh Trưởng, ngay trên trực thăng tôi gọi máy thông báo ngay cho các giới chức Quận/Chi Khu và BCH/CSQG Quận liên hệ để bắt đầu đào xới tìm kiếm thi thể nạn nhân.

Một số hầm chôn tập thể mà tên Hồ Tỵ đã chỉ:

- Trong vùng Lăng Xá Bàu, Lăng Xá Cồn đã tìm ra khoảng trên 400 thi thể, trong đó có thi hài của Thượng Nghị sĩ Trần Điền. Tất cả 400 thi hài này bị chết vì bị bắn vào đầu và gáy, đa số bị chôn sống nằm rải rác khắp hai vùng trên có khoảng 15 hầm chôn tập thể.

- Tại Lương Viện thuộc quận Phú Thứ, đã tìm được một mồ chôn tập thể thi hài của Linh Mục Bửu Đồng, Linh Mục Hoàng Ngọc Bang ông đã 73 tuổi, và hai sư huynh dòng tu La San là sư huynh Agribert và sư huynh Sylvestre.

- Trong vùng rộng lớn giới hạn từ Đàn Nam Giao, nhà máy nước Vạn Niên, chùa Tường Vân, chùa Từ Hiếu, đồi thông Quảng Tế, lăng Vua Tự Đức, lăng Vua Đồng Khánh, bọc về dòng tu Thiên An, Cầu Lim, có khoảng trên mười hầm chôn tập thể và số tử thi lên đến trên 1000 người.

- Các Cha người Pháp thuộc Dòng tu Thiên An như Cha: Don Romain Guillaune, cha Urbain, Cha Guy cũng đã tìm được xác trong vùng lăng Vua Đồng Khánh.

- Vùng tam giác chùa Từ Hiếu, nhà máy nước Vạn Niên, chùa Tường Vân cũng đã tìm thấy mồ chôn tập thể ba vị giáo sư Y Khoa người Đức và bà vợ.

- Vùng lăng Vua Gia Long, sau làng Đình Môn thuộc quận Nam Hòa có 4 hầm chôn tập thể, và đã tìm ra trên 100 thi hài.

- Tại Vùng khe Đá Mài thuộc Quận Nam Hòa, đã tìm được 428 sọ người và bộ xương nằm rải rác dọc khe Đá Mài. Xác nhận trong 428 bộ xương và sọ người này có 300 thanh niên Phú Cam đã bị bọn chúng bắt và sát hại. (vụ này do dân đi làm gỗ tình cờ phát hiện và báo cho lực lượng quân đội VNCH đang hành quân trong vùng đó).

 

 

Nghĩa tử nghĩa tận, tất cả các nạn nhân dù được nhận diện hay không
đều được chính phủ VNCH và chính quyền Thừa Thiên-Huế,
Ủy Ban Truy Tầm & Cải Táng Nạn Nhân lo cho mồ yên mả đẹp.

 

Ngoài ra Hồ Tỵ còn chỉ rõ vị trí khoảng gần 50 hầm bí mật chung quanh vòng đai thành phố Huế. Lực lượng CSQG chúng tôi đã khui hết số hầm bí mật trên, chỉ tìm thấy vũ khí chứ không bắt được tên nào.

Tóm lại việc làm của Đại tá Tỉnh Trưởng thật đáng kính phục, một số không nhỏ các nạn nhân được mồ yên mả đẹp, dân Huế mang ơn ông, nhưng chỉ có một điểm tôi và ông không đồng tình với nhau để đi đến xích mích trầm trọng đó là:

- Trung úy Thành, chú làm thủ tục cho anh ta (Hồ Tỵ), biến cải từ tù nhân qua quy chế chiêu hồi.

Tôi trả lời rất kỷ luật với Đại tá Tỉnh Trưởng: -Trình Đại tá, không thể được, bởi lẽ hắn là tay sát nhân man rợ. Gần 400 Dân, Quân, Cán, Chính, trong đó có Thượng nghị sĩ Trần Điền bị hắn và đám công an của Nguyễn Đình Bảy bắt tại Dòng Chúa Cứu Thế dẫn đi chắc chắn là đã đã chết. Tổng số nạn nhân bị bọn chúng bắt trong hai Quận II và III, thống kê đã lên đến mấy ngàn, chắc chắn cũng đã chết rồi.

Tội hắn như vậy, sau khi công việc hoàn tất, tôi sẽ lập thủ tục đưa hắn ra tòa với đề nghị bản án tử hình. Thằng này không thể tha được Đại tá!

Nghe tôi nói như vậy, Đại tá cau mặt có vẻ không vui nhưng chẳng nói gì thêm. Những ngày kế tiếp Đại tá Tỉnh trưởng lại tiếp tục đề cập đến chuyện cho tên này chiêu hồi. Tôi vẫn lễ độ Đại tá Tỉnh Trưởng:

- Trình Đại tá không thể được!

- Trung úy Trưởng Ty, nếu đây là lệnh của Đại tá Tỉnh trưởng chú có thi hành không?

- Thưa Đại tá, tôi thi hành, nhưng bằng bút lệnh, chứ không bằng khẩu lệnh, vì tôi còn có trách nhiệm với ngành dọc của tôi là Bộ Chỉ Huy CSQG Vùng I, và Bộ Tư Lệnh CSQG tại Sài Gòn.

- Được rồi, tôi sẽ lệnh cho chú bằng bút lệnh.


Tôi đem chuyện này bàn với ban tham mưu của tôi. Trương Công Ân hơi có vẻ lo lắng:

- Nếu ông ta ra lệnh bằng bút lệnh thì sao? Mình phải thi hành? Cho thằng sát nhân đó hưởng quy chế chiêu hồi?

Tôi trả lời Ân và anh em trong ban tham mưu của tôi:

- Theo tôi, có hai cách giải quyết:

1- Trước khi nhận được văn thư bút lệnh của Đại tá Tỉnh Trưởng, càng nhanh càng tốt, kết thúc hồ sơ nội vụ tội phạm của đương sự chuyển toàn bộ sang tòa án ngay. Chúng ta để tòa án và Đại tá Tỉnh Trưởng nói chuyện với nhau, chúng ta vô can.

2- Nếu bút lệnh của Đại tá Tỉnh Trưởng đến trước khi chúng ta kết thúc hồ sơ tội phạm của đương sự thì... chúng ta làm phiếu trình gởi ông Biện Lý, và Đại tá Tỉnh Trưởng với nội dung như sau:

Trân trọng kính trình Ông Biện Lý,
Trân trọng kính trình Đại tá Tỉnh Trưởng.

Thưa nhị vị,

“Vì nhân viên an ninh của Ty tôi hồi đêm nhậu say bí tỉ, bất cẩn, không khóa cửa phòng giam của tên Hồ Tỵ bí danh Sơn Lâm, Trưởng Ban An Ninh huyện Hương Thủy nên đêm khuya thanh vắng hắn vượt ngục định trốn về lại với Bác và Đảng nên bị lính canh của Ty tôi bắn chết, hiện hắn đang nằm vắt trên bờ rào
...”

Xin nhị vị ban chỉ thị cho Ty tôi thi hành. Chấm và hết!

Có lẽ cả ông Biện lý và Đại tá tỉnh trưởng sẽ ban khẩu lệnh: Đem chôn.”

Ban tham mưu của tôi rất đồng ý với phiếu trình này. Nhưng rồi những tuần lễ kế tiếp tôi không còn nghe Đại tá Tỉnh Trưởng nhắc đến chuyện cho tên Hồ Tỵ chiêu hồi nữa.

Chúng tôi đã vắt chanh đến tận cùng, không còn một giọt nào nữa, chúng tôi đã có được những tin tức cần thiết. Tôi lệnh cho Trung Tâm Thẩm Vấn đúc kết hồ sơ Tên Hồ Tỵ bí danh Sơn Lâm, chuyển hồ sơ nội vụ sang Tòa, với đề nghị bản án trừng phạt tối đa cho Hồ Tỵ là: Tử Hình.

 

***

 

 

 

 

 

 

Khối Kỹ Thuật UBTTTAĐCSVN
P.O.BOX 6157. Fullerton, CA.92834
Phone: 626-257-1057. Email: ubtttadcsvn.vg@gmail.com
Web: http://ubtttadcsvn.blogspot.com

Lịch sử
KẺ PHẢN BỘI: ĐOÀN CÔNG LẬP
TRƯỞNG TY CẢNH SÁT QUÔC GIA VNCH
TỈNH THỪA THIÊN VÀ THỊ XÃ HUẾ

LIÊN THÀNH
Orange county, CALI, USA. Ngày 29/12/2015
(Trích Huế Thảm Sát Mậu Thân 1968.Trang 541-574)

 

      

     

      

Có thể nói rằng nếu không có Đoàn Công Lập thì cuộc thảm sát Mậu Thân, không đến nỗi quá nặng nề như vậy. Tại sao? Có hai lý do:

Cộng quân sẽ tấn công Huế, cơ quan tình báo VNCH và các cơ quan tình báo đồng minh có đầy đủ trước Tết Mậu Thân, nhưng đã bị trưởng ty CSQG Đoàn Công Lập ém nhẹm cũng như tìm mọi cách thuyết phục chính quyền cấp cao Huế rằng những tin đó chưa chắc đã chính xác vả lại nếu nói ra sẽ gây hoang mang xáo trộn cho dân tình trong 3 ngày tết, đợi qua tết rồi tính, điều này đã dẫn đến sự chểnh mảng của chính quyền trong công tác phòng thủ.

Thứ hai, do sự bao che của Đoàn Công Lập, mạng lưới nằm vùng và toàn bộ cơ sở hạ tầng chỉ huy bởi Hoàng Kim Loan chẳng hạn như Nguyễn Thị Đoan Trinh, Nguyễn Đắc Xuân, Hoàng Phủ Ngọc Phan, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Lê Văn Hảo, Thích Thiện Siêu, Thích Đôn Hậu đã phát triển mạnh, tạo nên lực lượng chủ chốt giết hại tàn bạo dân chúng Huế.

Có lẽ không nơi nào trên lãnh thổ Miền Nam mà Việt Cộng lại làm trưởng ty Cảnh Sát Quốc Gia, đứng đầu ngành tình báo, trừ Huế. Điều đó có nghĩa là Huế đã bị nội tuyến trầm trọng, ngành tình báo hoàn toàn đặt dưới sự kiểm soát của cộng sản, một trong những nguyên nhân tại sao Huế bị thảm sát kinh hoàng đến như vậy.

Trong cuốn Biến Động Miền Trung tôi đã có đề cập sơ đến trường hợp nội tuyến của ông trưởng ty Cảnh Sát Quốc Gia Thừa Thiên-Huế, ông Đoàn Công Lập, người đảm nhiệm chức vụ trưởng ty Cảnh Sát Quốc Gia tỉnh Thừa Thiên và Thị xã Huế từ tháng 7/1966 đến cuối tháng 2/1968. Vì chỉ đề cập một cách rất vắn tắt không đầy đủ chi tiết cho nên đã tạo ra một vài thắc mắc từ những người đã từng quen biết với Đoàn Công Lập không tin rằng ông ta là cộng sản, trong đó có bạn tôi và vài đồng chí của ông Lập trong Đảng Đại Việt Cách Mạng tại Thừa Thiên-Huế. Họ đã gọi hỏi tôi rằng tôi có lầm người hay không, thưa hoàn toàn không.

1- Thắc mắc của một người bạn gốc Huế tại Úc Châu.

Trong thời gian Ông Đoàn Cộng Lập làm trưởng ty CSQG/Thừa Thiên-Huế (7/1966-2/1968) bạn của tôi khi ấy là sinh viên Đại Học Sư Phạm (4 năm) về Anh Văn. Thời gian này anh là thầy dạy kèm cho con trai đầu của ông Đoàn Công Lập tên là Đoàn Công Việt. Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, bạn tôi được ông Lập và Đoàn Công Việt giúp đỡ trốn tránh những cuộc bố ráp của công an nội thành Sài Gòn. Thắc mắc mà người bạn tôi nêu ra là, trong thời gian đó ông Lập cũng đang trong tình trạng trốn tránh và thái độ rất sợ sệt, như vậy không thể ông Lập là nội tuyến hoạt động cho cộng sản được.

Tôi có trả lời với người bạn rằng:

1- Anh là một nhà giáo, bản chất của một người đạo đức thật thà, ông Lập là một người làm tình báo, ông đóng kịch để qua mặt anh thì chẳng có gì khó khăn. Sau ngày 30 tháng 4, 1975, ông Lập và gia đình của ông ta có mặt tại Sài Gòn không phải để trốn tránh cộng sản mà chỉ để chờ đợi liên lạc với cơ quan tình báo trực tiếp điều khiển ông ta để được phân loại và xác minh là điệp viên hoạt động nằm vùng bí mật cho cộng sản. Bởi vì theo kinh nghiệm Mậu Thân ở Huế cho thấy rằng trong giai đoạn tranh tối tranh sáng dễ dàng bị bắt lầm hoặc bắn lầm người của mình. Có nhiều trường hợp dẫn chứng đã xảy ra trong Mậu Thân 1968 tại Huế:

- Khi cộng quân tràn vào lao Thừa Phủ giải thoát khoảng 1500 tù nhân của bọn chúng, bọn chúng đã lôi ra bắn một số tù nhân là những viên chức của Đệ I Cộng Hòa sau đảo chánh 1963 bị giam chung tại đó. Một trong những người bị bọn chúng đem ra bắn là Ông Hoàng Trọng Bá. Ông Hoàng Trọng Bá là một người có tiếng tăm tại Huế, một người rất chống cộng. Nhưng gần đây gia đình của ông Hoàng Trọng Bá nghe đâu lại nhận được giấy của chính phủ cộng sản tuyên dương ông ta là liệt sĩ! Điều đó có nghĩa là ông Hoàng Trọng Bá là điệp viên bí mật, hoạt động theo nguyên tắc cách ly của ngành tình báo của cộng sản, và cộng sản đã bắn lầm người của chính mình.

- Cũng có một nhân vật rất có công với cuộc đảo chánh 1963, và là tay mặt tay trái của ông Trí Quang và Đôn Hậu, và đã lập công lớn đối với hai người này cũng như đám tình báo Việt Cộng trong vụ xử tử hình ông Phan Quang Đông, thế nhưng Mậu Thân, đoàn Vũ Trang Thanh Niên Của Nguyễn Đắc Xuân chẳng biết mô tê gì cả, chúng đến tận nhà của ông ta tại Gia Hội bắt ông ta xử bắn ngay trước mặt nhà vì ông ta là cảnh sát, nhưng sau đó bọn chúng đã phát giác là bắn lầm, Việt Cộng nằm vùng bắn Việt Cộng nội tuyến là vậy!

Trường hợp ông Lập núp lén cũng chỉ là để tránh tai nạn đáng tiếc bắt lầm giết lầm xảy ra mà thôi, khi ông ta chưa liên lạc được với cơ quan tình báo trực tiếp chỉ huy ông ta. Rồi chỉ một thời gian ngắn sau đó, Đoàn Công Lập đã được nhận diện và phân loại, lại nhận tiếp nhiệm vụ mới, trở thành một trong những kẻ chỉ huy những chiến dịch kháng chiến cò mồi do trùm công an Mai Chí Thọ tổ chức.

Với quá khứ là Trưởng Ty Cảnh Sát nay đứng ra tổ chức kháng chiến thì còn ai nghi ngờ gì nữa! Vì vậy đã có không biết bao nhiêu anh em quân, cán, chính, VNCH và CSQG vào tù vì theo kháng chiến giả của Đoàn Công Lập tại Sài Gòn. Tôi sẽ trình bày rõ và đưa ra nhân chứng là nạn nhân của ông ta ở phần sau.

2- Thắc mắc của một vài người là đảng viên Đại Việt Cách Mạng Đảng.

Những người này nói rằng: “Liên Thành to gan! giám vu khống hàng ngũ cao cấp của Đại Việt là cộng sản

Tôi có trả lời rằng:

Thời Đệ II Cộng Hòa, ngay tại Phủ Tổng Thống mà còn bị cộng sản gài người, đó là trường hợp Cụm Tình Báo A-22 đã bị Khối CSĐB/BTL/CSQG phá vỡ. Và còn biết bao các cơ quan chính quyền khác bị cài người, các cơ quan tình báo an ninh của chính phủ VNCH là một trong những mục tiêu hấp dẫn nhất của cộng sản và chúng đã thành công trong một vài trường hợp. Trường hợp Đại Việt Cách Mạng chỉ là một đảng chính trị, không phải là một cơ quan công quyền mang tầm mức quốc gia để có thể có thể có những biện pháp, phương tiện, cũng như tài chánh để ngăn chận gián điệp, thì chuyện có bị gài điệp viên cộng sản vào hàng ngũ của mình cũng là chuyện quá bình thường. Đảng chính trị nào càng có thế lực thì càng là mục tiêu màu mỡ để cộng sản nỗ lực gài điệp viên hơn các đảng phái khác.

Trở lại câu nói “Liên Thành to gan! Dám vu khống hàng ngũ cao cấp của Đại Việt là cộng sản”. Tôi chỉ xin phép trả lời đến những ai có tư tưởng rằng đã là đảng viên cao cấp của các đảng phái chống cộng thì không thể là cộng sản rằng: họ không có kiến thức gì về tình báo cũng như không biết về các chiến lược, chiến thuật, mục tiêu và đối tượng cần thâm nhập trong ngành tình báo, và cuối cùng khả năng suy luận tổng quát của họ cũng rất kém, rất ngây thơ.

Và bây giờ tôi xin đi vào chi tiết vụ ông Đoàn Công Lập làm nội tuyến cho cộng sản.

Tiểu sử Đoàn Công Lập:

Đoàn Công Lập tham gia Việt Minh từ năm 1946, nguyên là cán binh của trung đoàn 95 chính quy Việt Cộng, phục vụ trong đơn vị quân báo. Vào 1953 trong cuộc hành quân mang tên Camargue Operation của quân đội Pháp khai diễn từ vùng Vân Trình đến An Hội, từ sông Mỹ Chánh ra đến biển, vùng mà lính Pháp đã đặt tên là “dãy phố buồn hiu”, từ đó kéo dài đến Trung Lương, Đồng Xuyên, Mỹ Xá thưộc hai quận Phong Điền và Quảng Điền nằm về phía Bắc tỉnh Thừa Thiên, trung đoàn 95 và trung đoàn 101 chính quy Bắc Việt bị thảm bại nặng nề, Đoàn Công Lập ra đầu thú với quân đội Pháp tại vùng Thanh Hương.

Sau đó Đoàn Công Lập gia nhập Việt Binh Đoàn, phục vụ đơn vị Quân Báo thuộc Đệ II Quân Khu đóng tại Huế. Đoàn Công Lập gia nhập đảng Đại Việt Cách Mạng của Ông Hà Thúc Ký vào khoảng thời gian 1954. Năm 1955 xảy ra vụ Ba Lòng (Đại Việt của Ông Hà Thúc Ký lập chiến khu Ba Lòng chống lại chính phủ trung ương), Đoàn Công Lập bị bắt buộc giải ngũ, trở về sinh sống bằng nghề phóng viên thể thao tường thuật các cuộc tranh tài thể thao, hoặc tường trình các cuộc đá banh tại Huế.

Sau này do sắp xếp và vận động của ông Thượng nghị sĩ Hoàng Xuân Tửu, đảng viên cao cấp của Đại Việt Cách Mạng Đảng, anh chú bác của Tướng Hoàng Xuân Lãm, Đoàn Công Lập một phát thay thế Thiếu tá Phạm Khắc Đạt mới về làm trưởng ty CSQG Thừa Thiên-Huế chỉ mới được hơn một tháng!

Do đó việc Đoàn Công Lập vào làm trưởng ty CSQG Thừa Thiên-Huế chịu trách nhiệm là do chính ông Hoàng Xuân Tửu cũng như Tướng Hoàng Xuân Lãm.

Câu chuyện được Thiếu tá Phạm Khắc Đạt nói lại như sau:

Một ngày, ông Thượng nghị sĩ Hoàng Xuân Tửu đến gặp Thiếu tá Phạm Khắc Đạt, trên tay có cầm môt mảnh giấy nhỏ, ông Tửu nói rằng “Ông Đạt, ông hãy nhường chỗ này cho Đại Việt, và đổi lại ông có thể giữ chức Quận Trưởng ở bất cứ nơi nào thuộc vùng I. Đây là giấy viết tay của Thiếu tướng”.

Sau đó Thiếu tá Phạm Khắc Đạt nhận chức Tỉnh Đoàn Trưởng Xây Dựng Nông Thôn tại Thừa Thiên. Một thời gian không lâu, Thiếu tá Đạt cũng phải giao chức này lại cho bên Đại Việt một lần nữa và ông về Sài Gòn làm cho Bộ Xây Dựng Nông Thôn.

Theo Điệp viên Hoàng Kim Loan khai:

- Trước 1963 theo chỉ thị của cơ quan, tôi tiếp xúc và móc nối Đoàn Công Lập hoạt động trở lại. Tôi là cán bộ chỉ đạo của Đoàn Công Lập. Do sự vận động của Đảng Đại Việt cũng như sự hỗ trợ ngầm của các cơ sở, tháng 7/1966 Đoàn Công Lập được nhận chức Trưởng Ty Cảnh Sát tỉnh Thừa Thiên và Thị xã Huế, tôi bèn thiết lập hai trạm giao liên giữa tôi và Đoàn Công Lập. Một trạm tại nội thành và một trạm ở ngoại thành.

Trạm liên lạc nội thành là nhà cũng là phòng mạch Bác sĩ Hoàng Bá ngay đầu cầu Nam Giao trên đường Phan Chu Trinh thuộc Quận III Thị xã Huế. Bác sĩ Hoàng Bá là cơ sở nội thành của chúng tôi. Trạm liên lạc ngoại thành là chùa Trúc Lâm. Ngôi chùa này nằm quá Đàn Nam Giao, trên đường đi lên quận Nam Hòa vừa qua khỏi Cầu Lim ngay phía bên trái là con đường nhỏ, cuối con đường này là chùa Trúc Lâm, mặt tiền của ngôi chùa là lăng của Cụ Hồ Đắc Trung. Đây là một khu rất tĩnh mịch xóm nhà thưa thớt”.

Được hỏi thời biểu tiếp xúc và cách thức tiếp xúc thế nào giữa y và Đoàn Công Lập, Hoàng Kim Loan khai như sau:

- “Hai trường hợp: khẩn cấp và bình thường.

Khẩn cấp thì Đoàn Công Lập ngụy thức bằng cách đến phòng mạch Bác sĩ Hoàng Bá để khám bệnh, và qua trung gian Bác sĩ Hoàng Bá chuyển lại tin tức tài liệu quan trọng cho tôi. Trường hợp không khẩn cấp, hai tháng một lần vào đúng ngày rằm, Đoàn Công Lập ngụy thức bằng cách chở vợ con đi lễ chùa, chúng tôi gặp nhau tại Chùa Trúc Lâm.

Trong suốt thời gian Đoàn Công Lập làm trưởng ty, chúng tôi hầu như làm chủ Ty Cảnh Sát Thừa Thiên-Huế. Mọi hoạt động chìm nổi của Cảnh sát chúng tôi đều biết trước, nắm rõ tường tận.

Cơ quan chúng tôi cũng đã có kế hoặch đẩy Đoàn Công Lập xâm nhập vào cơ quan tình báo CIA, qua cửa khẩu tại Huế, tức là qua các toán tình báo CIA cố vấn cho Phòng Cảnh Sát Đặc Biệt của Ty Cảnh Sát Quốc Gia Thừa Thiên, qua ngõ Tòa Tổng Lãnh Sự Hoa Kỳ tại Huế tức ông X... (Đệ nhị tham vụ Tòa tổng Lãnh sự tai Huế).

Chúng tôi thường cung cấp cho Đoàn Công Lập loại tin tức có giá trị cao hầu tạo niềm tin của CIA đối với Đoàn Công Lập, những tin tức chúng tôi cung cấp gồm có:

1- Tôn Giáo:

Những tin tức quan trong của Phật giáo Ấn Quang Miền Vạn Hạnh. Từ hiện tình nội bộ của Phật giáo Ấn Quang tại Huế đến chủ trương, đường lối, những kế hoạch hoạt động trong tương lai. Nhũng tin tức này có giá trị A.

2- Chính trị:

Hoạt động của các đảng phái chính trị tại Huế như:

- Đại Việt Cách Mạng Đảng của Hà Thùc Ký
- Việt Nam Quốc Dân Đảng Hệ Phái Vũ Hồng Khanh
- Nhân Xã Đảng
- Nhóm Thiên Chúa Giáo liên quan đến nhà Ngô
- Nhóm đối lập với chính phủ VNCH của Trần Văn Đôn
- v.v.

Những loại tin tức này thường có giá trị A.

3- Tin tức quân sự:

Liên quan đến các hoạt động của quân Khu Trị Thiên và Tỉnh Thị ủy Huế.

Những tin tức này có giá trị cao, nhưng chúng tôi chỉ cho những tin tức mất thời gian tính, rồi chúng tôi trộn vào với một số tin tức giả tạo để đánh lừa địch.

Ngoài ra chúng tôi cũng cung cấp cho Đoàn Công Lập một số báo chí mới nhất của cơ quan tỉnh thị ủy Huế.

Cuối cùng, theo Đoàn Công Lập cho biết, tài liệu làm cho toán cố vấn Tình Báo Hoa Kỳ thích thú là những Nghị Quyết mới nhất của Bộ chính trị trung ương đảng.

Trong Tết Mậu Thân 1968 Đoàn Công Lập có nhiệm vụ chiếm giữ Đài Phát Thanh Huế một cách hợp pháp, chờ đợi Lực Lượng Giải Phóng kiểm soát toàn bộ thành phố thì y có nhiệm vụ phát thanh cuốn băng đã thâu trước “Lời kêu gọi của Lực Lượng Giải Phóng thành phố Huế
”.

Trên đây là tin tức và những hoạt động của Đoàn Công Lập cho cộng sản Bắc Việt dưới chỉ thị của Hoàng Kim Loan.

Còn phía Quốc Gia chúng ta thì sao? Chúng ta biết gì về Đoàn Công Lập? Văn phòng Cố Vấn Tình Báo Hoa Kỳ của ngành Cảnh Sát Đặc Biệt thuộc Bộ Chỉ Huy Cảnh Sát Thừa Thiên-Huế và phòng Cảnh Sát Đặc Biệt chúng tôi biết gì về những hoạt động nội tuyến của Đoàn Cộng Lập?

Phải thành thật mà nói rằng thời gian đầu cả hai cơ quan tình báo Việt, Mỹ chúng tôi chẳng biết ất giáp gì cả! Nhưng dần dần những tin tức gây thắc mắc cho toán Tình Báo Cố Vấn bắt đầu có câu trả lời. Đầu tiên viên Cố Vấn Trưởng tình báo của tôi hỏi tôi về xuất xứ của những bản tin ông Đoàn Công Lập cung cấp riêng cho họ, mỗi lần như vậy tôi đành lắc đầu trả lời:

- Chúng tôi không có những tin tức này, có lẽ đây là những nguồn tin riêng của ông ta.

Sau này cá nhân tôi nhiều khi cũng điên đầu về ông ta, bởi lẽ lâu lâu chính đích thân ông ký và gởi một bản tin quan trọng hoặc về chính trị, hoặc về quân sự cho Bộ Chỉ Huy Cảnh Sát Quốc Gia Vùng I và bộ Tư Lệnh Cảnh Sát Quốc Gia Tại Sài Gòn, nêu giá trị A mà không rõ xuất xứ!

Tôi còn nhớ thời gian đó phụ tá ngành Cảnh Sát Đặc biệt Vùng I danh xưng là Chủ Sự Cảnh Sát Đặc Biệt Khu I, Chủ Sự là anh Lê Đình Khôi. Anh Khôi Đã nhiều lần gọi tôi:

- Liên Thành ơi! Bản tin từ văn phòng ông Lập gởi cho Khu và Bộ Tư Lệnh đánh giá trị A mà không có xuất xứ, không nằm trong các chiến dịch hoặc nguồn tin của phòng cảnh sát Đặc Biệt Thừa Thiên, Khối Đặc Biệt hỏi thì làm sao đây?

Câu trả lời của tôi với anh Lê Đình Khôi cũng giống như câu trả lời của tôi với viên cố vấn Hoa Kỳ: Chúng tôi không có tin tức này, có lẽ đây là những nguồn tin riêng của ông ta.

Một thời gian sau đó không lâu, bên Cố Vấn Hoa Kỳ báo động cho tôi biết bộ phận phân tích tin tức của họ ở Sài Gòn thông báo cho họ biết một số lớn tin tức về quân sự mà Đoàn Công Lập cung cấp cho họ là loại tin tức giả được sắp đặt bởi một nhóm chuyên viên có trình độ cao. Họ nghi Đoàn Công Lập đang làm việc với cộng sản.

Họ yêu cầu tôi xem lại một số chiến dịch xâm nhập, chiến dịch nào ông Lập đã biết, chiến dịch nào ông ta chưa biết, phải có biện pháp ngăn cách ngay, trong khi chờ đợi họ bắt tay tìm hiểu nội vụ.

Tôi thật tình lo âu vì nếu một số chiến dịch xâm nhập bị lộ, sinh mạng của các tình báo viên rất nguy hiểm. Đương nhiên tôi không cho anh em cán bộ điều khiển biết chuyện ông Đoàn Công Lập ngay, nhưng tôi yêu cầu anh em trình bày thật cặn kẽ lại các chiến dịch đó mục đích là để ngầm xem và lượng giá ông trưởng ty Đoàn Công Lập đã biết đến đâu.

Tôi và phái bộ cố vấn tình báo Hoa Kỳ đang phối hợp điều tra, thì bất ngờ có chuyện quan trọng xảy ra. Tôi nhớ rõ đó là vào khoảng tháng 9/1967, vào một buổi chiều, viên cố vấn trưởng tình báo Hoa Kỳ muốn gặp tôi tại văn phòng ông ta có việc khẩn cấp. Tại đây, ngoài ông ta, tôi được giới thiệu với một Đại tá Hoa Kỳ, ông Đại tá này là trưởng phòng 2 của Sư Đoàn Thủy Quân Lục Chiến Mỹ đóng tại Phú Bài.

Ông Đại tá này cho biết, hai đêm trước, một đơn vị trinh sát thuộc sư đoàn của ông đã chạm địch ở một vùng tại quận Nam Hòa, bắn hạ 3 Việt Cộng và tịch thu một số tài liệu trên một tử thi Việt Cộng. Ông nói:

-Số tài liệu này tôi đã chuyển cho văn phòng Cố Vấn của ông, chúng tôi mong ông giúp thêm ý kiến về số tài liệu này.

-Vâng, Đại tá, tôi sẽ phối hợp chặt chẽ với bạn của tôi.


Ông Đại tá và viên cố vấn cùng đẩy sang trước mặt tôi một số tài liệu. Tôi chưa đọc kỹ mới chỉ lướt sơ qua một số tài liệu không quá 10 phút mà tôi đã lạnh run.... Máy lạnh trong phòng của viên cố vấn đã làm tôi lạnh rồi run, hay chính những tài liệu này làm cho tôi có cảm giác run và lạnh?

Tôi ngẩng mặt nhìn viên cố vấn trưởng, tôi nghẹn lời:

-Chúng... tôi... bị... nội... tuyến... quá... nặng!

Tất cả những tài liệu này là tài liệu “Tối Mật” của BCH/CSQG Thừa Thiên-Huế, một số lớn là của phòng Cảnh Sát Đặc Biệt. Tất cả là bản chánh đánh máy, và những bản này là bản của văn phòng ông Trưởng Ty!

Ngoài ra còn có một xấp tài liệu rất dày viết tay, nhìn kỹ lại tôi chết cứng người, đó là tài liệu chép tay đặc lệnh truyền tin, hồ sơ mật mã dùng để mã hóa, và giải mã các công điện từ BCH tỉnh gởi đi Khu tại Đà Nẵng và Bộ Tư Lệnh tại Sài Gòn. Nói tóm lại mật mã này dùng chung cho tất cả lực lượng Cảnh Sát Quốc Gia từ Tỉnh lên đến Bộ Tư Lệnh. Mật mã này đã lọt vào tay địch! An ninh cả toàn quốc đang bị đe dọa!

Thử hỏi trường hợp này nếu quý vị độc giả là tôi, quý vị sẽ ra sao? Tôi nghĩ chúng ta đều run lập cập như nhau. Mà quả vậy, khi tôi nói rõ cho viên cố vấn của tôi và vị Đại tá trưởng phòng 2 của Sư Đoàn Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ, thì họ còn run hơn tôi, lắp bắp:

- Bây giờ phải làm sao?

Tôi suy nghĩ và nói ngay:

- “Loại mã hóa và giải mã này cứ ba tháng một, chúng tôi nhận được mật mã mới, và thay đổi. Tôi phải xem lại cái này còn hiệu lực hay là đã cũ rồi. Nếu là cũ thì chúng tôi chưa vội trình thượng cấp vì sẽ bị lộ, kẻ nội tuyến sẽ biết, nếu mật mã còn hiệu lực và đang được sử dụng tôi nghĩ không thể trình theo thể thức công văn giấy tờ thông thường mà phải nhờ bên văn phòng Cố Vấn Đặc Biệt qua hệ thống cao hơn tại Sài Gòn báo cho Bộ Tư Lệnh của chúng tôi tại Sài Gòn biết là mật mã đã bị lộ xin đừng nói từ đâu, ngoài này chúng tôi kín đáo điều tra”.

Viên cố vấn trưởng và ông Đại tá trưởng phòng 2 Sư đoàn TQLC Hoa Kỳ đồng ý với đề nghị của tôi.

Tôi hỏi ông Đại tá:

- Đại tá có thể cho tôi biết vị trí bắn hạ 3 tên Việt Cộng thuộc vùng nào trên Quận Nam Hòa không?

Trên tấm bản đồ quân sự tỷ lệ 1/100000 treo tên tường trong phòng viên cố vấn của tôi, ông Đại tá chỉ vùng phục kích bắn hạ 3 tên đó chính là đồi chè thuộc thôn Kim Ngọc gần lăng Vua Gia Long. Sau này đọc kỹ hồ sơ, sưu tầm thêm tin tức, chúng tôi biết rõ danh tánh của tên Việt Cộng này, nay thời gian quá lâu tôi không còn nhớ nổi tên, nhưng nhớ rõ hắn ta là trung đội trưởng đường dây của cơ quan Thành ủy Huế (giao liên, chuyển thư từ).

Những ngày kế tiếp, viên cố vấn giúp tôi ý kiến phải điều tra cái gì trước và xuất phát từ đâu.

Đầu tiên tôi bắt đầu điều tra tài liệu mật mã:

Theo nguyên tắc bảo mật, tài liệu mật mã trong một Bộ Chỉ Huy CSQG Tỉnh chỉ có 2 giới chức được giữ và dùng đến, đó là vị Chỉ Huy Trưởng, và người kế tiếp là ông trưởng ban truyền tin của Bộ Chỉ Huy Tỉnh. Thế nhưng thường thì Chỉ Huy Trưởng giao cho ông trưởng ban truyền tin cất giữ. Cá nhân tôi, khi làm chỉ huy trưởng tôi giao cho anh trưởng ban truyền tin là anh Nguyễn Văn Thân cất giữ. Và cứ mỗi ba tháng một lần, BCH Tỉnh nhận mật mã mới từ Bộ Tư Lệnh gởi ra, trưởng ban truyền tin phải lập biên bản thiêu hủy bản cũ, biên bản này cả hai trưởng ban truyền tin và chỉ huy trưởng cùng ký vào.

Tôi xin nhắc lại ở phần trên, bản mã hóa và giải mã được dùng cho tất cả các bộ chỉ huy tỉnh trên toàn quốc để chuyển các công điện khẩn cấp “Tối Mật”, “Mật”, v.v... về Bộ Chỉ Huy Cảnh Sát Khu, và Bộ Tư Lệnh. Đây là một loại mật mã rất khó, địch có thể nắm được toàn bản điện văn mà không tài nào mở được.

Tôi còn nhớ rõ và xin đưa một ví dụ để độc giả thấy rõ hơn:

Ví dụ bạch văn: Chữ NGÀY
Tôi mã hóa chữ Ngày:
Chữ N: AEL
Chữ G: STU
Chữ A: RGC
Chữ Y: BOH

Tóm lại, chữ NGÀY khi được mã hóa là:

NGÀY = AELSTURGCBOH

Hiệu thính viên khi chuyển một bức điện được mã hóa theo kiểu tín hiệu morse hoặc thông thường họ chuyển bằng cách đọc một nhóm 3 chữ:

AEL: Anh dũng, E dè, Lê Lai.
STU: Sơn tây, Tư tưởng, Ủng hộ.
RGC: Rạch Giá, Gay go, Cải cách
BOH: Bắc bình, Oanh liệt, Hồng hà

Hiệu thính viên nhận điện sẽ ghi lại: Anh dũng, E dè, Lê Lai/Sơn tây, Tư tưởng, Ủng hộ/Rạch giá, gay go, Cải cách/ Bắc bình, Oanh liệt, Hồng hà.

Họ dùng bản giải mã sẽ dịch ra chữ: Ngày

Tôi hy vọng lối giải thích hơi vụng về của tôi về cách thức mã hóa và giải mã, một phần nào để quý độc giả có thể hiểu rõ thêm tầm mức quan trọng của loại mật mã này, một khi mà địch nắm được thì tầm mức nguy hại về an ninh của ngành tình báo CSQG VNCH thật quá khủng khiếp.

Tôi bắt tay vào việc điều tra khởi đi từ anh Nguyễn Văn Thân trưởng ban Truyền Tin của Bộ Chỉ Huy Ty. Tôi lựa một bức điện từ BCH/Khu I, văn phòng Chủ Sự CSĐB gởi cho Phòng CSĐB/BCH Thừa Thiên mấy ngày hôm trước, tôi cầm bức điện đó xuống phòng truyền tin gặp anh Thân trưởng ban, vừa gặp anh ta, tôi chìa bức điện tín ra và nói ngay:

- Anh Thân ơi! Ai giải mã bức điện này sao mù mờ quá.

- Ông Phó cho tôi xem bức điện nào, nhưng tất cả những bức điện ở độ “Mật” hoặc “Tối Mật” đều do em mã hóa hoặc giải mã không một ai làm chuyện này được
.

Tôi vừa đưa bức điện cho anh Thân vừa hỏi bâng quơ:

- Vậy bản mật mã anh có giao cho ai dịch không, thường anh giải mã đàng hoàng lắm mà.

- Dạ không ông Phó, không bao giờ, không một ai... ngoại trừ lâu lâu ông Trưởng Ty lấy cả hai bản mã hóa và giải mã lên phòng ông để ông tự làm, vì ông nói có những công điện đánh vào Bộ Tư Lệnh cần bảo mật tối đa nên ông không muốn em làm, những lúc đó em giao cho ông và sau đó ông trả lại.


Tôi cố bình tĩnh làm ra vẻ chẳng có quan tâm gì chuyện đó, và sau đó rời khỏi trung tâm truyền tin lòng hoang mang lẩm bẩm một mình: “chẳng lẽ là ông ta?”

Rời phòng truyền tin tôi lái xe thẳng lên văn phòng viên cố vấn của tôi, tôi trình bày hết mọi chuyện và nói với ông ta về suy nghĩ của tôi:

- Mr X, Tôi nghi chính là ông ta. Trước đây qua sự kiện phòng phân tích và lượng giá tin tức của ông báo cho ông biết tin ông Lập cung cấp là tin giả, nay xảy ra chuyện này ông nghĩ sao?

Cả hai cùng im lặng, bỗng ông ta cất tiếng:

- Thành, tôi có cách rồi.

- Cách gì?

- Ông có thể có mẫu tự viết tay của ông Lập không?


- Có, tôi có một số bản viết tay của ông ta tôi còn lưu ở hồ sơ.

- Vậy quá tốt, tôi cần gấp một bản. Tôi sẽ gởi bản mật mã chép tay lấy được trên tử thi tên Việt Cộng đó và mẫu tự của ông ta vào Sài Gòn, yêu cầu trong đó giảo nghiệm nét chữ có trùng hợp nhau hay không, thì có câu trả lời ngay.


Thời gian 1968-1969 chưa có máy Photo Copy cho nên tài liệu đánh cắp hoặc chụp hình, hoặc phải chép lại, hoặc lấy nguyên bản.

Trong khi chờ đợi kết quả giảo nghiệm nét chữ của Đoàn Công Lập tôi bắt tay ngay vào việc rà soát các tài liệu quan trọng của phòng CSĐB đã lọt vào tay địch.

Tôi tuần tự đọc lại và ghi chú những tài liệu mà viên cố vấn của tôi cũng như Đại tá trưởng phòng 2 Sư Đoàn Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ đã giao cho tôi. Thật là kinh hoàng! Tất cả những tài liệu đó là những tài liệu tối mật của Phòng Cảnh Sát Đặc Biệt/ban kế hoạch soạn thảo, một số ít tờ trình do tôi ký, nhưng đa số là do ông trưởng ty Đoàn Công Lập ký trình BCH/Khu I, hoặc trình Bộ Tư Lệnh. Tất cả đều mang mã số bản văn đó gởi cho văn phòng ông Trưởng Ty!

Câu hỏi được đặt ra ai là người lấy những bản chính này từ văn phòng ông Trưởng Ty gởi cho Việt cộng? chính ông Trưởng Ty hay là ai khác?

Suốt cả mấy ngày trời tôi đưa ra một số giữ kiện cùng với viên cố vấn của tôi ngồi phân tích từng sự việc một, những người thân cận, những nhân viên làm việc cạnh Đoàn Công Lập, chúng tôi vẫn chưa tìm ra một người nào đáng nghi ngờ nhất ngoài trừ Đoàn Công Lập.

Gần hai tuần lễ sau, văn phòng tại Sài Gòn của viên Cố Vấn cho biết kết quả giảo nghiệm bút tự sao chép trong tài liệu mật mã và bút tự của Đoàn Công Lập không giống nhau, như vậy kết luận đầu tiên Đoàn Công Lập không là người sao chép tài liệu này.

Trong hoạt động tình báo có nhiều trường hợp sự thành công chỉ là những may mắn tình cờ. Một nhân vật hết sức quan trọng cạnh ông Đoàn Công Lập mà tôi đã bỏ sót! Nay đang ngồi bàn việc với viên cố vấn Mỹ thì như một tình cờ chợt nhớ ra, tôi bỗng nói lớn với viên cố vấn:

- Tôi nhớ ra rồi!

- Nhớ chuyện gì?

- Còn một người rất quan trọng cạnh ông Đoàn Công Lập mà tôi bỏ sót, đó là viên chánh văn phòng của ông ta.

Viên cố vấn của tôi nói ngay:

- Anh cố gắng cho tôi mẫu tự viết tay của nó, tôi gởi vào Sài Gòn giảo nghiệm, biết đâu...

- Tôi sẽ cố gắng, chậm lắm là ngày mai giao cho ông. Bây giờ tôi phải về BCH xem lý lịch tên này và sẽ cho ông biết sau.


Tôi gọi điện thoại cho anh Lê Quý Sai phụ tá Trưởng Phòng Hành chánh của BCH, và nói riêng với anh Sai:

- Anh Sai, anh lấy cho tôi xem hồ sơ cá nhân của Chánh Văn Phòng của ông Trưởng Ty, anh kín đáo một tí nghe.

- Dạ, ông Phó.


Khoảng nửa giờ sau, anh Sai cho biết:

- Thưa ông Phó, tôi đã gặp anh Phạm Cần trưởng phòng Nhân viên, anh Phạm Cần đã tìm rất kỹ, nhưng không có hồ sơ của ông Ngữ. Anh Phạm Cần nói hình như hồ sơ này ông Trưởng Ty cất giữ.

- Sao lại kỳ vậy, hồ sơ nhân viên thì Ban Nhân Viên phải cất giữ chứ?

- Dạ, nguyên tắc là như vậy.

- Cám ơn Anh Sai, coi như tôi không hỏi hồ sơ đó nghe.

- Dạ, ông Phó.


Một người có thể giải quyết trở ngại này cho tôi là anh Phùng Tự, trưởng ban điều tra của Toán Tình Báo... nằm ngoài BCH Ty (Anh Phùng Tự hiện định cư tại Tiểu Ban Kansas, thành phố Wishita, USA).

Một tuần sau anh Phùng Tư trình tôi một bản lý lịch rất chi tiết về cá nhân ông chánh văn phòng của ông trưởng ty Đoàn Công Lập:

Là người con trai thứ 3 trong một gia đình có 4 anh em trai và một chị gái.

Hai người anh trai tập kết ra bắc từ 1954.

Người em trai út là cán bộ Quân Báo Việt Cộng hoạt động tại vùng “cửa khẩu” Tây Nguyên.

Riêng đương kim chánh văn phòng nguyên là cán binh trung đoàn 95 chính quy Việt Cộng, phục vụ cùng đơn vị Quân Báo với ông Đoàn Công Lập sau đó hồi chánh.

- 1955 tham gia Nghĩa Dũng Đoàn, một lực lượng bán quân sự của Chính phủ Đệ I Cộng Hòa, đương sự tham gia cuộc hành quân tiếp thu vùng Tuy Hòa, một vùng cộng quân chiếm đóng trước hiệp định Geveva 1954.

- Sau đó tham gia vào Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa ngành Hiến Binh trú đóng tại Huế. Khi ngành Hiến Binh giải tán, một số chuyển sang Quân Cảnh Tư Pháp, một số chuyển qua Phủ Đặc ủy Trung Ương Tình Báo, riêng đương sự chuyển sang lực lượng CSQG và phục vụ tại Bộ Chỉ Huy Thừa Thiên-Huế.

Thời gian ngắn sau khi Đoàn Công Lập nhận chức Trưởng Ty, đương sự được bổ nhiệm làm chánh văn phòng trưởng ty.

Tôi cho viên cố vấn của tôi xem lý lịch của ông chánh văn phòng, xem xong, viên Cố vấn nói với tôi:

- “Thành, nghề của chúng ta là đứng phía sau nhìn tới và kiểm soát kẻ địch, tệ lắm chúng ta đứng ngang hàng với kẻ địch thì việc kiểm soát cũng đã khó khăn rồi, đằng này hiện tại địch đang đứng sau lưng chúng ta để nhìn và kiểm soát chúng ta.

Có khả năng rất cao ông Chánh văn phòng và Chief Lập cùng một tổ trong lưới nội tuyến này. Trong khi chờ đợi kết quả giảo nghiệm chữ viết của tên này, tôi đề nghị anh ngăn chận mọi tin tức có liên quan đến các chiến dịch phối hợp giữa chúng tôi và phòng CSĐB của anh với ông Lập, và bố trí ngay 2 toán theo dõi ông Lập và tên chánh văn phòng của ông ta
”.

-“Đồng ý, tôi lựa người sắp xếp hai toán theo dõi, mọi chuyện xong tôi sẽ báo cho ông biết”.

Khoảng gần hai tuần sau, viên cố vấn báo cho tôi biết ông ta đã nhận được thông báo của Sài Gòn và cần gặp tôi gấp. Tôi vừa vào phòng ông ta chưa kịp ngồi, thì ông ta đã nói ngay:

- “Thành, nguy rồi, kết quả là chữ viết của viên chánh văn phòng của ông Lập. Chúng ta có thể đưa ra câu kết luận gần đúng:

Chính Chief Lập lấy bản mã hóa đó giao cho tên này sao chép lại. Thủ phạm của những tài liệu quan trọng bị mất cắp, mà toán trinh sát của sư đoàn Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ (USMC) lấy được trên tử thi Việt Cộng xuất phát từ hai người này
”.

- Tôi đồng ý với ông. Chúng ta đã nhận diện được kẻ thù. Điều quan trọng là phải bắt tay rà lại tất cả các đầu mối ngay, cái nào ông ta biết là phải khóa lại, báo cho tình báo viên tạm lánh đi một thời gian ngắn. Cho hai toán theo dõi tăng cường bám sát hai mục tiêu, nếu có bằng chứng cụ thể, chính xác, quả tang mới rờ ông ta được.

- Nếu tôi báo cáo lên thượng cấp của tôi ngay về chuyện này, phía ông có gì trở ngại không? Anh có thể nán lại cho tôi một thời gian ngắn được không? -- Viên cố vấn hỏi tôi.

- Được.


Ông ta tiếp tục hỏi tôi:

- Phần tôi, ông muốn tôi làm gì, và ông cần gì, muốn tôi giúp?

- Tôi muốn ông:


1- Đừng để cho ông Lập nghi ngờ gì cả bằng cách “tăng cuờng thêm Tình Hữu nghị Việt-Mỹ”, thân thiện với ông ta hơn.

2- Tôi cần gài máy trong phòng cả hai người.


Viên cố vấn trả lời:

- Tôi không hứa, tôi sẽ trình thượng cấp của tôi những yêu cầu của anh. Thành, tôi muốn có phó bản theo dõi.

2 người đó từ hai toán theo dõi của anh được không?

- Bắt buộc, đây là công việc chung mà, tôi có bổn phận phải báo cho ông tất cả mọi chuyện.


Để bảo mật công tác, tôi giao trọn cộng việc này cho toán tình báo I-66 đảm trách, vì toán này hoạt động nằm ngoài. Văn phòng làm việc và nơi tiếp xúc của họ là nhà an toàn kín đáo, bí mật khó bị phát hiện.

Trưởng toán I-66 là anh Nguyễn... hiện định cư tại thành phố New-York, USA.

Báo cáo theo dõi ông Đoàn Công Lập của toán I-66 được tóm tắt như sau:

Hằng ngày ngoài giờ làm việc tại bộ chỉ huy tỉnh, chiều đến ông ta thường đi đánh tenis tại câu lạc bộ thể thao ngay ở đường Lê Lợi gần bệnh viện Trung Ương Huế, sinh hoạt của ông Lập thường nhật rất bình thường không có gì đáng lưu ý.

Tuy nhiên vào ngày thứ bảy, hoặc chúa nhật ông Lập hoặc cùng với bà vợ đi khám bệnh tại văn phòng Bác sĩ Hoàng Bá, hoặc là đi lễ chùa cùng người bạn gái của ông ta là cô Lý, hai người đi lễ tại Chùa Trúc Lâm nằm trên cầu Lim gần Đàn Nam Giao, một đôi khi ghé Chùa Từ Đàm.

Theo kinh nghiệm nghề nghiệp của chúng tôi, chúng tôi nghi ngờ hai nơi: văn phòng Bác sĩ Hoàng Bá, và chùa Trúc Lâm ở gần cầu Lim là 2 trạm liên lạc của ông ta. Điều này được xác nhận sau khi chúng tôi bắt Hoàng Kim Loan vào tháng 5/1972.

Tôi, Trưởng toán tình báo I-66 anh Nguyễn... chúng tôi đã bàn soạn với nhau:

1- Đối với phòng mạch Bác sĩ Hoàng Bá tôi sẽ tăng cường thêm nhân viên để có thể bám sát theo dõi chặt chẽ những người vào ra khám bệnh để tìm ra kẻ tình nghi mỗi khi ông Lập đến đó.

2- Riêng tại chùa Trúc Lâm, chúng tôi sẽ sưu tra lý lịch tất cả những ai sinh sống tu hành trong chùa, sau đó chọn đối tượng tốt nhất, bắt cóc đem về nhà an toàn giáo dục, tuyển mộ họ làm nội tuyến cho chúng tôi để phát hiện hành tung của ông Lập.

Kết thúc vụ nội tuyến của ông Lập là phải bắt quả tang ông Lập phạm tội hoạt động cộng sản, nếu không bắt quả tang thì chúng tôi biết rõ sẽ là vô phương không cách gì thẩm vấn buộc tội ông ta được, vì ông ta là một con cáo già trong ngành điệp báo. Nói cụ thể là với nét chữ chép lại các bản mã và giải mã của tên chánh văn phòng, chúng tôi chưa thể kết luận rằng Đoàn Công Lập là người cấu kết với hắn. Đoàn Công Lập có thể đổ tất cả tội cho tên chánh văn phòng, và dĩ nhiên tên chánh văn phòng có thể nhận tất cả để bảo vệ cán bộ Đoàn Công Lập.

Chúng tôi và văn phòng Cố Vấn Mỹ đang phối hợp giăng lưới lùa hai con mồi nội tuyến Đoàn Công Lập và tên chánh văn phòng của ông ta vào thì biến cố Mậu Thân 1968 xảy ra.

Trong Mậu Thân, Ông Lập đã bỏ Bộ Chỉ Huy cùng với một toán cận vệ ra chiếm giữ đài phát thanh Huế cho đến ngày mùng 7 Tết khi mà đơn vị Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ phối hợp hành quân với lực lượng Tiểu Khu Thừa Thiên và với lực lượng Cảnh Sát Quốc Gia Thừa Thiên-Huế do tôi chỉ huy, khi đó ông Lập mới từ đài phát thanh Huế về lại Bộ Chỉ Huy tỉnh tại đường Trần Cao Vân, tôi bàn giao lại cho ông ta, đơn vị Cảnh Sát Đặc Biệt của tôi trở qua đóng bộ chỉ huy tại trụ sở cũ của Ty Cảnh Sát thành phố.

Lý do Đoàn Công Lập rời BCH tỉnh trong những ngày đầu ra giữ đài phát thanh Huế theo Đoàn Công Lập là: “Đây là một vị trí quan trong không thể để lọt vào tay Việt Cộng”.

Thoạt đầu tôi và các cấp chỉ huy trong Ty chỉ khinh bỉ ông ta đã hèn nhát bỏ đơn vị khi đang đánh nhau với địch, việc giữ đài phát thanh Huế không phải là trách nhiệm của Trưởng Ty Cảnh Sát trong tình hình quân sự trầm trọng như vậy.

Cho đến tháng 5/1972 chúng tôi bắt Trung tá Việt Cộng Hoàng Kim Loan thì sự việc tại sao Đoàn Công Lập đi giữ đài phát thanh Huế mới được sáng tỏ, đó là: trong chiến dịch tấn công Mậu Thân, ông Lập được giao trách nhiệm bảo vệ đài phát thanh Huế với hai nhiệm vụ chính:

1- Duy trì làn sóng phát thanh, hướng dẫn sai lạc tình hình an ninh có lợi cho Quân Giải Phóng.

2- Một khi Quân Giải Phóng kiểm soát hoàn toàn Thị xã Huế, Đoàn Công Lập sẽ cho phát thanh lời kêu gọi (đã thâu sẵn) của lực lượng Quân Giải Phóng với đồng bào Huế.

Ngày 25/2/1968 cộng quân tháo chạy khỏi thành phố Huế. Ngày 26/2/1968, tôi đón Chuẩn tướng Nguyễn Ngọc Loan tại sân bay Phú Bài. Sau phần hỏi thăm của ông đối với đơn vị và anh em, bỗng ông bất thần hỏi tôi:

- Mầy đã bắt thằng Cán và thằng Lập chưa?

Thằng Cán tức Nguyễn Văn Cán nguyên Trưởng Ty Cảnh Sát thành phố Huế. Ngay ngày đầu Cộng quân chiếm Huế, Nguyễn Đắc Xuân thành lập đội Nghĩa Binh Cảnh Sát, Nguyễn Đắc Xuân giao cho Ông Nguyễn Văn Cán làm đoàn trưởng Đoàn Nghĩa Binh Cảnh Sát.

Đối với Tướng Loan tôi có rất nhiều kinh nghiệm sống với ông “Sáu Lèo” này lắm: đừng màu mè, thành thật, nghĩ sao nói vậy, bất chấp luật lệ, còn như cứ dạ thưa thưa dạ... thì đi chỗ khác chơi, vì vậy tôi trả lời cốc lốc với ông.

- Thằng Cán bắt rồi, thằng Lập chưa bắt.

- Sao chưa bắt?

- Thiếu tướng! Vụ hắn làm Việt Công mà em vừa trình với Thiếu tướng chưa đủ yếu tố mạnh mẽ để bắt, còn đang theo dõi. Còn vụ hắn bỏ đơn vị chạy trốn ra đài phát thanh Huế, Phó Ty Đặc Biệt lấy tư cách gì mà bắt hắn? Chưa chừng hắn lại bắt nhốt em vì tội phản loạn vì dám bắt Trưởng Ty.

- Ừ, hai thằng nội tuyến này phải đem ra ngay Ngọ Môn xử bắn!


Tôi nói một mình, nhưng cố ý để cho ông tướng nghe:

- Thiệt không đó?

Mà ông Sáu Lèo nghe thiệt, mà lại nghe rõ nữa:

- Đ. cụ mày!

Tại Huế, Thiếu tướng Nguyễn Ngọc Loan đã giải quyết chuyện “hai thằng đó” như sau:

1- Đối với quận trưởng Cảnh Sát Nguyễn Văn Cán.

Để được vô tư, Thiếu tướng Loan giao ông Cán cho Thiếu tá Nguyễn Tự Cường, Trưởng ty An Ninh Quân Đội Đà Nẵng thụ lý nội vụ, và sẽ xử bắn ông Cán tại Huế để “làm gương”.

Người cứu mạng cho Quận Cán là Ông Võ Lương, khi ấy là Giám Đốc Nha Cảnh Sát Quốc Gia Vùng I. Ông Giám Đốc Võ Lương đã năn nỉ với Thiếu tướng Loan xin tha mạng cho Nguyễn Văn Cán. Có thể nói ông Võ Lương là một giới chức cao cấp của ngành cảnh sát mà Tướng Loan nể nang, vì thế mà Nguyễn Văn Cán thoát chết.

2- Trường hợp Trưởng Ty Đoàn Công Lập.

Tướng Loan cách chức tại chỗ, giải giao đương sự vào Bộ Tư Lệnh Cảnh Sát Quốc Gia tại Sài Gòn (Khối Tư Pháp) để truy tố Đoàn Công Lập hai tội:

- Hèn nhát trước địch quân, là đơn vị trưởng lại đào nhiệm khi đơn vị đang đánh nhau với địch.

- Làm thất thoát 400 khẩu súng đủ loại.

Vụ thất thoát vũ khí này, khi điều tra, ông trưởng kho vũ khí khai rằng: trước khi Mậu Thân xảy ra, Đoàn Công Lập đã cho toán cận vệ của Đoàn Công Lập vào kho chở 400 khẩu súng. Chở đi đâu thì ông ta không biết, ông ta chỉ nhận lệnh của Đoàn Công Lập giao số súng đó cho toán cận vệ của Đoàn Công Lập.

Người thay thế Đoàn Công Lập là Thiếu tá Dương Quang Tiếp từ Bộ Tư Lệnh ra thay. Vài tháng sau, Thiếu tá Dương Quang Tiếp được bổ nhiệm chức vụ Giám Đốc Cảnh Sát Quốc Gia vùng I. Tôi, Trung úy Liên Thành thay thế Trung tá Dương Quang Tiếp làm Trưởng ty CSQG/Thừa Thiên-Huế.

Riêng viên chánh văn phòng của Đoàn Công Lập, sau Mậu Thân, y nằm trong danh sách mất tích. Theo điều tra của toán tình báo I-66, ngay khuya mùng 2 Tết, cộng quân nổ súng, y rời khỏi nhà tại vùng Đập Đá thuộc thôn Vĩ Dạ, từ đó không có tung tích nữa.

Tất nhiên hắn phải ra đi để bảo mật cho Đoàn Công Lập.

Đến tháng 5 mùa hè 1972 khi Hoàng Kim Loan bị lực lượng CSQG/Thừa Thiên-Huế bắt, y khai về trường hợp nội tuyến của Đoàn Công Lập rất rõ ràng, bấy giờ tôi chính thức trình nội vụ về BTL và xin giao vụ Đoàn Công Lập cho Bộ Tư Lệnh thụ lý.

Khi tôi trình bày trong cuốn Biến Động Miền Trung vụ hai ông Trưởng Ty Cảnh Sát Quốc Gia Thừa Thiên và Quảng Trị là Đoàn Công Lập và Lê Cảnh Thâm là hai tên nội tuyến hoạt động cho địch thì kẹt một nỗi là hai người này lại là hai đảng viên của Đảng Đại Việt Cách Mạng, nên tại hải ngoại đã có sự phản đối không muốn chấp nhận sự thật đó. Thưa quý vị, đâu phải cứ đảng viên Đại Việt Cách Mạng thì không thể là cộng sản? Căn cứ vào đâu mà quý vị cho rằng hễ là người của đảng phái quốc gia quý vị thì không thể là cộng sản? Xin phân tích cho tôi và quý độc giả biết lý luận của quý vị?

Có người đã nói:

Liên Thành to gan dám nói hàng lãnh đạo cao cấp của Đại Việt Cách Mạng là Việt Cộng”.

Gần đây trên diễn đàn Internet, ông Nguyễn Lý Tưởng cựu dân biểu VNCH, một giới chức cao cấp trong đảng Đại Việt có nói về ông Đoàn Công Lập như sau:

Ông Đoàn Công Lập là người của đảng Đại Việt, đã cộng tác với chúng tôi từ năm 1955. Chúng tôi biết rõ ông ta và chúng tôi không nghĩ ông ta là cộng sản nằm vùng như Liên Thành nói. Liên Thành căn cứ vào lời khai của Hoàng Kim Loan, nhưng chúng tôi căn cứ vào chúng tôi, vào cơ sở của đảng Đại Việt chúng tôi.”

Thưa ông Nguyễn Lý Tưởng, ông căn cứ vào cơ sở của Đảng Đại Việt, nhưng tôi, Liên Thành, trưởng ty CSQG Việt Nam Cộng Hòa, căn cứ vào các theo dõi, điều tra, phúc tình của các nhân viên CSQG Thừa Thiên-Huế và các cơ quan tình báo đồng minh đặc biệt là Hoa Kỳ, điều tra Đoàn Công Lập hoạt động nội tuyến mà sau cùng thì lời khai của điệp viên cộng sản Hoàng Kim Loan, là bằng cớ quan trọng sau cùng. Sau khi chúng tôi đưa ra những bằng chứng cụ thể về Đoàn Công Lập mà Hoàng Kim Loan đã không thể chối cãi. Chúng tôi không căn cứ vào “lời khai” của Hoàng Kim Loan mà chúng tôi căn cứ vào quá trình điều tra Hoàng Kim Loan. Không phải Hoàng Kim Loan nói gì chúng tôi cũng tin. Xin ông Nguyễn Lý Tưởng và những ai cho rằng chúng tôi kết luận người này người kia làm Việt cộng chỉ là căn cứ vào lời khai của địch. Nói như vậy là quý vị đã cố tình xuyên tạc chúng tôi. Tất cả những kết luận sau cùng của ngành CSQG đều dựa vào tiến trình điều tra và bằng chứng cụ thể, trong đó lời khai của địch chỉ là một phần nhỏ mà thôi.

Và ông cựu Dân Biểu Nguyễn Lý Tưởng cũng đã đề cập về cá nhân tôi như sau:

Liên Thành là chi khu phó dưới quyền Thiếu tá Phạm Khắc Đạt, quận trưởng Nam Hòa (Thừa Thiên) khi Thiếu tá Phạm Khắc Đạt, được Trung tá Phan Văn Khoa đưa lên làm Trưởng Ty Cảnh Sát Thừa Thiên, thì Liên Thành được Thiếu tá Đạt đưa về làm phó ty Cảnh Sát Đặc Biệt để giúp Thiếu tá Đạt. Sau đó Liên Thành được Đại tá Nguyễn Ngọc Loan (Tư Lệnh Cảnh Sát 1966) tín nhiệm. Ngoài ra còn được cố vấn Mỹ “cưng” nữa. Trải qua hai đời trưởng ty Đoàn Công Lập, Dương Quang Tiếp, đến 1969 khi Dương Quang Tiếp lên làm Cảnh Sát vùng I, thì Liên Thành mới được lên làm trưởng ty...

Trong cuộc vận động bầu cử Tổng Thống năm 1967, Liên thành đã ủng hộ Trung tướng Nguyễn Văn Thiệu và Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ, đã từng đi bắt anh em đảng viên Đại Việt ở xã, ấp đem về giam ở Ty Cảnh Sát vì họ đi vận động ủng hộ liên danh Hà Thúc Ký-Nguyễn Văn Định (Liên danh 2).

Năm 1973, khi Linh Mục Trần Hữu Thanh và Phong Trào Chống Tham Nhũng ra Huế nói chuyện tại sân Dòng Chúa Cứu Thế, sau đó đoàn người kéo lên nhà thờ Phủ Cam... Liên Thành đã cho xe chận ngang giữa đường Nguyễn Huệ và bắn lựu đạn cay “trực chỉ” vào bụng ông Hoàng Xuân Tửu (Lúc đó là nghị sĩ Việt Nam Cộng Hòa)... Ông Hoàng Xuân Tửu là Tổng ủy viên Thường Vụ Bộ Chỉ Huy Trung Ương Đại Việt Cách Mạng, là nhân vật thứ hai của Đại Việt Cách Mạng. Từ những sự kiện này, có thể suy luận ra Liên Thành là người của ai và vai trò của Liên Thành ở Huế như thế nào
”.

Có thể ông cựu Dân Biểu Nguyễn Lý Tưởng đã quên một vài chi tiết và thời gian, tôi Liên Thành, xin điều chỉnh bổ túc và trả lời Dân Biểu Nguyễn Lý Tưởng như sau:

1- 1967 tôi làm phó ty Cảnh Sát Đặc Biệt, là do Thiếu tướng Nguyễn Ngọc Loan và Trung tá Phan Văn Khoa chọn, sau khi tôi cùng ông dẹp phong trào phản loạn tại Huế và vụ “bàn thờ Phật xuống đường” của Thích Trí Quang, hoàn toàn không can dự vào vấn đề bầu cử tổng thống cũng như không có thẩm quyền bắt giữ người. Tiện thể xin ông công bố cụ thể tôi đã bắt giam đảng viên nào của Đảng Đại Việt thời gian tôi làm phó ty, thời gian tôi làm trưởng ty? Xin cho biết nếu như những đảng viên này không làm gì vi phạm luật pháp quốc gia mà chỉ bị bắt vì thuần túy là vì đảng viên Đại Việt? Và xin ông chứng minh dùm các ông đảng viên nào đó bị bắt là vô tội, không làm cộng sản, không buôn bạch phiến, nếu như họ đã từng bị tôi bắt?

Xin nhắc ông dân biểu rằng theo hệ thống luật pháp của VNCH thì nhiệm vụ của phó ty Cảnh Sát Đặc Biệt là chỉ chuyên lo an ninh tình báo, và phó ty Cảnh Sát Đặc Biệt cũng không có quyền bắt các đảng viên Đại Việt về giam ở Ty Cảnh Sát. Chuyện bắt giam này nếu có thì phải do ông Đoàn Công Lập làm vì đó thuộc về quyền hạn của ông trưởng ty CSQG Đoàn Công Lập, mà ông ta lại là người của đảng Đại Việt các ông với nhau chứ không phài tôi. Và một chuyện nữa là tôi nhận chức vụ trưởng ty cảnh sát năm 1968, chứ không phải năm 1969, với cấp bậc nhỏ nhoi chỉ là Trung úy, thay thế Trung tá Dương Quang Tiếp đương kim trưởng ty. Trung tá Dương Quang Tiếp chỉ điều hành ty CSQG Thừa Thiên-Huế khoảng 3 tháng rồi về vùng I.

2- Cha Thanh và phong trào “chống tham nhũng” ra Huế gần cuối năm 1974. Bên trong Huế thì cha Thanh tổ chức biểu tình rầm rộ, bên ngoài Huế thì cộng quân đang áp sát. Huế và Miền Nam lúc đó đang trong tình trạng nguy kịch, nếu là trưởng ty CSQG như tôi thì ông Nguyễn Lý Tưởng sẽ làm gì? Để mặc cha Thanh và các đảng viên Đại Việt muốn làm gì thì làm? muốn biểu tình thì mặc sức biểu tình, trong lúc cộng quân đang chực chờ thôn tính?

Tôi có thể nói thẳng thế này, kẻ thù chính của cha Thanh và các người cộng tác với ông ta gồm có ông Thượng nghị sĩ Hoàng Xuân Tửu và ông dân biểu Nguyễn Kim lúc đó là chính quyền VNCH của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu chứ không phải cộng sản.

Tôi phát biểu như thế hẳn không sai chứ, thưa Dân Biểu Nguyễn Lý Tưởng?

Và tôi với tư cách là một công dân, một cấp chỉ huy chịu trách nhiệm an ninh trật tự tại Huế trong lúc đất nước đang trong tình trạng chiến tranh, Huế đang lâm nguy, lấy sinh mạng của chính quyền VNCH và quyền lợi dân tộc làm trọng nên tôi phải chống việc làm vô trách nhiệm bất chấp quyền lợi dân tộc đất nước của cha Thanh và các ông Hoàng Xuân Tửu, Nguyễn Văn Kim của đảng Đại Việt bằng mọi giá, mong ông Dân Biểu Nguyễn Lý Tưởng thông cảm tha thứ. Tôi cũng nhắc lại cuộc biểu tình chống tham nhũng của cha Thanh tại Huế xảy ra cuối năm 1974 chứ không phải 1973 như ông Nguyễn Lý Tưởng viết.

3- Đoàn biểu tình của linh mục Trần Hữu Thanh cùng với hai ông Thượng nghị sĩ Hoàng Xuân Tửu (Đại Việt, cũng là anh chú bác với Tướng Hoàng Xuân Lãm) và Ông Dân biểu Nguyễn Văn Kim (Đại Việt) xuất phát từ nhà thờ Phủ Cam xuống đường Nguyễn Huệ bị tôi chận ngay tại ngã tư Nguyễn Huệ-Đống Đa và không phải chỉ một mình ông Hoàng Xuân Tửu bị tôi đích thân bắn trực xạ phi tiễn cay vào bụng, mà cả cha Thanh cũng như ông dân biểu Nguyễn Văn Kim cũng bị tôi đích thân bắn phi tiễn vào bụng. Tôi nhấn mạnh chữ “đích thân” vì biết rằng việc làm này sẽ có hậu quả nghiêm trọng và tôi không muốn thuộc cấp của mình vì quyết định của cá nhân cấp chỉ huy mà phải gánh lấy hậu quả cho bản thân họ, khi dám đương đầu với các ông quá lớn. Quyết định bắn phi tiễn trực xạ vào các ông lớn của Đại Việt Cách Mạng cùng Linh Mục Trần Hữu Thanh đầy uy quyền này tôi đã phải trả cái giá là bị Thiếu tướng Tư Lệnh CSQG Nguyễn Khắc Bình cách chức. Nhưng xin thưa ông Nguyễn Lý Tưởng, bụng làm dạ chịu, ngay lúc đó và cho đến ngày hôm nay, tôi vẫn không hề hối tiếc về quyết định bắn phi tiễn vào các ông Hoàng Xuân Tửu, Nguyễn Văn Kim, linh mục Trần Hữu Thanh và dẹp tan phong trào biểu tình này tại thành phố Huế.

Và cuối cùng để làm sáng tỏ thêm về việc nội tuyến của ông Đoàn Công Lập tôi xin trích một đoạn nhỏ trong cuốn hồi ký của ông Nguyễn Chí Thiệp mang tên “Trại Kiên Giam” đã xuất bản vài năm về trước tại hải ngoại để chứng minh tính trung thực về việc điều tra tội phạm cộng sản của anh em CSQG Thừa Thiên-Huế chúng tôi.

Ông Nguyễn Chí Thiệp không căn cứ vào lời khai của Hoàng Kim Loan như Liên Thành, và ông Nguyễn Chí Thiệp cũng không căn cứ vào lời quả quyết của đảng Đại Việt, mà ông ta căn cứ bằng mắt thấy tai nghe, bằng tư cách chứng nhân, bằng kinh nghiệm cá nhân của một trong những người trong cuộc bị chính Việt Cộng trá hình Đoàn Công Lập cò mồi vào hoạt động trong một tổ chức kháng chiến giả sau 1975, do công an tổ chức, rồi sau đó phải mang thân tù tội, vài người nữa bị chết trong tù. Vài nét về tác giả Nguyễn Chí Thiệp:

Ông Nguyễn Chí Thiệp xuất thân Học Viên Quốc Gia Hành Chánh VNCH, sau đó được chính phủ bổ nhiệm đi làm phó tỉnh trưởng tỉnh Quảng Nam. Sau 1975, ông hoạt động kháng chiến, bị Đoàn Công Lập lừa bịp và bị bắt đi cải tạo. Ông hiện đang đinh cư tại thành phố Houston, tiểu bang Texas, USA.

Ông Nguyễn Chí Thiệp trước ngày 30/4/1975 chưa bao giờ biết Đoàn Công Lập là ai, do đó họ chẳng có ân oán gì nhau cả. Nghe nói Đoàn Công Lập là cựu trưởng ty Cảnh Sát Quốc Gia Thừa Thiên-Huế nên đã cả tin hắn theo tiếng gọi của lòng yêu nước gia nhập tổ chức kháng chiến của Đoàn Công Lập. Vì vậy những gì ông ta viết về ông Đoàn Công Lập trong cuốn hồi ký “Trại Kiên Giam” phải được coi là vô tư, không như “Liên Thành to gan dám kết tội đảng viên gạo cội của Đại Việt Cách Mạng là cộng sản.”

Xin mời Dân Biểu Nguyễn Lý Tưởng cùng những ai cho rằng họ biết Đoàn Công Lập là người quốc gia chống cộng vì cùng sinh hoạt lâu năm trong Đại Việt Cách Mạng, nên “biết” rõ hơn về Đoàn Công Lập qua tác phẩm Trại Kiên Giam của tác giả Nguyễn Chí Thiệp, trang 234:

“...Tổ chức thành phần thứ 3 của ông Bùi Ngọc Phương, gồm các ông Vũ Đăng Dung, thủ lãnh Luật Sư Đoàn miền Trung, Nguyễn Văn Hiếu thông dịch viên Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ, kỹ sư Phạm Bá, Nguyễn Cao Thanh giáo sư Đại Học Phương Nam, Lương Thiện, giáo sư Hoa ngữ, Đoàn Công Lập, cựu Trưởng Ty Cảnh Sát Thừa Thiên. Do sự thúc đẩy của Đoàn Công Lập, ông Bùi Ngọc Phương tự xưng là thành phần thứ ba, đánh điện tín ra Hà Nội đòi Phạm Văn Đồng thi hành hiệp định Paris hòa hợp hòa giải dân tộc.

Đoàn công lập là cán bộ cộng sản hồi chánh, gia nhập đảng Đại Việt, hệ phái Hà Thúc Ký. Được làm trưởng ty Cảnh Sát Thừa Thiên-Huế thời kỳ Miền Trung Tranh đấu.

Lập không đi cải tạo, và được sở Công An thành phố giao phó tổ chức chống cộng giả để bắt nhiều người. Lập và con trai là Đoàn Công Việt “bị bắt” và được thả ra khỏi trại giam nhiều lần trong những tổ chức phản động khác nhau. Những người trong tổ chức của ông Bùi Ngọc Phương đều bị bắt, đi lao động cải tạo. Ông Lương Thiện chết năm 1981, ông Bùi Ngọc Phương chết năm 1984 ở trại tù Xuân Phước
.”

Ông phó tỉnh trưởng Đà Nẵng là nạn nhân của những phong trào những mặt trận kháng chiến giả do trùm công an Mai Chí Thọ tung ra để truy bắt những thành phần quân cán chính VNCH chống cộng còn kẹt lại sau 1975, mà cha con Đoàn Công Lập, Đoàn Công Việt là một trong những tên cò mồi vô cùng tán tận lương tâm, đã từng làm cho Huế bị tàn sát thê thảm, nay lại góp sức trong việc tận diệt các tổ chức kháng chiến chống cộng và hốt sạch những thành phần yêu nước sau 1975. Sự thành công của trùm Công An Mai Chí Thọ một phần là do công của Đoàn Công Lập.

Lời chia xẻ chân thành đến các đảng phái chính trị, quý vị có thể tin tưởng các đồng chí đảng viên của quý vị là những người quốc gia chân chính như quý vị, chúng tôi thông cảm điều đó, vì có bao giờ họ tỏ lộ cho quý vị biết họ là những cán bộ cộng sản đâu? Nhưng quý vị cũng nên biết rằng ngành tình báo Việt Nam Cộng Hòa cũng như An Ninh Quân Đội là những ngành tối quan trọng của quốc gia, được chính phủ đầu tư, huấn luyện và đào tạo rất quy củ và chuyên nghiệp, cũng như được trang bị rất đầy đủ đạt tầm mức quốc tế để chống lại mạng lưới phản gián, xâm nhập của cộng sản. Một điều mà chúng tôi chắc chắn rằng trình độ, ngân quỹ, và phương tiện phát hiện nội tuyến của quý vị không thể nào làm được như một cơ quan quốc gia chuyên ngành của chính phủ VNCH. Chúng tôi viết lại những hiểu biết này không hề có ý bôi bẩn hay chê bai một đảng phái hay tổ chức nào cả, chúng tôi thông cảm những kiến thức hạn chế và phương tiện eo hẹp của quý vị trong lãnh vực tình báo, chúng tôi chỉ đơn thuần trả lại sự thật cho lịch sử. Ai thực sự chiến đấu vì lý tưởng tự do dân chủ thì đáng được tôn trọng, ai trá hình quốc gia để hoạt động cộng sản thì phải bị lôi ra ánh sáng. Có như vậy những anh hùng nằm xuống vì lý tưởng tự do dân chủ vì thể chế Việt Nam Cộng Hòa mới đỡ tủi vong linh.

Nhân ông Dân Biểu Việt Nam Cộng Hòa Nguyễn Lý Tưởng nói đến Phong Trào Chống Tham Nhũng của cha Thanh vào những ngày tháng hấp hối của Việt Nam Cộng Hòa gần cuối năm 1974, tôi sẽ trình bày tóm tắt về phong trào này, trước để độc giả hiểu rõ thực chất của phong trào này là gì? Sau để phụ với dân biểu điều chỉnh lại những gì mà có lẽ ông Dân Biểu Nguyễn Lý Tưởng đã quên.

Liên Thành

 

 

***

 

 

 

 

Khối Kỹ Thuật UBTTTAĐCSVN
P.O.BOX 6157. Fullerton, CA.92834
Phone: 626-257-1057. Email: ubtttadcsvn.vg@gmail.com
Web: http://ubtttadcsvn.blogspot.com

Lịch sử
THỐNG KÊ SỐ NẠN NHÂN ĐÃ BỊ VIỆT CỘNG GIẾT HẠI,
BỊ BẮT ĐƯA ĐI BIỆT TÍCH TRONG TẾT MẬU THÂN 1968 TẠI HUẾ

LIÊN THÀNH
Orange county, CALI, USA. Ngày 28/12/2015
(Trích Huế Thảm Sát Mậu Thân 1968.Trang 204-264)

      

      

Sau ngày 26 tháng 2 năm 1968, nhiều cơ quan truyền thông, báo chí, truyền hình, các hãng thông tấn ngoại quốc, đã đưa ra nhiều bản thống kê chênh lệch con số đồng bào Huế bị Việt Cộng sát hại trong thời gian Tết Mậu thân 1968. Hãng thông tấn này loan tin 3000 ngàn người bị việt Cộng giết, hãng khác loan tin 4000 người bị Việt Cộng sát hại. Thậm chí có một vài cơ quan hoặc báo chí không biết lấy tin tức và dữ kiện từ đâu, đưa ra con số là 7000 hoặc 8000 người.

Sự thật thì tất cả các con số trên chỉ là phỏng đoán và không dựa vào điều tra của các cơ quan thẩm quyền của chính phủ VNCH. Điều này không cần thiết và có tạo thêm nghi vấn đối với dư luận quốc tế, nhất là đám phản chiến tại Hoa Kỳ.

Riêng phúc trình của Bộ Chỉ Huy Cánh sát Quốc Gia Thừa Thiên-Huế gởi cho Đại tá Tỉnh Trưởng Lê Văn Thân, gởi cho ông Giám đốc Cảnh Sát Quốc Gia Vùng I, và gởi vào Bộ Tư lệnh Cảnh Sát Quốc Gia tại Sài Gòn, con số nạn nhân là:

5327 người bị Việt cộng giết, 1200 người mất tích vĩnh viễn, hoàn toàn không có tin tức, cũng không để lại một vết tích nào cả.

Con số 5327 người chết và 1200 người mất tích này từ đâu ra? Tin được không?

Ngoài Bộ Chỉ Huy Tỉnh Thừa Thiên và Thị xã Huế, chúng tôi có 13 Bộ Chỉ Huy Cảnh Sát Quận, gồm có 3 quận Thị xã Huế, 10 quận thuộc tỉnh Thừa Thiên, và 73 Cuộc Cảnh Sát phường và xã.

Với hệ thống truyền tin tối tân nhất trong thời kỳ đó được trang bị từ cấp Cuộc (xã) trở lên nên, mọi tin tức, mọi sự việc xảy ra có tầm mức quan trọng ở bất kỳ nơi thôn ấp hẻo lánh nào trên toàn cõi lãnh thổ tỉnh Thừa Thiên và Thị xã Huế đều được ghi nhận và gởi về Trung Tâm Hành Quân Cảnh Lực Bộ Chỉ Huy Cảnh Sát Quốc Gia Thừa Thiên-Huế ngay tức thì. Sau đó chỉ trong khoảng thời gian ngắn nhất, những tin tức đó được trình theo thứ tự lên cấp chỉ huy cao hơn là Tỉnh Trưởng, Chỉ Huy Trưởng Bộ Chỉ Huy Cảnh Sát Quốc Gia Vùng I tại Đà Nẵng, và Vị Tư Lệnh Cảnh Sát Quốc Gia tại Sài Gòn.

Sau Mậu Thân, theo chỉ thị của Bộ Tư Lệnh tại Sài Gòn, BCH CSQG Thừa Thiên-Huế chúng tôi đã thành lập một bộ phận theo dõi và thống kê tình trạng đồng bào bị Việt Cộng sát hại cũng như bị mất tích, tin tức được thường xuyên cập nhật để trình lên các giới chức liên hệ. Bộ phận này được đặt tại Trung Tâm Hành Quân Cảnh Lực, và chính Đại úy Trần Văn Trinh, Trung Tâm Trưởng chịu trách nhiệm, hằng ngày báo cáo lên tôi và các giới chức thẩm quyền cao hơn. Đại úy Trần Văn Trinh hiện định cư tai tiểu bang WA, Hoa Kỳ.

Ngoài ra tôi cũng đã gởi một văn thư cho các Bộ Chỉ Huy Cảnh Sát Quốc Gia Quận chỉ thị cho họ phối hợp chặt chẽ với các quận, xã địa phương giúp đỡ đồng bào, thân nhân những nạn nhân đang tìm kiếm vết tích tin tức của những người thân của họ đã bị Việt Cộng bắt đi.

Mỗi khi phát giác được một hầm chôn tập thể nào, dù nhỏ, dù lớn, mọi chi tiết đều được ghi nhận và gởi về Trung Tâm Hành Quân Cảnh Lực Tỉnh, và tại cấp tỉnh chúng tôi cập nhật vào bản thống kê sau đó báo cáo ngay cho Văn Phòng Tỉnh Trưởng, cho Trung Tâm Hành Quân Cảnh Lực Khu và Bộ Tư lệnh để trình lên các giới chức thẩm quyền.

Tóm lại con số 5327 thường dân bị giết và 1200 thường dân bị Việt Cộng dẫn đi mất tích là con số trung thực, chính xác, của Trung Tâm Hành Quân Cảnh Lực Bộ Chỉ Huy Cảnh Sát Quốc Gia Thừa Thiên Huế do tôi ký trình lên thượng cấp: Tỉnh Trưởng, Giám đốc CSQG vùng I và Tư Lệnh CSQG tại Sài Gòn, sau khi đã tổng kết tất cả mọi báo cáo từ 73 cuộc Cảnh Sát, 13 Bộ chỉ huy Cảnh Sát Quận trên toàn lãnh thổ Tỉnh Thừa Thiên và Thị xã Huế.

Con số 5327 và 1200 là những con số mà anh em BCH CSQG Thừa Thiên-Huế chúng tôi không bao giờ có thể quên!

DANH SÁCH MỘT SỐ NẠN NHÂN BỊ THẢM SÁT - MẤT TÍCH

Như đã trình bày ở phần trên, trong suốt 26 ngày chiếm Huế, dân chúng Huế đã bị Việt cộng sát hại quá nhiều. Ngay những ngày đầu và tuần tự trong những ngày sau trong suốt 22 ngày, sau đó hai ngày cuối cùng là ngày 25, 26, tháng 2/1968 bọn chúng mới chịu ngưng tay chém giết vì phải tìm đường thoát thân trước sự tấn công vũ bão của Quân Lực VNCH.

Có thể nói thành phố Huế đầy dẫy xác chết, nằm sấp, nằm ngữa, nằm nghiêng, từ bờ cây bụi cỏ, từ đường lớn đường nhỏ, đâu đâu cũng thây người đã sình thối. Huế điêu tàn, Huế xác xơ, Huế là bãi thây ma, Huế là địa ngục trần gian, địa ngục có thật.

Tuy rằng danh sách những nạn nhân tôi liệt kê duới đây chẳng thấm vào đâu với số 5327 nạn nhân bị Việt cộng giết hại, và 1200 thường dân bị bọn chúng bắt đi mất tích, nhưng ít nhất cũng là một số chứng tích đáng kể mà tôi đã giao cho Luật Sư Đoàn Quốc Tế làm chứng từ truy tố Đảng cộng sản và đồng bọn tay sai ra tòa án Quốc Tế về tội ác chiến tranh và tội diệt chủng trong thời gian sắp đến:

- Thượng Nghị Sĩ Trần Điền bị bắt tại Dòng Chúa Cứu Thế, Quận III Thị xã Huế, sau đó tìm được xác ông tại Vùng Lăng Xá Bàu Quân Hương Thủy, Tỉnh Thừa Thiên.

- Ông Phó Thị Trưởng Thị xã Huế Trần Đình Thương. Bị hạ sát ngay trước cổng nhà, trước công viên Bến Ngự, Quận III Thị xã Huế.

- Ông Lê Văn Phú Quận trưởng Quận II. Bị bắt tại nhà, bị bắn ngay ngoài đường gần nhà thuộc Quận II Thị xã Huế.

- Ông Lê Văn Cư Phó Giám đốc CSQG Vùng I. Bị bắt tại nhà, bị bắn ngay tại đường gần nhà thuộc Quận II Thị xã Huế.

- Ông Trần Văn Nớp, Trưởng Ban Nhân Viên BCH/CSQG/Thừa Thiên-Huế, bị bắt tại nhà và bắn chết tại nhà.

- Thiếu tá Từ Tôn Kháng, Tỉnh Đoàn Trưởng Xây Dựng Nông Thôn Thừa Thiên. Bị bắt tại nhà và bắn ngay trong sân nhà.

- Thiếu tá Bửu Thạnh, Ủy viên Tòa án Quân Sự Mặt Trận, bị bắt và bị bắn tại nhà.

- Ông Nguyễn Khoa Hoàn, Chánh Án tòa Thượng Thẩm Huế. Bị bắt và bị bắn tại nhà.

- Ông Nguyễn Văn Đãi, Phụ tá Đại Biểu Chính Phủ bị bắt tại nhà đưa ra Bắc.

- Ông Bửu Lộc Phó Tỉnh Trưởng Thừa Thiên bị bắt tại nhà và dẫn ra Bắc.

- Ông Lê Văn Thi, nguyên giáo sư Trường Quốc Học, đương nhiệm là Tiến Sĩ Nguyên Tử Lực nhà máy điện nguyên tử tại Đà Lạt về Huế ăn Tết, nhà ở Câu Lòn, bị bắt tại nhà. Phụ thân của thầy năn nỉ đám Việt Cộng xin tha cho Thầy, ông cụ cũng bị bắt đi. Sau đó tìm được xác cả hai cha con, trong tình trạng bị chôn sống.

- Linh mục Bửu Đồng bị bắt, sau đó tìm ra xác tại Phú Xuân.

- Linh mục Dom Romain Guillaurn, ông bị bắn ngay tại Dòng Thiên An. Linh mục Urbain, Linh mục Guy, cả 2 bị bắt tại Dòng Tu Thiên An, sau đó tìm được xác tại một nơi gần lăng Vua Đồng Khánh với những vết đạn bị bắn ở đầu và cổ.

- Cô Hoàng Thị Tâm Tuy, bị bắt tại nhà đường Tô Hiến Thành, Gia Hội. Sau đó tìm ra xác cô và 4 phụ nữ khác chung một hố, bị trói 2 tay, miệng nhét đầy giẻ. Thân thể không có vết tích dấu đạn.

- Góa phụ Dương Thị Có, khoảng 55 tuổi, có 4 con dại. Bị bắt ngày 22/2/1968 bị chánh án Tòa Án Nhân Dân, Hoàng Phủ Ngọc Tường, tuyên án tử hình, bị bắn chết chôn trong trường Gia Hội. Ngày 26/2/1968 thân nhân tìm ra xác tại đó.

- Nguyễn Văn Thắng sinh viên, Trần Bình Trọng sinh viên mới lập gia đình, mời đi học tập, sau đó tìm ra xác 2 người chung hố với 10 nạn nhân khác tại trường Gia Hội.

- Nguyễn Văn Đông CSQG 42 tuổi bị bắt tại nhà vào ngày 17/2/1968 sau đó bị chôn sống tại trường Gia Hội. Tìm ra xác vào ngày 26/2/1968.

- Nguyễn Thị Lào, giặt áo quần cho lính Mỹ tại căn cứ Dạ Lê, Quận Hương Thủy. Bị bắt sau đó tìm ra xác tại trường Gia Hội. Hai tay bị trói, miệng bị nhét giẻ, tình trạng bị chôn sống.

- Ông Soạn, nhà ở Tô Hiến Thành Gia Hội. Đoàn Thanh Niên Vũ Trang của Nguyễn Đắc Xuân giao cho ông công tác đào hầm để chôn sống tù nhân, nhưng cuối cùng ông cũng bị trói hai tay và có dấu 3 phát đạn bắn vào đầu chôn tập thể trong một hầm có khoảng 58 xác chết.

- Tại Cồn Hến phát hiện một hầm chôn tập thể có khoảng 100 tử thi, tất cả đều có vết đạn bắn vào đầu.

- Lê Văn Rớt, chồng bà chủ quán Bún Mụ Rớt đã ra trình diện, nhưng mấy ngày sau bị bắn chết tại trước quán bún Mụ Rớt. Bọn sát nhân nghi ông Lê Văn Rớt là cảnh sát chìm. Nhiều nhân chứng nhận dạng có Nguyễn Đắc Xuân, Hoàng Phủ Ngọc Phan, Nguyễn thị Đoan Trinh tên thầy bói Diệu Linh trong vụ bắn ông Lê Văn Rớt.

- Tại Nhà thờ Phủ Cam cộng quân ập vào bắt đi 300 thanh niên, bọn chúng giải 300 thanh niên này lên giam tại Bộ Chỉ Huy An Ninh của bọn chúng đóng tại Chùa Từ Đàm. Sau đó vài ngày xua dần lên núi. Sau này tìm được 428 xác chết tại khe Đá Mài, trong đó đã nhận dạng được 300 xác thanh niên Phủ Cam.

- Ông Võ Thành Minh một Trưởng Hướng Đạo, người mà năm 1954 cắm lều thổi sáo cầu nguyện cho Việt Nam tại hồ Geneva Thụy Sĩ khi Việt Cộng và Pháp ký thỏa hiệp đình chiến 1954. Mậu Thân 1968 tại vùng Từ Đàm ông lo cứu thương cho đồng bào trong vùng Từ Đàm. Ông bị bắt và sau đó thân nhân tìm ra xác ở vùng phía tây Nam Giao trong tình trạng bị chôn sống.

- Ông Nội nhà tại đường Phan Bội Châu. Ông Trần Mậu Tý bị Nguyễn Đắc Xuân bắt và xử bắn tại bờ tường gần cửa Đông Ba.

Có thể nói đây là vụ giết người mọi rợ, tàn bạo và dơ bẩn nhất, một hành động vong ân bội nghĩa của tên ác quỷ Hoàng Phủ Ngọc Phan và Nguyễn Thị Đoan Trinh làm cho dân tộc Đức và cả thế giới rúng động nguyền rủa, khi Hoàng Phủ Ngọc Phan bắt ba vị giáo sư y khoa người Đức đem đi chôn sống.

 

 

Đây chiến thắng Mậu Thân của bọn cộng sản!

 

Bốn mươi năm sau, 2008, cộng sản chúng ăn mừng trên những xác người vô tội. Chúng “vinh quang” trên vô số xác người, còn sau Mậu Thân, chính phủ VNCH và lương dân Huế phải lo Truy Tầm & Cải Táng Nạn Nhân.

ÁC QUỶ HOÀNG PHỦ NGỌC PHAN CỰU SINH VIÊN Y KHOA PHÁ TRƯỜNG HỌC, GIẾT ĐỒNG MÔN, CHÔN SỐNG THẦY.

ÁC QUỶ NGUYỄN THỊ ĐOAN TRINH CỰU SINH VIÊN ĐẠI HỌC DƯỢC KHOA SÀI GÒN GIẾT NGƯỜI NHƯ CỎ RÁC.


Một bộ phận thuộc đoàn Vũ Trang Thanh Niên của Nguyễn Đắc Xuân trong đó Hoàng Phủ Ngọc Phan và Nguyễn Thị Đoan Trinh là hai nhân vật chính sắt máu và tàn bạo nhất. Bọn chúng đã lục soát khu Đại Học Y Khoa Huế, đã bắn bể một số máy móc, dụng cụ, trong phòng thí nghiệm y khoa và một số sinh viên y khoa.

Tại phòng thí nghiệm này, bọn chúng đã bắt gặp một số sinh viên y khoa đang trốn tại đây. Thấy vậy, Hoàng Phủ Ngọc Phan, Nguyễn thị Đoan Trinh đã bắn xối xả vào những sinh viên đang núp trốn. Hãy đọc một vài dòng tường thuật của một nạn nhân chứng kiến cảnh giết người của Phan và Trinh:

Trời ơi, thật là khủng khiếp, chỉ một đoạn đường từ cổng sau BV tới sân trường VK mà không biết bao nhiêu là xác người, áo quần vung vãi khắp nơi”.

“Hoàng Phủ Ngọc Phan vừa đánh anh Văn bằng báng súng vừa chửi. “Chuyến ni mi trốn nữa, mi gặp lại tau là mi chết! Văn run rẩy lắp bắp, dạ lạy anh, em không dám nữa mô.”

“Trên đường Hàm Nghi, Nguyễn thị Đoan Trinh chạy ngang nhà nào mà y thị gật đầu là y như rằng trong nhà đó có người bị bắt đem ra, người thì bị bắn tại trước nhà, người thì bị dắt đi. Mấy ông bà cụ trong nhà chạy theo nằm lăn ra đường khóc la thảm thiết... Bọn lính Bắc thì cứ chửi thề luôn miệng, đéo mẹ câm mồm, ông bắn bỏ mẹ bây giờ...


(Xin độc giả xem lời tường thuật của nạn nhân là anh sinh viên Văn và bà Thái Hòa ở đoạn sau chi tiết hơn).

Và đây là lời khai của các nhân chứng khác: Nguyễn Đắc Xuân là người bắn loạt đạn AK đầu tiên vào người bạn cũ Trần Mậu Tý. Kế tiếp y quay mũi súng bắn vào ông thương gia tên Nội. Nguyễn Thị Đoan Trinh, Nguyễn Thiết bồi thêm hai băng AK vào thi thể của Trần Mậu Tý và ông Nội đang nằm gục nơi góc tường thành. Máu hai người tuôn ra xối xả trước sự chứng kiến của nhiều đồng bào và của vợ của ông Nội.

Trong suốt thời gian 22 ngày cộng sản làm chủ Huế Nguyễn Thị Đoan Trinh với bộ đồ màu hồng, vai mang AK 47 lưng mang súng lục, cỡi xe Honda tảo thanh lùng sục khắp cùng đường phố, gặp ai y thị cũng chặn hỏi giấy tờ tùy thân. Nếu chẳng may đó là thành phần quân nhân, công chức, cán bộ chính quyền, cảnh sát quốc gia, thì kể như người đó hồn lìa khỏi xác.

Điển hình: Tại đường Cường Để thuộc vùng Tây Lộc, anh Võ Văn Tửu là Phó Thẩm Sát Viên Cảnh sát, Đồn trưởng đồn Cảnh Sát Ga, đêm mùng 2 Tết anh Tửu bị kẹt tại nhà. Trốn tránh từ nhà này sang nhà kia đâu đuợc 7 ngày, qua ngày thứ 8 đang di tản với gia đình thì Ma Nữ Nguyễn Thị Đoan Trinh bất thần xuất hiện, hất hàm hỏi.

- Ông Tửu Đồn Trưởng đồn Cảnh Sát Ga phải không?

- Dạ phải.


Lập tức một loạt AK nổ dòn. Anh Võ Văn Tửu gục ngã trước sự kinh hoàng ngơ ngác của vợ con. Nữ Ma đầu Nguyễn thị Đoan Trinh lên xe rồ máy chạy không buồn ngoảnh lại.

Rất nhiều đồng bào trong các vùng trên là nhân chứng hành động sát nhân tàn bạo của hai con ác quỷ Nguyễn Thị Đoan Trinh và Hoàng Phủ Ngọc Phan.

Bút mực nào có thể tả xiết sự tàn bạo của hai con ác quỷ này? Tàn ác không thua bọn SS của Đức Quốc Xã, và Pol Pot, Ieng Sary nhưng hai tên Nguyễn thị Đoan Trinh và Hoàng Phủ Ngọc Phan vẫn sống nhởn nhơ ngoài vòng luật pháp. Còn nữa, Nguyễn Thị Đoan Trinh nay lại là một thương gia giàu có tại Sài Gòn!

 

 

Sau Mậu Thân, Huế có những nấm mộ ven đường.
Mộ nào là do Nguyễn Thị Đoan Trinh,
Hoàng Phủ Ngọc Phan, Nguyễn Đắc Xuân,
Hoàng Phủ Ngọc Tường là thủ phạm?

 

Ngày mùng 5 Tết, với sự hướng dẫn của tên Lê Huy Chước nhân công bệnh viện Trung Ương Huế, cũng là cơ sở nằm vùng chỉ điểm, Hoàng Phủ Ngọc Phan, Nguyễn Thị Đoan Trinh cùng một số đoàn viên trong đoàn Vũ Trang Thanh Niên, hay gọi là Lực lượng An Ninh Bảo vệ Khu Phố của Nguyễn Đắc Xuân, kéo đến khu cư xá của giáo sư Đại Học Huế, tìm bắt 3 giáo sư Đại học Y khoa người Đức:

1- Bác Sĩ Raimund Discher
2- Bác sĩ Hort Gunther Kranick và bà vợ.
3- Bác Sĩ Slois AQlterkoster.

Ba vị bác sĩ giáo sư Y khoa người Đức này họ đến giảng dạy tại trường Đại học Y khoa Huế theo chương trình của chính phủ Đức giúp đỡ trường Đại Học Y Khoa Việt Nam. Ngoài giờ dạy học ra, họ còn là những bác sĩ cần mẫn, tận tụy với nghề nghiệp, săn sóc và cứu sống hằng ngàn bệnh nhân tại Bệnh Viện Trung Ương Huế. Ngoài ra họ còn nỗ lực tân trang lại phòng khám bệnh cho bệnh nhân bị bệnh cùi, xây thêm một Bệnh Viện Tâm Thần. Với tinh thần cao thượng của người thầy thuốc phục vụ tha nhân và đồng loại như vậy, xin hỏi đảng cộng sản Việt Nam và các tên sát nhân Hoàng Phủ Ngọc Phan, Nguyễn Thị Đoan Trinh, Nguyễn Đắc Xuân, hãy trả lời trước công luận thế giới, hãy trả lời với dân tộc Đức, những vị bác sĩ người Đức này họ đã làm gì nên tội? họ mang tội gì? họ bị kết tội gì? mà các người bắt đem đi chôn sống? Đồ tể Hoàng Phủ Ngọc Phan, Nguyễn Thị Đoan Trinh, Nguyễn Đắc Xuân, Hồ Chí Minh và Đảng cộng sản Việt Nam, bọn bây hãy trả lời đi!

Ngày định mệnh oan nghiệt xảy đến cho 3 vị bác sĩ người Đức là ngày 5 tháng 2 năm 1968 khi những tên Lê Huy Chước, Hoàng Phủ Ngọc Phan, Nguyễn Thị Đoan Trinh cùng 2 tên Công An Vũ Trang của Đại tá Công An Nguyễn Đình Bảy tự Bảy Lanh kéo đến khu cư xá của ba vị bác sĩ này.

 

 

Hoàng Phủ Ngọc Phan, tên giết người man rợ,
phá trường học, giết đồng môn, chôn sống thầy.
Hiện hắn và bài trùng của hắn là Nguyễn Thị Đoan Trinh
vẫn còn nhởn nhơ ngoài vòng pháp luật.

 

Bọn chúng bắt 3 ông, thấy thế vợ của bác sĩ Hort Gunther Kramick đòi đi theo chồng thì bọn chúng liền lùa cả 4 người lên một chiếc xe buýt nhỏ hiệu Volkwagen chở đi trước sự chứng kiến của một số đông đồng bào ở trong khu cư xá. Mọi người đều nhận diện rõ tên Hoàng Phủ Ngoc Phan, và nữ sát thủ Nguyễn Thị Đoan Trinh cỡi xe Honda vai. Ba vị bác sĩ Đức và bà vợ của Bác sĩ Kramick bị bọn chúng giải đến giam tại chùa Từ Đàm, sau chuyển qua giam tại chùa Kim Tiên, rồi chuyển qua giam tại Chùa Tường Vân, và cuối cùng vào đầu tháng 4/1968 mới tìm ra xác của ba vị bác sĩ và vợ của bác sĩ Kramick tại một ngôi mộ nằm cách chùa Tường Vân hơn 1 cây số trong khu tam giác chùa Tường Vân- đồi Vạn Niên- chùa Từ Hiếu.

Khám nghiệm tử thi cho thấy họ bị đánh đập dã man, nhiều vết thương ở đầu và mình, và nhiều viên đạn bắn xuyên qua đầu và gáy.

Hoàng phủ Ngọc Phan, Tên sát nhân mặt người dạ thú, phá trường học, giết đồng môn, giết bạn bè, chôn sống thầy dạy, chôn sống đồng bào mình mình.

CHÙA TỪ ĐÀM, TRUNG TÂM THẨM VẤN, PHÂN LOẠI TÙ DÂN SỰ CỦA CỘNG QUÂN TRONG TẾT MẬU THÂN 1968

Trong suốt 22 ngày làm chủ tình hình Huế, Cộng quân đã dùng Chùa Từ đàm làm nơi giam giữ, thẩm vấn, phân loại các tù dân sự mà lực lượng an ninh của khu ủy Trị Thiên của Tống Hoàng Nguyên, lực lượng Công An Thừa Thiên-Huế của Nguyễn Đình Bảy và đoàn Vũ Trang Thanh Niên của Nguyễn Đắc Xuân bắt từ các nơi trong thành phố Huế được giải về giam giữ tại chùa Từ Đàm để Ban An Ninh, Ban Thẩm Vấn của bọn chúng tra khảo xử tội.

Một số nhân chứng sau này đã khai báo rõ ràng với Bộ Chỉ Huy Cảnh Sát Quốc Gia Thừa Thiên-Huế rằng họ bị bắt tại các nơi trong thành phố Huế, sau đó cộng quân đã giải họ lên giam giữ tại chùa Từ Đàm. Họ bị bộ phận an ninh của Việt Cộng đánh đập thẩm cung. Cũng đã có những vụ xử bắn ngay tại chùa Từ Đàm, xác nạn nhân được chôn trong khuôn viên chùa.

Được hỏi cơ may nào những nạn nhân này trốn thoát được, số nhân chứng trên cho biết rằng trong những ngày bị giam giữ tại Từ Đàm, có nhiều đêm trong vùng Bến Ngự, Nam Giao, Từ Đàm bị pháo binh bắn liên hồi, hàng ngũ bọn Việt Cộng rối loạn, đó là lúc nếu can đảm liều mạng thì có thể trốn thoát. Một số khác trốn thoát được nhờ khi cộng quân giải họ từ chùa Từ Đàm đi lên núi, lợi dụng bóng đêm họ lách mình trốn vào bụi rậm.

Chùa Từ Đàm trở thành trung tâm thẩm vấn khai thác hành hạ tù nhân và là pháp trường xử bắn kẻ vô tội trong suốt 22 ngày cộng quân chiếm Huế. Đây là một sự thật không thể che đậy. Thật là đau lòng, bọn vô thần và đám cơ sở nằm vùng đã dùng nơi thờ cúng tôn nghiêm biến thành lò sát sinh vấy máu dân lành vô tội.

Xin đơn cử một vài trường hợp điển hình:

Ba bác sĩ người Đức giáo sư Đại Học Y khoa Huế là:

Bác sĩ Raimun Discher
Bác sĩ Hort Gunther Kramick
Vợ của bác sĩ Hort Gunther Kramick
Bác Sĩ Slois Alterkoster

Bốn công dân người Đức này bị giam giữ tại chùa Từ Đàm và sau đó đem đi chôn sống.

Gần 400 thanh niên làng Phủ Cam cũng bị giam giữ tại chùa Từ Đàm trước khi dẫn họ lên Khe Đá Mài, vùng núi Quận Nam Hòa, phía tây thành phố Huế và hạ sát họ tại đó.

Nhiều Quân Cán Chính, VNCH và anh em Cảnh Sát thuộc BCH/CSQG/Thừa Thiên-Huế bị bắt, cộng quân giải họ về giam giữ tại chùa Từ Đàm, sau khi thẩm cung, một vài người đã bị bọn chúng xử bắn hoặc chôn sống ngay trong khuôn viên của chùa. Xin đơn cử một trường hợp điển hình:

- Anh Trần Văn Em là nhân viên Cảnh Sát Đặc Biệt thuộc Bộ Chỉ Huy Cảnh Sát Quốc Gia Thừa Thiên-Huế. Nhà của anh Trần Văn Em chỉ cách chùa Từ Đàm khoảng ba trăm mét, Anh Trần Văn Em bị bắt tại nhà vào ngày mùng 4 Tết và bị cộng quân đem vào giam tại chùa Từ Đàm. Theo lời vợ anh Trần Văn Em kể lại, khi anh bị bắt chị đã chạy theo vào chùa Từ Đàm đem thêm áo lạnh, thuốc men, và thực phẩm cho anh. Ngày hôm sau chị trở lại, bọn an ninh từ chối không cho chị gặp mặt chồng nữa.

Sau ngày cộng quân rút khỏi chùa Từ Đàm, vợ anh Trần Văn Em đã tìm ra xác của anh Trần Văn Em ngay tại một hầm xác 3 người tại bờ rào của chùa Từ Đàm, trong đó có xác của Trung sĩ Thọ phục vụ tại phòng I của Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn I BB. Nhà của Trung sĩ Thọ cách nhà của anh Trần Văn Em chỉ một bờ rào. Hai người bị bắt cùng ngày mùng 4 Tết.

Sau Mậu Thân, rất nhiều đồng bào Huế ngạc nhiên, hỏi tại sao Cộng quân lại dùng chùa Từ Đàm làm nơi giam giữ tù nhân, tra khảo, và giết người tại đó? Trong chức vụ của người phụ trách an ninh tình báo tại Thừa Thiên Huế, chúng tôi xin trả lởi câu hỏi đó như sau:

Tình báo chiến lược cộng sản Hà Nội đặt vấn đề cài cán bộ vào tôn giáo là một chiến lược quan trọng hàng đầu, và vì vậy chúng đã cài đặt được rất nhiều cán bộ vào lãnh vực này. Đặc biệt là Phật giáo Ấn Quang tại Miền Trung. Trí Quang, Đôn Hậu, Chánh Trực là những cán bộ hoạt động nổi trong các phong trào quần chúng đấu tranh nổi dậy tại đô thị, tỷ dụ như cuộc đảo chánh lật đổ nền đệ I Cộng Hòa 1963, qua các cuộc biểu tình lên đường xuống đường, bạo động xảy ra triền miên từ sau 1963-1966 và đặc biệt qua cuộc làm loạn vào năm 1966 tại Miền Trung của Trí Quang và Đôn Hậu.

Tình báo Hà Nội cũng đã gài cán bộ hoạt động âm thầm, bí mật chìm sâu trong Phật giáo Ân Quang tại Miền Trung, điển hình là Thích Thiện Siêu trụ trì chùa Từ Đàm. Thích thiện Siêu cùng Thích Trí Quang sau 1963 đã biến Chùa Từ Đàm thành trung tâm quyền lực nhất nước, chùa Từ Đàm là Dinh Độc Lập thứ 2 tại miền Nam Việt Nam từ sau 1963-1966.

Thích Thiên Siêu trụ trì chùa này thực sự là một cán bộ tình báo của cục tình báo cộng sản chứ không phải tu hành gì cả, vì lý do đó mà chùa Từ Đàm đã được tổ chức và chuẩn bị để trở thành một trung tâm thẩm vấn giam giữ tội nhân Mậu Thân. Thích Thiện Siêu chịu trách nhiệm tổ chức trung tâm thẩm vấn này. Hoạt động trong tổ tình báo này gồm có:

- Đoàn Công Lập, Trưởng Ty Cảnh Sát Quốc Gia Thừa Thiên Huế (1966-1968).
- Bác Sĩ Hoàng Bá, có phòng mạch nằm trên đường Phan Chu Trinh gần cầu Nam Giao.
- Thích Thiện Siêu Trụ trì chùa Từ Đàm.

Trạm giao liên của bọn chúng là phòng mạch của Bác sĩ Hoàng Bá.

Ngoài ra Thích Thiện Siêu và Đoàn Công Lập còn dùng chùa Trúc Lâm làm nơi trao đổi tin tức, gặp mặt. Vị trí chùa Trúc Lâm nằm quá Cầu Lim về phía bên tay trái từ đàn Nam Giao đi lên, cạnh ngôi mộ lớn của ông Hồ Đắc Trung.

Tôi phải nói rõ từng chi tiết như vậy để trả lời câu hỏi tại sao cộng quân lại dùng chùa Từ Đàm làm nơi giam giữ thẩm vấn tù nhân mà không là nơi khác?

Thứ nhất vì Thích Thiện Siêu là một cán bộ tình báo Việt Cộng nên Từ Đàm từ lâu đã là cơ sở căn cứ lõm của tên này, thứ hai chùa chiền biểu tượng của tôn giáo mà chính phủ cũng như quân lực VNCH không bao giờ muốn tấn công oanh tạc, rất an toàn, do đó chùa Từ Đàm là nơi lý tưởng để đặt làm trung tâm thẩm vấn.

Tôi cũng đưa ra đây lý lịch của Thích Thiện Siêu, để quý độc giả có thể kết luận Thích Thiện Siêu là ai?

 

LÝ LỊCH THÍCH THIỆN SIÊU
TRỤ TRÌ CHÙA TỪ ĐÀM

 

Họ và tên Võ Trọng Thường
Pháp danh Tâm Phật. Hiệu là Thiện Siêu.
Sinh ngày 15 tháng 7 năm Tân Dậu (1921)
Quê quán: làng Thần Phù, Huyện Hương Thủy Tỉnh Thừa Thiên.
Xuất gia năm 14 tuổi (1935) tại chùa Quan Thánh tức chùa Ông, sau lưng chùa Diệu Đế.

- 1947 được cử trụ trì chùa Từ Đàm.
- 1963 Hội Trưởng Tỉnh Hội Phật Giao Thừa Thiên.
- 1963 tham gia tích cực vào các cuộc bạo loạn lật đổ đệ I Cộng Hòa.

Theo hồ sơ lưu trữ tại Trung Tâm Văn Khố Bộ Chỉ Huy Cảnh Sát Quốc Gia Thừa Thiên-Huế thì đương sự Võ Trọng Thường tức Thích Thiện Siêu là đảng viên cộng sản, bị Ty Công An Thừa Thiên (VNCH) bắt giam vào ngày 20 tháng 8 năm 1963, can tội phá rối trị an.

- 1974 Tổng Thư Ký Viện Hóa Đạo PGVNTN.

- 1981 tham gia phái đoàn Phật giáo quốc doanh tham dự hội nghị tôn giáo vì Hòa Bình tại Moscow, Nga Sô.

- Tháng 9 năm 1985 Trưởng Phái Đoàn Phật giáo Việt Nam thăm viếng hai nước Nga và Mông Cổ.

- Bắt đầu từ tháng 4 năm 1987 được bầu vào Đại Biểu Quốc Hội nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam liên tiếp 3 khóa: khoá 8, khóa 9 và khóa 10.

- 1989 đại diện Phật giáo Việt Nam tham dự hội nghị Hòa Bình Á Châu tại Mông Cổ.

- 1994 trưởng phái đoàn Phật giáo Việt Nam thăm viếng Ấn Độ.

- 1995 với tư cách thành viên của Quốc Hội, tháp tùng cùng với tên Chủ Tịch Nông Đức Mạnh thăm viếng một số nước Đông Âu và Nghị Viện Âu Châu
.

- 1999 Trưởng Phái đoàn đại diện Giáo Hội Phật giáo Việt Nam sang thăm viếng Phật giáo Trung Cộng.

- Năm 2000 nhận lãnh Huân Chương Đậc Lập hạng nhì do nhà nước Cộng Hòa Xã Hội Chũ Nghĩa Việt Nam Trao tặng.

Năm 2001 được Ủy ban Tôn Giáo trong Mặt Trận Tổ Quốc của nhà nước CHXHCNVN tuyên dương công trạng.


Lý lịch của Võ Trọng Thường tức Thích Thiện Siêu đã quá rõ, xin một lời công đạo cho ngành tình báo của chính phủ VNCH mà trong đó anh em lực lượng CSQG Thừa Thiên-Huế đã tận lực trong công tác điều tra bám tận gốc bọn cộng sản nằm vùng.

Võ Trọng Thường tức Thích Thiện Siêu trụ trì chùa Từ Đàm hắn là ai? Có phải hắn là một tên cộng sản nằm vùng trong Phật giáo hay không? Đúng 100% hắn là một trong những tên cán bộ Tình Báo cộng sản nằm vùng trong Phật giáo Ấn Quang miền Vạn Hạnh (Miền Trung) như Trí Quang, Đôn Hậu, Chánh Trực, Như Ý... Và cũng xin hỏi, trong suốt thời gian cộng quân chiếm Huế tàn sát dân lành vô tội, ai có thể trả lời cho tôi một cách vô tư, công bằng rằng, có bao nhiêu Thượng Tọa, Đại Đức, của Phật giáo Ấn Quang làm loạn năm 1966 bị Việt Cộng hạ sát trong Mậu Thân 1968?

Cá nhân tôi với tư cách là Phó Trưởng Ty Cảnh sát Đặc Biệt trong thời gian Mậu Thân 1968, và sau đó là Chỉ Huy Trưởng Cảnh Sát Quốc Gia Tỉnh Thừa Thiên và Thị xã Huế xin trả lời một cách chắc chắn rằng: Không một Thượng Tọa, Đại Đức nào bị Việt Công hạ sát hoặc bắt đi, không một ngôi chùa nào bị Việt Cộng bắn phá trong thời gian cộng quân chiếm Huế vào Tết Mậu Thân 1968. Câu hỏi và trả lời tại sao như thế xin nhường lại cho quý vị và lịch sử.

Sau đây chúng tôi xin trích đăng một đoạn trong bài viết của Linh mục Phê-rô Phan Văn Lợi và Phê-rô Nguyễn Hữu Giải, một chứng nhân của Mậu Thân, viết theo lời kể của một chứng nhân khác của Mậu Thân về chùa Từ Đàm:

Thế là mọi tráng niên và thanh niên từ 15 đến 50 tuổi đều bị lôi đứng dậy và dẫn đi, dù là học sinh, thường dân hay công chức.... Tiếng kêu khóc thảm thiết vang động cả nhà thờ. Con khóc cha, vợ khóc chồng, cha mẹ khóc con. Ai nấy linh cảm chuyến đi 'học tập' này sẽ chẳng có ngày đoàn tụ. Sau này tôi biết thêm là linh mục quản xứ chúng tôi, cha Nguyễn Phùng Tuệ, nhờ ngồi giữa đám nữ tu dòng Mến Thánh Giá với lúp đội trên đầu, nên may mắn chẳng bị Việt Cộng nhận diện. Bằng không thì bây giờ ngài đã xanh cỏ. Việt Cộng ở lại trong nhà thờ suốt đêm hôm đó vài tên, còn những tên khác đi lùng khắp giáo xứ để bắt thêm một số người nữa, cũng từ 15 đến 50, thành thử có nhiều thanh niên hay học sinh gặp nạn.

Sáng hôm sau, lúc 8 giờ, bỗng có hai tên Việt Cộng theo thang sắt trèo lên trần và khám phá ra tôi. Một đứa tên Hồ Sự, du kích gốc Long Hồ, vừa được đồng bọn giải thoát khỏi nhà lao Thừa Phủ (là nhà lao nằm giữa lòng thành phố Huế, ngay sau lưng tòa hành chánh tỉnh). Tên kia là Đỗ Vinh, sinh viên, người gốc làng Sịa. Sau khi lôi tôi xuống, chúng hỏi tôi tại sao lại trèo lên núp (nấp). Tôi trả lời là vì nghe con nít khóc ồn ào, chịu không nổi, phải trèo lên đấy để nghỉ.

Chúng dẫn một mình tôi -lúc ấy chẳng còn hồn vía gì nữa- đi xuống dốc nhà thờ, nhưng đến chắn xe lửa thì quẹo trái, men theo đường xe lửa tới chắn Bến Ngự. Từ đây, chúng dẫn tôi lên chùa Từ Đàm là nơi Việt Cộng đang đặt bản doanh. Chúng rất đông đảo, vừa sắc phục vừa thường phục, vừa bộ đội miền Bắc vừa du kích nằm vùng miền Nam. Vào trong khuôn viên chùa, tôi nhận thấy ngôi nhà tăng 5 gian thì 4 gian đã đầy người bị bắt, đa số là giáo dân giáo xứ Phủ Cam của tôi. Gian thứ 5 (đối diện với cây bồ đề) còn khá trống, để nhốt những người bị bắt trong ngày mồng 7 Tết. Tôi cũng trông thấy ông Tin, chủ hiệu ảnh Mỹ Vân, người rất đẹp trai, đang bị trói nơi cây mít. Một tên VC nói:

Thằng này trắng trẻo chắc là cảnh sát, bắn quách nó đi cho rồi!

May thay, có một người trong nhóm bị bắt lên tiếng:

Tội quá mấy anh ơi, đây là ông Tin chụp ảnh tại Bến Ngự, cảnh sát mô mà cảnh sát!

Nhờ thế ông Tin thoát nạn, được cho về. Tiếp đó, Việt Cộng đưa cho tôi một tờ giấy để làm bản lý lịch. Chúng bảo phải khai rõ tên cha, tên mẹ, tên mình, nguyên quán ở đâu, cha mẹ làm chi, bản thân bây giờ làm chi. Khai rõ ràng chính xác, Cách mạng sẽ khoan hồng. Khai tơ lơ mơ, khai dối láo là bắn ngay tại chỗ. Lúc ấy không hiểu sao Chúa cho tôi đủ sự thông minh và điềm tĩnh nên đã khai hoàn toàn giả, giả từ tên cha mẹ đến tên mình, và giả mọi chi tiết khác, như nghề của cha là kéo xe ba gác, nghề của mẹ bán rau hành ở chợ Xép, bản thân thì đang học trường Kỹ Thuật!?!

May mà bọn Việt Cộng chẳng kiểm tra chéo bằng cách hỏi những người cùng giáo xứ bị bắt đêm hôm trước. Bằng không thì tôi cũng rồi đời tại chỗ!

Chúng tôi ngồi tại chùa Từ Đàm suốt cả ngày mồng 7 Tết, không được cho ăn gì cả. Lâu lâu tôi lại thấy Việt Cộng dẫn về thêm một số tù nhân, trong đó tôi nhớ có cậu Long, 16 tuổi, học sinh, con ông Nguyện ở xóm Đường Đá giáo xứ Phủ Cam. Thỉnh thoảng chúng lại trói ai đó vào gốc cây bồ đề, bắn chết rồi chôn ngay trong sân chùa. Sau này người ta đếm được có 20 xác, trong đó có anh Hoàng Sự, vốn là cảnh sát gác lao Thừa Phủ, bị đám Việt Cộng khi được thoát tù đã bắt đem theo lên đây. Việt Cộng cũng cho một vài kẻ về nhắn thân nhân bới cơm nước lên cho người nhà, nhưng với điều kiện: nhắn xong phải đến lại trong ngày, bằng không bạn bè sẽ bị chết thế. Thế là một số anh em Phủ Cam lên tiếng xin thả ông Hồ (khá lớn tuổi, làm nghề hớt tóc, nhà ở gần cabin điện đường Hàm Nghi) để ông về lo chuyện tiếp tế thực phẩm. Tay Việt Cộng liền hỏi: “Ai tên Hồ?” thì có một cậu thanh niên nào đó nhảy ra nói: “Hồ đây! Hồ đây!” Thế là nó được thả về và rồi trốn luôn, thoát chết. Một vài bạn trẻ cùng tuổi với tôi cũng được cho về nhắn chuyện bới xách rồi quyết không lui, nhờ vậy thoát khỏi cơn thảm tử. Còn ai vì hãi sợ hay thương bạn mà lên lại Từ Đàm thì cuối cùng bị mất mạng như tôi sẽ kể. Các “sứ giả” về thông báo với bà con là ai có thân nhân “đi học tập” hãy bới lương thực lên chùa Từ Đàm. Vậy là vài hôm sau, người ta ùn ùn gánh gồng lên đó gạo cơm, cá thịt, muối mắm, bánh trái ê hề (Tết mà!)... Họ chẳng thấy thân nhân đâu mà chỉ gặp mấy tên cán bộ Việt Cộng bảo họ hãy an tâm trở về nhưng để đồ ăn lại. Nhờ mưu mô thâm độc này mà Việt Cộng tạo được một kho lương thực khổng lồ để ăn mà đi giết người tiếp!

Lân la dò hỏi và nhìn quanh, tôi thấy trong số thanh niên Phủ Cam bị bắt có rất nhiều người bạn của tôi: anh Trị tây lai con ông Ngọc đàn ở nhà thờ, con trai ông Hoàng lương y thuốc Bắc ở chợ Xép, hai con trai ông Thắng nấu rượu, hai con trai ông Vang thổi kèn, anh Thịnh con ông Năm, hai anh em Bình và Minh con ông Thục mà một là bạn học với Cha Phan Văn Lợi... Tôi cũng nghe nói có hai thầy đại chủng viện mà sau này tôi mới biết là thầy Nguyễn Văn Thứ, nghĩa tử của Cha Nguyễn Kim Bính và bạn cùng lớp với Cha Nguyễn Hữu Giải, rồi thầy Phạm Văn Vụ, đồng nghĩa phụ với cha Lợi...

Khi trời bắt đầu sẫm tối, Việt Cộng bắt chúng tôi ra sân xếp hàng và một tên tuyên bố: Anh em yên tâm! Như đã nói, Cách mạng đưa anh em đi học tập 3 ngày cho thấm nhuần đường lối rồi sẽ về thôi! Bây giờ chúng ta lên đường!

Rồi chúng bắt đầu dùng dây điện thoại trói thúc ké từng người một chúng tôi, trói xong chúng xâu lại thành chùm bằng một sợi dây kẽm gai, 20 người làm một chùm. Tôi nhớ là đếm được trên 25 chùm, tức hơn 500 người.

Khi chúng tôi bị lôi ra đường (đường Phan Bội Châu hiện giờ), chừng 7g tối, tôi thấy có một đoàn cố vấn dân sự Hoa Kỳ khoảng 14 người cũng bị trói nhưng sau đó được dẫn đi theo ngã khác hẳn. Áp giải chúng tôi lúc này không phải là Việt Cộng nằm vùng, địa phương, nhưng là bộ đội miền Bắc, khoảng 30 tên. Bọn nằm vùng ở lại để đi bắt người tiếp.

Bỗng một kẻ mặc áo thầy chùa xuất hiện, đến cạnh chúng tôi mà nói: Mô Phật! Dân Phủ Cam bị bắt cũng nhiều đây! Chỉ thiếu Trọng Hê và Phú rỗ!

Trọng (con ông Hê) và Phú (mặt rỗ) là hai thanh niên công giáo, nhưng lại là “tay anh chị” khét tiếng cả thành phố. Về sau tôi được biết đa phần những thanh niên bị bắt đêm mồng 6 Tết tại nhà thờ Phủ Cam và sau đó bị giết chết đều là học sinh, sinh viên, thanh niên nhút nhát hiền lành. Còn hạng can đảm, có máu mạo hiểm hay hạng “du dãng, anh chị” đều đã đi theo binh lính, dân quân để chiến đấu tự vệ hoặc nhanh chân trốn chạy, không tới nhà thờ trú ẩn, nên đều thoát chết. Sự đời thật oái oăm
!”

Trên đây một đoạn trong bài viết về Mậu Thân của cha Phan Văn Lợi và Nguyễn Hữu Giải.

 

 

ChaNguyễn Hữu Giải và Cha Phan Văn Lợi

 

Tóm lại, cộng sản Hà Nội biết dân chúng và chính phủ Miền Nam trọng tín ngưỡng nên chúng đã lợi dụng yếu điểm này để cài điệp viên Việt Cộng vào các cơ sở tôn giáo tu hành và dễ dàng nhất là các chùa. Vì Phật giáo là tôn giáo lớn lại không có hệ thống đào tạo và kiểm soát chặt chẽ như vài tôn giáo khác, do đó những tên Việt Cộng như Thích Trí Quang, Thích Chánh Trực, Thích Thiện Siêu, Thích Như Ý, v.v chúng xâm nhập vào các chùa chiền như chốn không người. Chúng mượn chùa chiền để đánh lừa dân chúng quốc gia và như thế rất có sức mạnh để đối đầu với chính phủ VNCH. Nếu chính phủ bắt những tên cộng sản trá hình này, chúng liền tổ chức biểu tình chống đối đàn áp tôn giáo. Bổn cũ chúng soạn đã lại quá nhiều lần, nhưng tín đồ ngây thơ vẫn hoài ngây thơ. Chỉ khổ chính phủ đành phải bó tay. Chính những tên hoạt đầu giả dạng tu hành này chúng là những tên đã làm ô uế cửa Phật và ít nhiều đã góp phần vào việc dâng Miền Nam cho cộng sản.

 

 

Chùa Từ Đàm do tên cộng sản Võ Trọng Thường
tức Thích Thiện Siêu trụ trì, nơi đặt bản doanh để
giam giữ, tra tấn và khai thác tù nhân, một số nạn nhân
bị bắn và được chôn ngay trong sân chùa.

 

      

Bấm vào đây để in ra giấy (Print)

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Hình nền: Bộ Huy hiệu các Quân-Binh chủng QLVNCH trong phong cảnh Tết Nguyên Đán. Để xem được trang web này một cách hoàn hảo, máy của bạn cần được trang bị chương trình Microsoft Internet Explorer (MSIE) Ấn bản 9 hay cao hơn hoặc những chương trình Web Browsers làm việc được với HTML-5 hay cao hơn.

 

Nguồn: Internet E-mail by LT chuyển

 

Đăng ngày Thứ Bảy, January 9, 2016
Ban Kỹ Thuật Khóa 10A-72/SQTB/ĐĐ, ĐĐ11/TĐ1ND, QLVNCH

 

Địa chỉ liên lạc: P.O. BOX 5055. Springfield, VA 22150
Điện thoại: 703-238-0736
E-Mail: lienlaclhccshtd@lhccshtd.org
Trở lại đầu trang