Cờ Gia Nã Đại Cờ Úc Đại Lợi Cờ Pháp Cờ Anh Cờ Đức Cờ Nhật bản Chào Cờ Việt Nam Cộng Hoà Muôn Năm Cờ Thụy Điển Cờ Thụy Sỹ Cờ Ý Đại Lợi Cờ Vatican Cờ Hy Lạp Cờ Tân Tây Lan Cờ Ba Lan 

 

HUẾ - MẬU THÂN 68
46 NĂM TỘI ÁC DIỆT CHỦNG CỦA
BĂNG ĐẢNG HỒ CHÍ MINH

MỤC LỤC

-----oooooOOooooo-----

Lời giới thiệu (trang 1)
Bài 1. Huế - Địa ngục Trần gian có thật (trang 3)
Bài 2. Diễn tiến cuộc Thảm sát đồng bào vô tội tại Huế vào Tết Mậu thân 1968 (trang 19)
Bài 3. Thư gởi Thầy Hoàng Phủ Ngọc Tường & Thư gởi Tên Tội Phạm Diệt Chủng Hoàng Phủ Ngọc Tường (trang31)
Bài 4. Thiếu Tướng Nguyễn Ngọc Loan, Tư Lệnh CSQG/VNCH với Sài Gòn và Huế trong Mậu Thân 1968 (trang 43)

Bài 5. Lê văn Hảo, Thích đôn Hậu, Hoàng Phủ Ngọc Tường & Nguyễn đắc Xuân, 4 nhân vật chịu trách nhiệm trước lịch sử & Tòa án Quốc tế về Tội ác chiến tranh & Tội ác diệt chủng (trang 65)

Bài 6: Huế nợ ai! Và ai nợ Huế! (trang 91)
Bài 7: Ai nợ Huế! (trang 103)
Bài 8: Huế Đòi Nợ (trang 123)
Bài 9: Cộng sản nằm vùng Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn! (trang 139)



Phụ lục

    

Thông báo: Film Huế Thảm Sát Mậu Thân dài 52 phút do UBTTTADCSVN phát hành tháng 12, 2012, trong đó có vài đoạn do VN Film Club biên soạn (mà quý vị VN Film Club đã gởi cho UB chúng tôi và cho quyền UBTTTADCSVN tùy nghi xử dụng trước đây vào năm 2012) vừa được UB chúng tôi delete khỏi Youtube do quý vị VN Film Club đã gởi yêu cầu delete ngày 13/3/2014.
 
​Xin thông báo để Quý ban biên tập 25 websites có embed Film nói trên lưu ý để lấy link xuống vì link không còn xử dụng được. Chúng tôi rất lấy làm tiếc vì có sự việc như trên xảy ra.
 
Chúng tôi sẽ thực hiện một cuốn phim khác về Huế Thảm Sát Mậu Thân trong thời gian ngắn nhất để thay thế cuốn phim vừa bị delete theo yêu cầu của Việt Nam Film Club.

 

 
Tịnh Ngọc
 

Trưởng Khối Kỹ Thuật/UBTTTADCSVN​
http://ubtttadcsvn.blogspot.com/2014/03/thong-bao-vv-film-hue-tham-sat-mau-than.html
  

Xem Phim Thảm Sát Mậu thân 68
Những bài viết về Tết Mậu Thân 68

Bấm vào đây để in ra giấy (Print)

Lời giới thiệu
HUẾ - 46 NĂM TỘI ÁC DIỆT CHỦNG CỦA
BĂNG ĐẢNG HỒ CHÍ MINH
TỊNH NGỌC, KKT

Bảng hướng dẫn: Lời giới thiệu | Bài 1 | Bài 2 | Bài 3 | Bài 4 | Bài 5 | Bài 6 | Bài 7 | Bài 8 | Bài 9 | Phim TSMT-68 | Bài viết MT68 | Đầu trang

Kính gởi Quý đồng bào và Quý chiến hữu:

Cách đây đúng một năm, khi bọn CSVN tung ra bộ phim truyền hình dài 12 tập gọi là “tài liệu Mậu Thân 1968” với nội dung rằng bọn chúng không hề giết đồng bào Miền Nam và đồng bào Huế, thì ngay lúc đó cựu Chỉ Huy Trưởng CSQG Thừa Thiên Huế (giai đoạn từ 1966 đến 1974) là Thiếu tá Liên Thành đã gởi hai thư (certified mail qua đường bưu điện) yêu cầu đám chóp bu Cộng sản Hà Nội gồm có Nguyễn Phú Trọng, Tổng Bí Thư Đảng Cộng Sản Việt Nam, Nguyễn Tấn Dũng, Thủ Tướng Chính Phủ Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, Nguyễn Quốc Cường, Đại Sứ nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam tại Washington DC, Hoa Kỳ, và tay sai là đạo diễn Lê Phong Lan hãy ra mặt đối chất trực diện với Thiếu tá Liên Thành về vấn đề trách nhiệm tội ác diệt chủng của Hồ Chí Minh, đảng CSVN, và tay sai đối với hơn 6500 đồng bào Huế Tết Mậu Thân 1968. Bọn chúng đã không bao giờ hồi âm lại thư yêu cầu của tác nhân và chứng nhân sống là cựu Chỉ Huy Trưởng Cảnh Sát Quốc Gia Thừa Thiên Huế, Thiếu tá Liên Thành.

Nay, Tết Nguyên Đán lại sắp về, hàng ngàn gia đình đồng bào tại Huế lại chuẩn bị làm đám giỗ năm thứ 46 cho thân nhân ruột thịt của mình đã bị Cộng sản tàn sát bắt đầu từ Mùng Một Tết 1968. Nay, bọn bồi bút, đạo diễn tay sai Cộng sản lại bắt đầu tăng cường độ hoạt động trong việc bẻ cong lịch sử về Mậu Thân 1968. Hơn 6500 cái chết oan khiên tức tưởi (hầu hết bị chôn sống, bị đập đầu v.v. mà trong đó 1200 đến nay vẫn chưa tìm được xác) nhưng chưa một lần được trả lại công bằng và công lý nay lại phải hứng chịu thêm oan khiên từ những trò bóp méo lịch sử của đám tay sai này.

Oan khiên chất chồng oan khiên cho đến bao giờ mới nguôi? UBTTTADCSVN tin rằng những nỗi oan khiên này sẽ chỉ và sẽ phải chấm dứt khi nào băng đảng Hồ Chí Minh và tay sai bị lôi ra trước Tòa Án Quốc Tế để trả lời về tội ác chiến tranh vi phạm hiệp định ngừng bắn 3 ngày Tết do chính bọn chúng đề nghị, xâm lăng VNCH đúng Mùng Một Tết Mậu Thân 1968 và diệt chủng tại Huế.

Kính thưa Quý đồng bào và Quý chiến hữu,

Như chúng ta đã thấy, sự ngưng trệ và thiếu hụt tài chánh là lý do duy nhất mà UBTTTADCSVN chưa thể tiến hành nộp đơn để lôi bọn sát nhân đảng CSVN và tay sai ra trước tòa án quốc tế. Nhưng không vì vậy mà chúng tôi ngừng mọi nỗ lực tại đây. Đối đầu với hệ thống tuyên truyền xảo quyệt của đảng CSVN, cách duy nhất mà UBTTTADCSVN hiện có thể làm là sao cho vụ án diệt chủng Huế Mậu Thân 1968 của CSVN và tai say phải được nhắc đi nhắc lại mà không bị quên lãng. Anh chị em Khối Kỹ Thuật, UBTTTADCSVN, sẽ bắt đầu phổ biến đi phổ biến lại loạt tài liệu liên quan Huế Mậu Thân 1968 viết lại bằng những chứng cứ, máu, và nước mắt của tác giả cũng như các nhân chứng liên quan. Xin trân trọng phổ biến bài đầu tiên trong loạt bài liên quan nói trên, “Huế - Địa Ngục Trần Gian Có Thật” của tác giả Liên Thành.

Mong rằng loạt tài liệu mà Khối Kỹ Thuật phổ biến hôm nay và liên tục trong những ngày sắp tới sẽ an ủi phần nào cho những uất ức của gia đình nạn nhân tại Huế nói riêng và đồng bào miền Nam nói chung.


Trân trọng,
Tịnh Ngọc
Trưởng Khối Kỹ Thuật
UBTTTADCSVN

Bấm vào đây để in ra giấy (Print)

oOo

Bảng hướng dẫn: Lời giới thiệu | Bài 1 | Bài 2 | Bài 3 | Bài 4 | Bài 5 | Bài 6 | Bài 7 | Bài 8 | Bài 9 | Phim TSMT-68 | Bài viết MT68 | Đầu trang

 

 

 

 

 

Bài 1
HUẾ - ĐỊA NGỤC TRẦN GIAN CÓ THẬT
Liên Thành
(trích sách Huế Thảm Sát Mậu Thân 68 - Tác giả Liên Thành)

 

Bảng hướng dẫn: Lời giới thiệu | Bài 1 | Bài 2 | Bài 3 | Bài 4 | Bài 5 | Bài 6 | Bài 7 | Bài 8 | Bài 9 | Phim TSMT-68 | Bài viết MT68 | Đầu trang

Hai giờ 33 phút sáng ngày mùng hai Tết Mậu Thân 1968 là giờ khởi đầu của 624 giờ đau thương kinh hoàng của cuộc tàn sát của bầy ác quỷ, của lũ người man rợ từ rừng núi phía tây tràn vào Huế. Bọn quỷ khát máu này là ai?

Bọn chúng là quân “Giải Phóng”, là quân đội “Nhân Dân”, là Lực Lượng Liên Minh Dân Tộc Dân Chủ Hòa Bình, là những giáo sư, sinh viên, học sinh đã theo Thích Trí Quang, Thích Đôn Hậu, Thích Thiện Siêu, và Thích Chánh Trực trong cuộc phản loạn vào tháng 6/1966 tại Miền Trung.

Khi phong trào tranh đấu phản loạn bị chính phủ VNCH dẹp tan, bọn chúng đào thoát lên mật khu. Nay bọn chúng theo chân quân cướp man rợ trở lại Huế với gươm đao, búa liềm, với mã tấu, với AK, với B40 thẳng tay chém giết, chôn sống đồng bào, bắn sập thành phố, và bắn sập đền đài miếu vũ của tổ tiên.

Và Huế trong 624 giờ đồng hồ đã trải qua từng giây một, từng phút một, từng giờ một, từng ngày một, những tang tóc thê lương, những máu và nước mắt của hằng chục ngàn dân Huế nhỏ xuống trên mảnh đất thân yêu của quê hương.

Kêu trời không thấu, kêu đất không nghe, cầu khẩn thần linh phù trợ, thần linh ngoảnh mặt. Huế ôm nhau trong vòng tay run rẩy, dìu nhau chạy trốn Việt cộng, khập khễnh bước thấp bước cao với nỗi kinh hoàng tột độ.

Người Huế chết quá nhiều, chết tức tưởi, chết oan ức, chết không hiểu tại sao phải chết, tội tình chi mà phải chết. Huế mỗi thước đất là một thây người, là mỗi vũng máu tươi còn chưa kịp đổi màu. Người Huế chết từ trong nhà ra đến sân, sân trước đến sân sau, thây người nằm chết âm thầm lặng lẽ trên đường phố, nơi vỉa hè. Thây người sình thối trong lùm cây bụi cỏ. Thây người nằm co quắp trong đường hẻm, nơi bờ ao, nơi tường thành, thây người trong trường học, trong sân chùa. Một rừng xác chết, một bãi thây người. Người Huế chết nằm, chết đứng, chết ngộp thở vì bị chôn sống, chết vì bị cuốc xẻng đập vào đầu, 5327 người chết, 1200 bị bắt đi mất tích.

Hỡi trời hỡi đất, hỡi Chúa hỡi Phật, hỡi hồn thiêng sông núi, hỡi anh linh tiền nhân, quý vị ở đâu sao không ra tay cứu vớt dân Huế? Họ đã làm gì nên tội? Hay là Phật, Chúa, thần linh cũng phải đành bó tay trước loài quỷ Cộng sản để mặc bọn chúng thẳng tay say sưa chém giết đồng bào vô tội!

Năm giờ 30 sáng, trong ánh sáng lờ mờ của ngày mùng 2 Tết Mậu Thân 1968, cộng quân tràn ngập khắp mọi nơi trong thành phố và vùng ráp ranh các quận Hương Thủy, Hương Trà, Phú Vang và bọn chúng bắt đầu một cuộc tàn sát đồng bào Huế còn dã man hơn thời trung cổ.

Cuộc tàn sát dân chúng Huế được Việt cộng chia làm 2 giai đoạn.

Giai đoạn I:

Bắt và giết người theo danh sách trong hồ sơ đen mà cơ quan An Ninh Khu, Tỉnh, Thị Ủy Việt cộng đã thiết lập từ trước cuộc tấn công. Khi lực lượng quân sự tràn vào Huế thì ngay lập tức lực lượng Công An Khu Ủy của Tống Hoàng Nguyên, lực lượng Công An Thừa Thiên-Huế của tên Đại tá Nguyễn Đình Bảy tự Bảy Lanh, phối hợp chặt chẽ với các đội An Ninh Tự Vệ Khu Phố của Nguyễn Đắc Xuân truy lùng, bắt bớ, và hạ sát các mục tiêu ngay. Đó là thời điểm sau 2 giờ 33 phút sáng ngày Mùng 2 Tết, và kéo dài một ngày sau đó.

Giai Đoạn II:

Ngay trong ngày Mùng 2 Tết, vào buổi sáng sau cuộc tụ họp đồng bào tại 2 Quận I và II, chúng công bố thành lập Ủy Ban Nhân Dân Cách Mạng Quận I và II, cùng Ủy Ban Nhân Dân Cách Mạng Tỉnh Thừa Thiên-Huế, đồng thời cũng công bố thành phần tổ chức của Lực Lượng Liên Minh Dân Tộc Dân Chủ Hòa Bình. Những vụ bắn giết bắt bớ dân chúng trong giai đoạn này quy mô hơn, có tổ chức hơn, và quá sức tàn bạo.

Giai Đoạn I bắt đầu từ 2 giờ 33 phút sáng ngày mùng 2 Tết Mậu Thân 1968:

Trời chưa sáng hẳn, một số lớn các gia đình trong ba quận thị xã Quận I, II, và III, và ba quận giáp ranh Hương Trà, Phú Vang, và Hương Thủy đã bị đám Công An Thành Ủy, lực lượng An Ninh và Bảo Vệ Khu Phố của Nguyễn Đắc Xuân, đám chỉ điểm, đám cơ sở nội thành xông vào từng nhà lục soát bắt người. Bọn chúng đã có sẵn hồ sơ lý lịch, tên tuổi từng người mà bọn chúng gọi là Công An Cảnh Sát Ngụy, binh lính Ngụy, công chức chính quyền Ngụy, nhân viên tình báo “Xê-I-A”. Không cần biết đúng sai, bọn chúng thỏa thích nổ súng vào những người trong trong bảng phong thần này.

Bảy giờ sáng ngày Mùng 2 Tết Mậu Thân 1968, dân chúng Huế bắt đầu chạy giặc. Họ bỏ lại tất cả để chạy trốn Việt cộng. Nhà cửa tài sản bỏ lại đã đành, thức ăn thức uống, áo quần cũng không kịp mang theo, miễn sao tránh xa bọn Cộng sản tìm về vùng Quốc gia đang kiểm soát. Già trẻ, lớn bé, cha mẹ, con cái, dắt dìu nhau tìm đường chạy trốn Việt cộng. Nhưng khốn thay, họ biết chạy đi đâu vì khắp nơi đều là Việt cộng. Bọn Việt cộng xả súng bắn vào đoàn người đang hốt hoảng và hỗn loạn chạy tìm nơi bình yên trú ẩn. Thây người ngã gục, máu đào tuôn rơi nhuộm đỏ màu cờ đỏ sao vàng của Hồ Chí Minh, của đảng Cộng sản Việt Nam, và cờ 3 mảnh của lực lượng Liên Minh Dân Tộc Dân Chủ Hòa Bình.

- Nhân viên cao cấp của chính quyền thị xã Huế hy sinh đầu tiên là ông Trần Đình Thương, Phó Thị Trưởng thị xã Huế. Vì không nắm vững tình hình nên trời chưa sáng hẳn ông đã phóng xe khỏi nhà với ý định là đến nhiệm sở Tòa Hành Chánh Tỉnh và Thị Xã xem tình hình thế nào, ông đã bị cộng quân bắn hạ ngay trước cổng nhà, đối diện với công viên Bến Ngự, ngay ngã tư Nguyễn Hoàng - Nguyễn Huệ thuộc quận III thị xã Huế.

Thật tội nghiệp, mãi hơn 12 ngày sau, khi khu vực này được giải tỏa, thân nhân mới lấy được xác đem về mai táng. Lúc đó thi thể ông đã sình thối.

- Tại vùng Bến Ngự, Nam Giao, Từ Đàm, dân chúng kéo nhau chạy trốn lên vùng nhà máy nước Vạn Niên, gần chùa Từ Hiếu, cạnh đồi thông Quảng Tế, hoặc cố gắng băng qua cầu Bến Ngự chạy về hướng trường Quốc Học hoặc bệnh viện Trung Ương Huế. Tất cả hai hướng đều bị cộng quân hoặc bằng súng nhỏ, hoặc bằng súng cối pháo kích và bắn bừa bãi vào đoàn người chạy loạn để ngăn chận không cho dân chúng trốn thoát khỏi vùng bọn chúng đang kiểm soát. Tất cả đều phải quay trở lại nhà để bọn chúng có thể sử dụng làm con tin, làm khiên đỡ đạn, và làm chùn bước quân đội VNCH muốn tấn công chúng.

Chị ruột tôi là Công Tằng Tôn Nữ Thạch Hà, nhà ở cạnh chùa Từ Đàm theo đoàn người tỵ nạn bồng con chạy từ vùng chùa Từ Đàm lên nhà máy nước Vạn Niên cạnh đồi Quảng Tế, nhưng đã bị cộng quân pháo kích chận đường, nên cả đoàn người phải chạy trở lại. Khi chị về đến nhà thì mới phát giác bé Ni con gái của chị đã chết trên tay từ hồi nào vì bị mảnh đạn pháo kích của cộng quân.

Thương cho chị tôi đau đớn vô vàn và thương cho cháu bé mới hai tuổi đầu. Tôi cũng tự hỏi, có biết bao nhiêu sinh mạng bé bỏng như bé Ni đã bị giết hại trong Tết Mậu Thân này, và có bao nhiêu người mẹ ôm con chạy giặc mà không biết con chết trên tay tự bao giờ? Khi tay gõ bàn phiếm viết những dòng chữ này thì ký ức tôi quặn thắt, nhớ lại hình ảnh chị tôi và bé Ni, cùng với tiếng hát nức nở của Hoàng Oanh:

Bà Mẹ đau thương như muối đổ trong lòng.
Chạy giặc ôm con qua những cảnh hờn vong.
Và người con yêu đã chết trên tay lúc nào,
xót xa vạt áo trắng hôm nay hoen máu đào.
Ai? Ai đã giết con tôi
?...”

(Chuyện một đêm)

Hai người anh chồng của chị Thạch Hà cũng bị Việt cộng bắt tại nhà và đem đi mất biệt. Sau này tìm ra xác của họ, cũng chết trong tình trạng bị chôn sống.

Dân chúng vùng Nam Giao, Từ Đàm, dốc Bến Ngự, bị thương khá nhiều và nhiều gia đình bắt đầu bị đói vì đã hết gạo. Cha tôi, Hoàng Thân Tráng Cử, cùng với một người bạn chí thân là Bác Võ Thành Minh, hai ông là những trưởng Hướng Đạo thâm niên nhất cùng một thời với Tạ Quang Bửu, Hoàng Đạo Thúy, trưởng Trần Điền của phong trào Hướng Đạo Việt Nam, chạy chỗ này sang chỗ kia, băng bó cứu giúp cho những đồng bào bị thương. Phụ thân tôi và bác Võ Hoàng Minh vào những nhà vắng chủ tìm gạo nấu cơm tiếp tế cho nhiều gia đình có trẻ thơ đang bị đói, và cuối cùng họ thành lập một đoàn cứu thương tải thương những người bị thương quá nặng để đưa về bệnh viện Trung Ương Huế.

Sau này cha tôi kể lại với chúng tôi:

Có 4 người bị thương rất nặng cần phải vào bệnh viện mới mong cứu sống. Cha tôi và bác Võ Thành Minh cuốn 4 cái mền làm võng cùng một số thiếu nhi khiêng 4 người này định đưa về bệnh viện Trung Ương Huế. Đi đầu là bác Võ Thành Minh với miếng vải trắng cột vào một khúc tre làm biểu tượng cho cờ cứu thương, đi giữa hàng cán bệnh nhân là cha tôi. Đoàn mới ngang dốc Bến Ngự thì bị một toán Việt cộng chận đoàn cứu thương lại. Một tên Việt cộng hỏi bác Minh và cha tôi:

- Chúng mày treo cờ trắng đi đầu hàng địch hả?
- Chúng tôi đưa 4 người bị thương quá nặng vào bệnh viện.

Hai tên khác dí mũi súng AK vào cha tôi và bác Minh:

- Đi lui! Không thì chúng tao bắn tan xác bây giờ.

Cả đoàn đành đi lui. Chỉ mấy giờ sau 4 nạn nhân tắt thở vì ra máu quá nhiều.

Cha tôi và bác Võ Thành Minh trở lại nhà Cụ Phan Bội Châu gần chùa Từ Đàm. Khoảng nửa giờ sau, một toán Việt cộng đến nhà Cụ Phan để bắt cha tôi và bác Minh. Cha tôi may mắn chạy thoát bằng cửa sau sang nhà hàng xóm lẩn trốn. Bác Võ Thành Minh bị bọn chúng bắt dẫn đi và sau đó giết bác. Sau này thân nhân của bác Võ Thành Minh tìm được xác của bác trong một hố chôn tập thể. Tưởng cũng cần nhắc lại, năm 1954 hiệp định Geveva giữa Việt cộng và Pháp chia đôi đất nước lấy vĩ tuyến 17 làm lằn ranh Quốc-Cộng, thì bác Võ Thành Minh chính là người đã dựng lều bên bờ hồ Geneva thổi sáo cầu nguyện cho hòa bình Việt Nam. Bác Võ Thành Minh, suốt đời giữ lời hứa của một Hướng Đạo sinh là:

Trung thành với Tổ quốc - Giúp ích mọi người - Tuân theo luật Hướng Đạo.

Bác có tội tình chi mà bọn chúng đem chôn sống bác? Chẳng lẽ vì đi cứu người dùng mảnh vải trắng làm cờ mà bị giết? Trong lửa đạn tìm đâu ra sơn đỏ để làm thành cờ hồng thập tự, đành dùng vải trắng làm cờ cứu thương cho hai bên đừng bắn vào đoàn tải thương, vậy mà bọn ngu dốt man rợ kia cho là kéo nhau đi đầu hàng địch, để rồi cuối cùng thì những người bị thương phải chết vì không được cứu chữa, còn người tải thương thì bị bắt và bị chôn sống! Lịch sử nào tha được tội ác của bọn Cộng sản tàn bạo này?

Cũng tại ngôi nhà của Cụ Phan Bội Châu, sau khi bắt bác Võ Thành Minh, bọn chúng lại bắt hai người cháu nội của Cụ Phan Bội Châu đem đi chôn sống, đó là anh Phan Thiện Cầu, Đại úy Quân Cảnh Tư Pháp VNCH, và anh Phan Thiện Tường, Giáo Sư. Trong khi đó thì anh ruột của hai anh Phan Thiện Cầu và Phan Thiện Tường lại là Đại tá Việt cộng “Quân Đội Nhân Dân” Phan Thiện Cơ (!) và thời điểm đó Phan Thiện Cơ là Tư Lệnh chiến trường Tây Nguyên! Đau lòng thay cho cụ Phan Bội Châu.

Cụ Phan Bội Châu và gia đình tôi có quan hệ rất mật thiết. Cụ là một nhà tiền bối cách mạng phụ tá cho ông nội tôi là Kỳ Ngoại Hầu Cường Để trong phong trào Đông Du và trong Việt Nam Phục Quốc Đồng Minh Hội. Cụ và cha tôi, Hoàng Thân Tráng Cử, có một mối giao tình khắng khít vì công việc cách mạng chống Pháp chống cả Việt Minh liên quan đến ông nội tôi Kỳ Ngoại Hầu Cường Để.

Không hiểu Đại tá Phan Thiện Cơ nghĩ gì khi hay tin hai người em của mình bị chính các đồng chí của mình đem đi chôn sống? Hay ông Đại tá Việt cộng này cũng học tập gương của đồng chí kính yêu Trường Chinh đem cả cha mẹ mình ra đấu tố và giết hại để làm gương cho các anh hùng nhân dân noi theo? Phải chăng đó chính là chân lý là nguyên tắc Đấu Tranh Giai Cấp của Bác và Đảng?

Năm 1973, Đại tá Phan Thiện Cơ là một thành viên cao cấp trong phái đoàn quân đội Bắc Việt tại Ủy Ban Kiểm Soát Đình Chiến 4 phe (Việt Nam Cộng Hòa, Mỹ, Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, và Cộng sản Hà Nội) đóng tại phi trường Tân Sơn Nhất Sài Gòn.

Tại vùng Nam Giao, Cộng quân bắt sinh viên Lê Hữu Bôi tại chùa Tường Vân, nơi tu đạo của Ngài Đệ I Tăng Thống PGVNTN, Đại Lão Hòa Thượng Thích Tịnh Khiết, anh ruột của bà nội tôi. Lê Hữu Bôi, sinh viên trường Quốc Gia Hành Chánh, Chủ Tịch Tổng Hội Sinh Viên Sài Gòn bị bắt và sau đó đem đi chôn sống, vì nghi là “Xê-I-A”. Sinh viên Lê Hữu Bôi gọi ngài Đệ I Tăng Thống Thích Tịnh Khiết là cậu ruột, gọi mẹ tôi là dì. Tôi gọi sinh viên Lê Hữu Bôi là bác.

Sau này chúng tôi tìm ra xác sinh viên Lê Hữu Bôi. Tội nghiệp, ông ra Huế vừa nghỉ Tết và cũng để đi hỏi vợ thì bị Việt cộng bắt đi chôn sống.

Trong suốt thời gian chiếm Huế, Bộ Chỉ Huy An Ninh của cơ quan Thành Ủy Huế đặt tại Chùa Từ Đàm. Do đó, tất cả các thành phần Dân, Quân, Cán, Chính, và Cảnh Sát Quốc Gia mà bọn an ninh Thành Ủy cũng như lực lượng An Ninh và Bảo Vệ Khu Phố của Nguyễn Đắc Xuân bắt được tại 3 quận thị xã I, II, III và các quận ven thành phố Huế đều bị giải về và giam giữ tại Chùa Từ Đàm. Tại đây họ bị thẩm vấn, đánh đập hành hạ thân xác, một số bị xử bắn ngay tại chùa, số còn lại lần lượt bị giải đi chôn sống tại vùng gần chùa Tường Vân, Vạn Niên, vùng lăng vua Tự Đức, Đồng Khánh. Bốn trăm tám chục xác chết được tìm thấy ở Khe Đá Mài thuộc vùng núi Nam Hòa đó là những thanh niên trong Lực Lượng Tự Vệ của làng Phủ Cam.

Tại Nam Giao, Từ Đàm, Bến Ngự, lực lượng an ninh của Tống Hoàng Nguyên và Nguyễn Đình Bảy, và đám cơ sở nằm vùng, đội An Ninh Khu Phố của Nguyễn Đắc Xuân, lục xét từng nhà một, bắt và dẫn đi rất nhiều người. Dân chúng sau này làm chứng khai đã nhận diện rõ những tên nằm vùng thật nguy hiểm và sắt máu như tên Nguyễn Tú, một võ sư môn phái Thiếu Lâm, nhà ở gần lăng Vua Tự Đức gần đồi Vọng Cảnh. Nguyễn Tú là cơ sở quan trọng của cơ quan an ninh Tỉnh Ủy Thừa Thiên. Tên thứ hai là Cửu Diên nhà ở vùng Cầu Lim, gần Đàn Nam Giao. Ngoài ra còn có con trai của Cửu Diên, nguyên là Thiếu úy Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đào ngũ trước Tết Mậu Thân, nay y cũng ở trong toán an ninh của Việt cộng đang truy bắt Dân Quân Cán Chính Việt Nam Cộng Hòa trong vùng Nam Giao, Từ Đàm, Bến Ngự. Trong số những người bị hai tên Tú và Cửu Diên bắt đi tại vùng Từ Đàm có ông Tôn Thất Hậu, chủ tiệm ảnh Tự Do, và ông Nguyễn Văn Nhẫn, chủ tiệm hớt tóc ngay cạnh chùa Từ Đàm. Hai ông Tôn Thất Hậu và Nguyễn Văn Nhẫn là bạn chí thân của tên Tú và Cửu Diên vậy mà bọn chúng cũng không tha. Thế mới biết đã là Việt cộng thì không bao giờ kể gì đến tình nghĩa. Sau này tìm được xác của hai ông Tôn Thất Hậu và Nguyễn Văn Nhẫn ở vùng lăng vua Đồng Khánh. Họ chết trong tình trạng bị chôn sống vì không có vết tích bị trúng đạn.

Tại Làng Phủ Cam: Rạng sáng ngày mùng 2 Tết, Phủ Cam đã bị lực lượng cộng quân bao vây, nhưng bọn chúng vẫn chưa tấn công vì e ngại lực lượng phòng thủ của giáo xứ. Giáo dân làng Phủ Cam có truyền thống lâu đời từ thời kỳ quân đội viễn chinh Pháp là họ tự tổ chức đội ngũ, xin phương tiện vũ khí của chính phủ, tự đứng ra canh gác gìn giữ an ninh ngày đêm cho bà con thân thuộc trong làng. Lần này Mậu Thân 1968, Cộng quân bao vây tứ bề, thời gian vây hãm quá lâu, đã nhiều ngày qua mà chẳng thấy có một hy vọng nào sẽ có viện binh tiếp cứu. Dân chúng và ngay cả những thanh niên trẻ trong đoàn tự vệ bắt đầu có dấu hiệu nản lòng. Đại đa số dân chúng trong làng đêm đêm kéo nhau vào trú ngụ trong nhà thờ Phủ Cam, trước là để tránh đạn pháo của cộng quân, sau là nhờ sự che chở bảo vệ của các Cha trong giáo xứ.

Tôi nhớ không lầm vào khoảng 1 giờ khuya ngày 18/2 âm lịch, tại Bộ Chỉ Huy, tôi nhận được báo cáo cuối cùng của toán Cảnh Sát Đặc Biệt phụ trách xã Thủy Phước đang bí mật hoạt động trong làng Phủ Cam: “Cộng quân đã tấn công vào làng, chiếm nhà thờ Phủ Cam và bắt đi rất nhiều đồng bào đang trú ngụ trong nhà thờ Phủ Cam.” Những ngày sau chúng tôi nhận được báo cáo rõ ràng hơn là khoảng trên 300 thanh niên trong làng bị bắt đi.

Kết quả tàn khốc về số phận của hơn 300 thanh niên bị bắt trong nhà thờ Phủ Cam là: Sau khi bị bắt, họ được dẫn lên giam tại Chùa Từ Đàm, nơi đặt bộ Chỉ Huy An Ninh của Thành Ủy Huế. Ngay tại đây đã có một số bị xử bắn ngay tại sân chùa. Sau đó đại đa số còn lại bị trói tay và dẫn lên vùng núi phía tây, và cuối cùng thân xác của trên 428 người được phát hiện nằm dọc bờ khe Đá Mài, phía tây quận lỵ Nam Hòa. Đó là số phận của những người bị bắt tại nhà thờ Phủ Cam.

Tại Dòng Chúa Cứu Thế, nằm gần khu An Cựu trên đường Nguyễn Huệ, rạng sáng ngày mùng 2 Tết cho đến ngày mùng 3, lúc đó có khoảng trên năm trăm đồng bào trong vùng đến trú ẩn ngay trong nhà thờ, nhưng con số này mỗi ngày mỗi tăng và những ngày sau số lượng đồng bào vào ẩn trốn trong nhà thờ của Dòng Chúa Cứu Thế đã lên đến gần ba ngàn người. Đây là thời điểm mà bọn Công An Khu, Thành ủy Huế và đám nằm vùng, tổ chức An Ninh và Bảo Vệ Khu Phố của Nguyễn Đắc Xuân ra tay, dưới sự chỉ huy của Nguyễn Đình Bảy tự Bảy Lanh, Đại tá Trưởng Ty Công An Thừa Thiên-Huế. Phụ tá cho hắn là cha con ông Thiên Tường, chủ tiệm thuốc Bắc ở gần chợ An Cựu. Cũng cần nói thêm Nguyễn Đình Bảy là con nuôi của Thiên Tường từ nhỏ. Ngoài đám nằm vùng của cha con Thiên Tường còn có tổ chức An Ninh và Bảo Vệ Khu Phố của Nguyễn Đắc Xuân cùng đám chỉ điểm. Sau khi bọn chúng bao vây chặt chẽ khu nhà thờ Phủ Cam, lực lượng an ninh của bọn chúng tràn vào, tập họp mọi người, phân loại và thanh lọc.

Hơn ba trăm người bị bắt sau đó, bị trói tay dẫn đi về hướng Lăng Xá Bầu, Lăng Xá Cồn thuộc quận Hương Thủy, trong số này có thượng nghị sĩ Trần Điền.

Sau này, trong số xác của hơn 300 người vô phúc này có xác của Thượng Nghị Sĩ Trần Điền. Tất cả được tìm thấy rải rác trong hai vùng Lăng Xá Bầu và Lăng Xá Cồn thuộc quận Hương Thủy. Họ chết trong tình trang bị trói tay vào nhau, bằng dây kẽm gai, hoặc dây điện chết chùm trong những hố chôn tập thể, một số chết vì bị vật cứng đập vào đầu, đa số chết vì bị chôn sống.

Theo như lời tường thuật của thanh niên tên Phan Văn Tuấn, kẻ bị Việt cộng bắt đi làm nhân công đào hố chôn người, thì khi anh ta và những người khác đào hố xong, anh ta tận mắt chứng kiến bọn Việt cộng dắt những tù nhân đến, những kẻ bất hạnh này bị cột từng chùm một, từ hai mươi đến ba mươi người. Tất cả đều đứng ngay miệng hầm dài nhưng không sâu, bọn chúng chỉ bắn một hai người đứng đầu hàng, những người chết ngã ngục xuống hầm kéo những người còn sống vì mất thăng bằng phải rớt xuống theo. Bọn Việt cộng ra lệnh cho anh Tuấn và những “nhân công” khác lấp đất chôn sống những người còn sống, những ai vùng vẫy thì bọn chúng dùng cuốc, xẻng đập vào đầu. (Anh Tuấn là người đã may mắn chạy thoát trước khi bị bọn Việt cộng giết).

Tưởng cũng cần nói thêm: Thượng nghị sĩ Trần Điền là một giáo sư, một trưởng Hướng Đạo ngay từ hồi phong trào Hướng Đạo Việt Nam mới thành lập, ông còn là cựu Tỉnh Trưởng tỉnh Quảng Trị, và đương thời là một thượng nghị sĩ của Quốc Hội Việt Nam Cộng Hòa.

Ngoài ra, trường trung học Thiên Hựu ngay ngã tư Nguyễn Huệ-Lý Thường Kiệt, là nơi đặt bộ chỉ huy nhẹ của Đại tá VC Nguyễn Đình Bảy, trưởng Ty Công An Thừa Thiên-Huế. Có khoảng một đại đội cộng quân canh giữ nơi này. Đây là nơi giam giữ những tù nhân quan trọng mà Nguyễn Đình Bảy đã lập danh sách từ trước khi bọn chúng tấn công Huế. Theo anh Lê Đình Nguyên, một trung sĩ cảnh sát đào thoát được khi trực thăng Hoa Kỳ oanh kích vào trường Thiên Hựu, thì tại đây đã có những vụ xử bắn rất rùng rợn. Số lượng người bị Việt cộng bắt giam trong trường Thiên Hựu khoảng gần 400 người. Bọn chúng dùng 2 lớp học vừa làm pháp trường đồng thời cũng là kho chứa xác. Hàng giờ, bất kể ngày đêm, hàng loạt súng nổ trong hai phòng học đó. Tội nhân bị dẫn đến căn phòng tràn ngập xác chết vừa tươi vừa thối rữa, thây người mới chồng chất lên thây người cũ mỗi ngày mỗi cao, mỗi nhiều. Mùi tanh của máu tươi trộn lẫn mùi hôi thối dòi bọ của xác chết đã sình thối. Cảnh tượng vừa ghê rợn vừa truyền nhiễm, khó thấy nơi nào trên thế giới có cảnh tượng kinh hoàng như thế, ngay cả phòng hơi ngạt của Đức Quốc Xã cũng không có cảnh vừa là pháp trường vừa là hầm mộ tích lũy như vậy. Có thể nói trong lịch sử Việt Nam và trong lịch sử thế giới khó có một cảnh giết người một cách rùng rợn và dơ bẩn kinh rợn đến thế.

Một trong những tù nhân quan trọng mà bọn chúng bắt giữ là ông Bảo Lộc, Phó Tỉnh Trưởng Tỉnh Thừa Thiên. Lực lượng công an của Nguyễn Đình Bảy đã đến bắt ông Phó Tỉnh Trưởng tại tư dinh của ông trên đường Lý Thường Kiệt, đối diện với Tòa Tổng Lãnh Sự Hoa Kỳ. Sau đó bọn chúng đem ông ta về giữ tại trường Thiên Hựu, nơi đặt bộ chỉ huy an ninh của bọn chúng.

Những ngày gần thua trận, bọn chúng dẫn ông lên núi, theo dãy Trường Sơn, thời gian đầu ông bị giam tại vùng núi giáp ranh Thừa Thiên-Lào cùng với hai bạn tù là ông Hoàng Liên Nguyễn Văn Đãi, Đại Biểu Chánh Phủ (Hành chánh) Vùng I, và một lãnh tụ Quốc Dân Đảng của Thừa Thiên-Huế là Ông Tứ. Sáu tháng sau, cả 3 bị giải ra Bắc, giam ở trại tù Thanh Liệt, Thanh Trì, Hà Đông (Hà Nội). Sau nhiều lần di chuyển đổi trại, 1973 hiệp định đình chiến Paris ký kết, cả ba ông được chuyển về Trại Ba Sao chờ ngày trao trả tù dân sự, nhưng sau đó bọn chúng lại đổi ý định không trao trả 3 ông cho chính phủ VNCH. Họ bị tiếp tục giam giữ mãi cho đến 1980.

Điều đáng nói là, trong 12 năm tù tội từ 1968-1980 thì ông đã bị biệt giam gần cả 12 năm.

Trong năm 1980 ông Bảo Lộc nhận được điện tín: “Chị vừa mất”, bọn chúng cho phép ông xuất trại về Huế dự đám tang. Có lẽ ông trời đã rủ lòng thương một chiến sĩ quốc gia vì Tổ Quốc điêu linh mà phải trả một giá quá nặng cho một đời người như ông Phó Tỉnh Bảo Lộc, nên trời đã che mắt bọn Cộng sản mà cho phép ông về Huế dự đám tang. Thật ra người qua đời là phu nhân của Trung tá Bảo Định, anh ruột ông Bảo Lộc, trưởng phòng 4 Sư đoàn I/BB. Gia đình Trung tá Bảo Định đã định cư tại Hoa Kỳ từ năm 1975 chứ đâu còn ở Huế vào năm 1980. Sau khi có mặt tại Huế, chỉ 3 ngày sau gia đình bí mật chuyển ông phó tỉnh trưởng vào Sài Gòn. Tại Sài Gòn, với sự giúp đỡ của thân nhân và bạn bè, vài tuần sau đó ông đã có mặt tại trại tỵ nạn ở Indonesia...

Mấy tháng sau, ông đã đoàn tụ với phu nhân của ông và gia đình người anh ruột là cựu Trung tá Bảo Định tại thành phố San Diego nam California Hoa Kỳ. Ông mất tháng 5/2006. Gần một năm sau thì phu nhân Bảo Lộc đã nối gót theo ông.

Tại trường trung học Kiểu Mẫu, ngay tối ngày Mùng 2 Tết, rạng ngày Mùng 3, một số đồng bào quanh vùng Đội Cung, Hàng Me, Chợ Cống, và vùng trường trung học Nguyễn Tri Phương rời khỏi nhà chạy đến trú ẩn tại đó. Và cứ như thế mỗi ngày dân chúng kéo đến đây tỵ nạn mỗi ngày mỗi tăng, con số đã lên trên hai ngàn đồng bào trong khu vực nhỏ bé này.

Tôi điều động hai trung đội Cảnh Sát Dã Chiến bảo vệ an ninh cho số đồng bào ở tại đây. Cộng quân cũng đã tấn công 3 lần vào địa điểm này nhưng đã bị lực lượng Cảnh Sát Dã Chiến đẩy lui. Trường trung học Kiểu Mẫu nằm bên này bờ sông Hương đối diện với chợ Đông Ba bên kia bờ sông Hương, nên ngày cũng như đêm Cộng quân đặt súng cối pháo kích từ bên chợ Đông Ba pháo sang, gây nhiều thương vong cho đồng bào trong trại tỵ nạn.

Tôi còn nhớ vào buổi sáng ngày Mùng 7 Tết, tôi đang đứng nói chuyện với ông chủ tiệm sách Nam Hưng tại ngay sân trường Trung học Kiểu Mẫu thì Cộng quân bắt đầu pháo, quả đạn đầu tiên rơi ngay gần chỗ ông ta và tôi đứng. Tôi may mắn chỉ bị mảnh đạn nhỏ làm rách áo giáp phía trước ngực, nhưng ông chủ tiệm sách không may mắn như tôi, thật tội nghiệp, một mảnh đạn súng cối đã xé tan bụng, ông ta chết ngay chẳng nói được lời nào.

Điểm lại một số tội ác trời không dung đất không tha của bọn Cộng sản, chúng ta thấy đối với các trẻ thơ Miền Nam trong các trường tiểu học Cai Lậy, Qui Nhơn chúng cũng không tha, pháo kích và ném lựu đạn gây thương vong cho hàng trăm trẻ thơ, nay đồng bao khốn khổ trong trại tỵ nạn Kiểu Mẫu chúng cũng không từ, tội ác vô lương tâm này biết bao giờ bọn Cộng sản mới rửa cho sạch?

Quận II (Tả Ngạn) thị xã Huế là nơi mà cộng quân tàn sát dân lành vô tội nhiều nhất. Quận II với địa thế bao bọc bởi dòng sông Hương, mặt tiền từ cầu Bạch Hổ về đến vùng chợ Đông Ba, Gia Hội, Thế Lại, Bãi Dâu, Phú Mậu. Vùng phía tây và tây bắc được bao bọc bởi sông đào vùng An Hòa và dãy trường thành của Hoàng Cung. Dân số Quận II rất đông vì là trung tâm thương mại của thành phố Huế và tỉnh Thừa Thiên. Dân đông, đất chật, địa thế bị chướng ngại bởi sông và Hoàng Thành ngăn chận, vì vậy khi cộng quân tiến vào Quận II thì quả thật dân chúng đã như nằm trong chiếc lưới cá của bọn chúng rồi, chạy đi đâu thì cũng nằm trong chiếc lưới mà thôi.

Ngoài một số dân chúng làm thương mại, đại đa số cư dân trong vùng là công chức, quân nhân, cảnh sát, cán bộ chính quyền, họ không có nơi an toàn để ẩn nấp hoặc trốn tránh nên hầu như tất cả đều trốn ở nhà. Nhờ có đám chỉ điểm, đoàn An Ninh Bảo Vệ Khu Phố của Nguyễn Đắc Xuân, Hoàng Phủ Ngọc Phan, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Nguyễn Thị Đoan Trinh, tên thợ nề Nguyễn Văn Bé, chủ tịch Khu Phố của chính quyền Cách Mạng mới thành lập, tên thầy bói Diệu Linh, tên Gù bán thuốc cẩm lệ v.v., tất cả bọn chúng giở danh sách, đi từng nhà tìm kiếm, lục soát bắt người hàng loạt. Bắt được, chúng đem ra xử bắn ngay tại chỗ, hoặc đem đi chôn sống. Xin nêu ra một vài trường hợp điển hình hành động giết người của [bọn Việt cộng] man rợ này:

Cái chết của Thiếu tá Từ Tôn Kháng. Ông là Tỉnh Đoàn Trưởng Xây Dựng Nông Thôn. Nhà của Thiếu tá Từ Tôn Kháng ở trên đường Bạch Đằng gần cầu Đông Ba. Toán An Ninh và Bảo Vệ Khu Phố của Nguyễn Đắc Xuân sau khi bao vây nhà xong bọn chúng lôi hết vợ con Thiếu tá Từ Tôn Kháng ra đứng ngoài sân và kêu gọi Thiếu tá Kháng phải ra nộp mình cho bọn chúng ngay, bằng không bọn chúng sẽ tàn sát hết vợ con của ông ta. Thiếu tá Kháng trốn trong nhà sợ vợ con bị chúng bắn chết nên phải ra nộp mình.

Bọn chúng trói ông lại bắt đầu tra tấn xẻo tai và cắt mũi ông ta, cuối cùng kết liễu đời ông bằng một loạt đạn AK.

Nhiều nhân chứng nhận diện sau này tường thuật với Thiếu úy Nguyễn Trọng, Trưởng Ban Cảnh Sát Đặc Biệt Quận II thị xã Huế rằng: Họ nhận diện trong toán bắt bớ, tra tấn, xẻo thịt, và hành quyết Thiếu tá Từ Tôn Kháng có: Nguyễn Đắc Xuân, Hoàng Phủ Ngọc Phan, Nguyễn Thị Đoan Trinh, tên Nguyễn Bé thợ nề, trưởng khu phố, tên thầy bói Diệu Linh, và tên cùng một số khác nữa. Hành động này của các tên Phan, Trinh, Diệu Linh, Bé, Gù có khác gì bọn Polpot Khmer Rouge?

Điều đáng nói ở đây là trong danh sách khát máu trên có tên một đàn bà, Nguyễn Thị Đoan Trinh. Hành động cắt tai xẻo mũi Thiếu tá Từ Tôn Kháng của y thị y hệt hành động của Lã Hậu đốt tai xẻo mũi Thích Phu Nhân, Thứ Phi của Lưu Bang, quả là lịch sử có một không hai. Rõ ràng Nguyễn Thị Đoan Trinh tàn ác không thua Lã Hậu.

Tại đường Chi Lăng, bọn chúng bắt hai ông Trần Văn Cư, Phó Giám Đốc CSQG Vùng I, và ông Lê Văn Phú, nguyên Trưởng Phòng Hành Chánh ty Công An Thừa Thiên VNCH, thời điểm đó Ông Lê Văn Phú là Quận Trưởng Quận II Thị xã Huế. Cả hai đều bị bắn chết và chôn ngay trên đường gần nhà.

Ông Vĩnh, sĩ quan CSQG, bị bọn chúng bắn ngay tại nhà ở đường Võ Tánh.

Ông Dự, Trưởng Ty CSQG tỉnh Ninh Thuận(?) về thăm gia đình tại đường Chi Lăng cũng bị bắn chết tại nhà.

Ông Hồ Đắc Cam, nhân viên nhà máy phát điện Kho Rèn, bị bắt và cũng bị bắn ngay tại nhà.

Trần Văn Nớp, phụ tá trưởng phòng hành chánh BCH/CSQG Thừa Thiên, cũng bị bắn tại nhà.

Ông chồng bà bún bò Mụ Rớt là một nhân viên cảnh sát đã ra trình diện bọn chúng, nhưng chúng không tha, xử tử hình ngay.

Danh sách những người bị bắt và bị hành hình có đến trên 800 người thuộc Quận II trong giai đoạn I, kể sao cho hết?

Tôi xin tạm dừng ngay đây.

Về Quận I, tức Quận Thành Nội thị xã Huế.

Ngay giờ đầu của cuộc tấn công, cộng quân đã chiếm toàn bộ quận Thành Nội, ngoại trừ khu Mang Cá nơi đặt Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn I Bộ Binh của Chuẩn Tướng Ngô Quang Trưởng, khu vực Tàn Thơ, khu Hồ Tịnh Tâm.

Các khu khác như Tây Linh, Tây Lộc, phi trường Tây Lộc, dọc đường Cường Để đến trường Trần Cao Vân, khu Hòa Bình Đại Nội, Kỳ Đài, qua cửa Thượng Tứ, khu tòa án, ngã tư Anh Danh ra đến cửa Đông Ba, tất cả đều lọt vào tay cộng quân. Cộng quân chiếm một khu vực quá rộng như vậy nên bọn Công An Khu Ủy Trị Thiên, Công An Tỉnh Thị Ủy Thừa Thiên-Huế phối hợp với các toán An Ninh và Bảo Vệ Khu Phố của Nguyễn Đắc Xuân, Hoàng Phủ Ngọc Phan, Nguyễn Thị Đoan Trinh, Nguyễn Đóa (Cha của Nguyễn Thị Đoan Trinh), Tôn Thất Dương Tiềm, Hoàng Văn Giàu, Nguyễn Thiết, cùng với đám cơ sở nằm vùng, và những kẻ chỉ điểm đã gây kinh hoàng chết chóc cho đồng bào quận Thành Nội trong suốt 22 ngày. Số nạn nhân bị bọn này giết chết trong giai đoạn I, theo thống kê của Cảnh Sát Đặc Biệt Quận Thành Nội cho biết khoảng gần 700 nạn nhân.

Sau này ty CSQG đã lấy được rất nhiều lời khai của rất nhiều nhân chứng chứng kiến nhiều vụ xử bắn trong Quận I. Xin đơn cử một vài trường hợp giết người man rợ và tàn bạo của bọn chúng như sau:

Một vụ xử bắn xảy ra trong khu vực Quận Thành Nội mà mọi người dân Huế đều biết, nay nhắc lại mọi người vẫn còn kinh tởm.

Đó là vụ Nguyễn Đắc Xuân, Nguyễn Thiết, Nguyễn Thị Đoan Trinh xử bắn Trần Mậu Tý và chồng của bà thương gia Nội gần cửa Đông Ba vào sáng ngày Mùng 2 Tết Mậu Thân 1968.

Trong giới học sinh, sinh viên, và những ai đã từng tham gia phong trào Phản Loạn Miền Trung vào mùa xuân, hè năm 1966 ai cũng biết đến các đoàn Sinh Viên Quyết Tử do Nguyễn Đắc Xuân thành lập và chỉ huy. Lực lượng này có 3 đại đội, một trong những đại đội trưởng của đoàn Sinh Viên quyết tử này là Trần Mậu Tý, bạn chí thân của Nguyễn Đắc Xuân. Khi Nguyễn Đắc Xuân được lệnh tên thủ lãnh phong trào phản loạn Miền Trung Thích Trí Quang đem lực lượng sinh viên quyết tử tăng viện cho lực lượng phản loạn và chùa Tỉnh Hội tại Đà Nẵng, Nguyễn Đắc Xuân đã đem đại đội của Trần Mậu Tý theo, xem như là đại đội chủ lực của Nguyễn Đắc Xuân. Nguyễn Đắc Xuân và Trần Mậu Tý là đôi bạn chí thân tương đắc, giới sinh viên quyết tử của Nguyễn Đắc Xuân thường gọi hai người này là “cặp bài trùng”.

Vào cuối tháng 6/1966 khi phong trào phản loạn của sư hổ mang Thích Trí Quang bị chính phủ trung ương dẹp tan, Nguyễn Đắc Xuân từ chùa Ông sau lưng Chùa Diệu Đế chạy trốn lên Chùa Tường Vân đợi giao liên Thành Ủy của điệp viên Trung tá Hoàng Kim Loan đến đưa lên mật khu, thì người vào ra chùa Tường Vân để giúp đỡ tiếp xúc với Nguyễn Đắc Xuân về mọi mặt không một ai khác hơn là Trần Mậu Tý. Chỉ có Trần Mậu Tý mới có thể vượt vòng vây của CSQG Thừa Thiên-Huế để vào Chùa Tường Vân tiếp xúc với Nguyễn Đắc Xuân được. Cho đến tháng 7/1966 khi giao liên của Thành Ủy đến chùa Tường Vân đưa Nguyễn Đắc Xuân lên mật khu thì cũng có Trần Mậu Tý tháp tùng.

Tình sâu nghĩa nặng như thế, vậy mà ngay sáng ngày Mùng 2 Tết Mậu Thân, khi trận tấn công mới bắt đầu thì công tác đầu tiên của đoàn An Ninh và Bảo Vệ Khu phố của Nguyễn Đắc Xuân là phải bắt cho được Trần Mậu Tý, và... Trần Mậu Tý đã sa lưới Nguyễn Đắc Xuân. Theo như Nguyễn Đắc Xuân tuyên bố ngay khi bắt được Trần Mậu Tý, tội của Trần Mậu Tý là: Đảng viên đảng Đại Việt, tình nghi hợp tác với CIA.

Thế là Trần Mậu Tý bị trói tay cùng với một thương gia tại đường Phan Bội Châu. Ông thương gia này là chồng bà Nội, cũng bị tình nghi là đảng viên đảng Đại Việt. Cả hai người bị Nguyễn Đắc Xuân, Nguyễn Thị Đoan Trinh, Nguyễn Thiết đẩy đứng sát vào bờ tường gần cửa Đông Ba. Nguyễn Đắc Xuân là người bắn loạt đạn AK đầu tiên vào người thằng bạn chí thân của mình là Trần Mậu Tý. Kế tiếp y quay mũi súng bắn vào ông thương gia tên Nội. Nguyễn Thị Đoan Trinh, Nguyễn Thiết bồi thêm hai băng AK vào thi thể Trần Mậu Tý và ông Nội đang nằm gục nơi góc tường thành. Máu hai người tuôn ra xối xả trước sự chứng kiến của nhiều đồng bào và vợ của ông Nội.

Anh Trần Mậu Tý là con trai độc nhất của Tri Phủ Trần Mậu Trinh, một người nổi tiếng chống cộng triệt để. Anh Trần Mậu Tý là sinh viên Đại Học Huế trong thời gian phong trào phản loạn 1966 của Thích Trí Quang.

Mậu Thân 1968 đến nay 2010, đã 42 năm trôi qua, thời gian cũng quá an toàn để tôi có thể nói ra sự thật cho bọn Việt cộng, nhất là Nguyễn Đắc Xuân biết rằng, họ đã ngậm máu phun người khi buộc tội anh Trần Mậu Tý làm việc cho CIA, với họ, giết lầm hơn tha lầm. Nguyễn Đắc Xuân nỡ đang tay hạ sát một người bạn thân chí tình chí nghĩa như vậy, chứng minh bản chất của những kẻ theo Cộng sản là bất nhân, bất nghĩa, bất lý trí. Thật ra anh Trần Mậu Tý là nhân viên tình báo xâm nhập của chúng tôi mà thôi. Lực lượng Cảnh Sát Đặc Biệt Bộ Chỉ Huy CSQG/Thừa-Thiên Huế có tổ chức một mạng lưới xâm nhập, và anh Trần Mậu Tý nằm trong tổ tình báo xâm nhập vào tổ chức “Học Sinh, Sinh Viên Giải Phóng” của cơ quan Thành Ủy Việt cộng tại Đại Học Huế. Trần Mậu Tý không phải là nhân viên CIA như bọn Cộng sản đoán già đoán non. Cấp chỉ huy trực tiếp của anh Trần Mậu Tý là anh Nguyễn Văn Xuân, trưởng ban Hoạt Vụ của Phòng CSĐB/BCH/CSQG Thừa Thiên.

Tuy là nhân viên tình báo xâm nhập của lực lượng CSQG Thừa Thiên-Huế nhưng về mặt tình cảm, vì cộng tác bên nhau rất lâu nên Trần Mậu Tý thật sự có cảm tình riêng với Nguyễn Đắc Xuân, đối đãi với Nguyễn Đắc Xuân rất chí tình. Thế nhưng kẻ xung phong xả băng đạn đầu tiên để giết người bạn thân tử tế với mình như bát nước đầy lại là Nguyễn Đắc Xuân. Thế thì, theo lẽ thường tình, Nguyễn Đắc Xuân còn có tư cách gì mà viết chuyện nhân nghĩa ở đời? Đã vậy ngày hôm nay đây y còn lại tự xưng là nhà Huế Học? Nguyễn Đắc Xuân học gì ở Huế và dạy gì về Huế? Ngoài một thành tích giết người, giết bằng hữu không gớm tay? Đất trời nào dung dưỡng cho tên vô nghì Nguyễn Đắc Xuân này?

Trong đám đồ tể tàn sát đồng bào Huế, cần phải nói đi nói lại về tên ma nữ giết người rất tàn bạo, say máu đồng loại y như loài quỷ dữ cần phải có mùi tanh của máu người thì thị mới có thể thở, mới có thể sống đó là Ma Nữ Nguyễn Thị Đoan Trinh.

Ma Nữ Nguyễn Thị Đoan Trinh là sinh viên Dược Khoa Đại Học Sài Gòn, trước Tết Mậu Thân y thị được cha là Nguyễn Đóa gọi về Huế để tham gia tắm máu Huế.

Nguyễn Đóa và Tôn Thất Dương Tiềm, con rể của Nguyễn Đóa, là cán bộ nội thành hoạt động cho Cộng sản từ trước 1954. Theo hồ sơ văn khố của BCH/CSQG Thừa Thiên-Huế thì Tôn Thất Dương Tiềm, Lý Kiều, Nguyễn Đóa đã từng hoạt động cho Việt Minh và trong ngày đình chiến 1954, cả 3 đương sự từ vùng Tỉnh Thanh Hóa thuộc liên khu 4 trở vào Huế. Nguyễn Đóa làm giám thị trường Quốc Học, sau là giáo sư trường Bồ Đề, Tôn Thất Dương Tiềm, Lý Kiều, giáo sư trường Trung học Bồ Đề. Cả 3 tái hoạt động trở lại trong ban Trí Vận của cơ quan Thành Ủy Huế, và đều có chân trong phong trào Hòa Bình của Thích Trí Quang, bác sĩ Lê Khắc Quyến, Tôn Thất Dương Kỵ.

Có lẽ Nguyễn Thị Đoan Trinh, con gái của Nguyễn Đóa, có bản chất sát máu tàn bạo của Nguyễn Đóa từ khi y thị còn nằm trong bụng mẹ, bởi vì nếu không, thì tại sao y thị lại có hành động độc ác man rợ còn hơn loài thú dữ với đồng bào hàng xóm láng giềng cùng nơi chôn nhau cắt rốn với mình? Y thị tên là Đoan Trinh nhưng tên lại trái ngược với người, hành động của y thị là của đám man rợ côn đồ khát máu.

Trong suốt thời gian 22 ngày cộng quân chiếm Huế, Ma Nữ Nguyễn Thị Đoan Trinh với bộ đồ màu hồng, vai mang AK 47, lưng mang súng lục, cỡi xe Honda tảo thanh khắp cùng đường phố, từ đường nhỏ đến đường lớn, lùng sục từ quận Thành Nội ra đến Quận II tức Tả Ngạn, sang đến Quận III tức Hữu Ngạn, và ngay cả những vùng giáp ranh thành phố, để bắt bọn “Ngụy quân, Ngụy quyền, Công An, Cảnh Sát Ngụy ác ôn”. Gặp ai thị cũng hỏi giấy tờ tùy thân, nếu đúng là những thành phần quân nhân, công chức, cán bộ chính quyền, cảnh sát quốc gia, y thị không cần hỏi câu thứ hai mà nổ súng bắn chết ngay.

Rất nhiều đồng bào trong các vùng trên là nhân chứng hành động sát nhân tàn bạo của y thị. Điển hình là những vụ giết người tàn bạo dưới đây:

Tại đường Cường Để thuộc vùng Tây Lộc, anh Võ Văn Tửu là phó Thẩm Sát Viên Cảnh sát, đồn trưởng đồn Cảnh Sát Ga, đêm Mùng 2 Tết khi Việt cộng tấn công, anh Tửu bị kẹt tại nhà. Anh trốn tránh từ nhà này sang nhà kia đâu được 7 ngày, qua ngày thứ 8 đang di tản với gia đình thì Ma Nữ Nguyễn Thị Đoan Trinh bất thần xuất hiện, không cần hỏi giấy tờ mà chỉ hỏi: - Ông Tửu Đồn Trưởng đồn Cảnh Sát Ga phải không? - Dạ phải.

Lập tức một loạt AK nổ dòn, ông Võ Văn Tửu gục ngã trước sự bàng hoàng, kinh hãi ngơ ngác của vợ con. Nữ Ma đầu Nguyễn Thị Đoan Trinh lên xe rồ máy chạy xem như chuyện bình thường.

Một trường hợp điển hình thứ hai, Ma Nữ Nguyễn Thị Đoan Trinh giết người tại đường Hàm Nghi vùng ráp ranh Quận III, làng Phủ Cam thuộc Quận Hương Thủy. Bà Thái Hòa vào Mậu Thân 1968 là Sinh Viên Trường Nữ Cán Sự Điều Dưỡng Huế. Bà Thái Hòa có ba người anh:

Nguyễn Xuân Kính sinh viên Y Khoa
Nguyễn Xuân Lộc sinh viên Luật Khoa
Nguyễn Thanh Hải sinh viên Văn Khoa

Nguyễn Thanh Hải bị Hoàng Phủ Ngọc Phan bắn chết ngay tại giảng đường của trường Văn Khoa. Trước đó Nguyễn Thanh Hải và Văn (sinh viên Văn Khoa, bạn của Hải) chạy từ đại học Văn Khoa sang Đại Học Y Khoa để trốn trong phòng Lab thì bị Hoàng Phủ Ngọc Phan phác giác, bắt Văn và Hải chạy trở về Văn Khoa để tải thương, nhưng khi vừa đến giảng đường Văn Khoa thì bắn ngay Hải. Văn trốn thoát nhờ đang đi vào phòng vệ sinh. Ngay sau đó có tiếng nổ lớn nên bọn Phan và Trinh liền phóng xe chạy mất, vì vậy mà Văn tạm thoát chết lúc đó. Hai người anh kia là Nguyễn Xuân Lộc và Nguyễn Xuân Kính đang trốn tại nhà. Hoàng Phủ Ngọc Phan và Ma Nữ Nguyễn Thị Đoan Trinh bắt bà Thái Hòa và Văn dẫn Phan và Ma Nữ Nguyễn Thị Đoan Trinh về nhà bà Thái Hòa tại số 24 đường Hàm Nghi, giáp ranh quận III và làng Phủ Cam để tìm hai người anh của bà Hòa. Tại đây Ma Nữ Đoan Trinh và Hoàng Phủ Ngọc Phan dùng bà Hòa làm áp lực buộc hai người anh ruột là Kính và Lộc đang trốn trên trần nhà phải xuống trình diện bọn chúng, nếu không thì bọn chúng sẽ bắn bà Hòa. Vì sợ bọn chúng bắn chết em gái mình, Kính và Lộc từ trần nhà tuột xuống chân chưa chạm đất đã bị Phan và Ma Nữ Đoan Trinh nổ súng hạ sát ngay. Ông Nội của hai người này là ông Nguyễn Tín, 70 tuổi, thấy hai cháu nội của mình bị bắn chết trước mắt, mất bình tĩnh kêu gào chửi bới Hoàng Phủ Ngọc Phan và Ma Nữ Nguyễn Thị Đoan Trinh, liền bị Phan quay mũi súng AK bắn một loạt đạn vào người ông Nguyễn Tín. Ông Tín ngã xuống chết tức tưởi. Sau đó Văn, bạn học của Lộc và Hải xin phép Phan và Trinh được chôn xác bốn ông cháu ở vườn sau, Phan và Trinh nhất quyết không cho. Mãi đến khi xác chết bốc mùi thối rồi chúng mới đồng ý cho Văn đào hố chôn 3 bạn mình Kính, Hải và Lộc và ông Tín. Khi hố chôn vừa đào xong, thây người vừa bỏ xuống thì bà Thái Hòa nghe tiếng súng nổ sau vườn. Bọn Phan và Trinh đã bắn luôn Văn và đạp luôn xuống hố chôn luôn. Thế là 4 người bạn của họ đã chết chung một nấm mồ.

Như vậy bà Thái Hòa đã chứng kiến cả thảy 5 cái chết của người thân và bạn mình do chính Hoàng Phủ Ngọc Phan, và Ma Nữ Nguyễn Thị Đoan Trinh là thủ phạm.

Những hành động giết người trên đây của Nguyễn Thị Đoan Trinh, cặp đôi với Hoàng Phủ Ngọc Phan tham gia cắt tai xẻo mũi Thiếu tá Từ Tôn Kháng chứng minh Nguyễn Thị Đoan Trinh có thể dẫn đầu trong danh sách đàn bà độc ác nhất của lịch sử Việt Nam và có thể sánh ngang hàng với sự độc ác của những người đàn bà khác trên thế giới như Lã Hậu, Từ Hy, Võ Tắc Thiên.

Liên Thành
http://ubtttadcsvn.blogspot.com/2014/01/hue-46-nam-toi-ac-diet-chung-cua-bang.html

==//==
 

Bấm vào đây để in ra giấy (Print)

oOo

Bảng hướng dẫn: Lời giới thiệu | Bài 1 | Bài 2 | Bài 3 | Bài 4 | Bài 5 | Bài 6 | Bài 7 | Bài 8 | Bài 9 | Phim TSMT-68 | Bài viết MT68 | Đầu trang

 

 

 

 

 

 

Bài 2
DIỄN TIẾN CUỘC THẢM SÁT ĐỒNG BÀO VÔ TỘI
TẠI HUẾ VÀO TẾT MẬU THÂN 1968
Liên Thành
(trích sách Huế Thảm Sát Mậu Thân 68 - Tác giả Liên Thành)

Bảng hướng dẫn: Lời giới thiệu | Bài 1 | Bài 2 | Bài 3 | Bài 4 | Bài 5 | Bài 6 | Bài 7 | Bài 8 | Bài 9 | Phim TSMT-68 | Bài viết MT68 | Đầu trang

Ai ra lệnh Tàn Sát?
Hồ Chí Minh và Bộ Chính Trị Đảng Cộng Sản Việt Nam

Ai Thi Hành?
Thiếu Tướng Lê Chưởng Chính Ủy Khu Ủy Trị Thiên. Trung Tướng Trần Văn Quang Tư lệnh Quân khu Trị Thiên. Đại tá Lê Tư Minh, Tư lệnh mặt trận Huế.

Đại lực lượng an ninh của cộng quân thi hành cuộc tắm máu đồng bào vô tội Huế gồm:

1- An Ninh Khu Ủy Trị Thiên do Tống Hoàng Nguyên chỉ huy.
2- Lực lượng Công An của Ty Công An Thừa Thiên-Huế do Đại tá VC Nguyễn Đình Bảy tự Bảy Lanh chỉ huy.
3- Lực lượng An ninh và Bảo vệ Khu Phố do Nguyễn Đắc Xuân chỉ huy.

Ước lượng quân số khoảng trên hai ngàn người của Quân Khu Trị Thiên tung vào cuộc hành quân để lùng diệt, truy quét thành phần ác ôn, tàn binh “ngụy”, Công An Cảnh Sát “ngụy”, các thành phần làm tay sai cho tình báo CIA.

Trong hai ngàn người trên, lực lượng An Ninh và Bảo Vệ Khu Phố của Nguyễn Đắc Xuân có khoảng từ 700 đến gần một ngàn người. Đây là một lực luợng nguy hiểm nhất đối với dân chúng Huế và cũng sắt máu tàn bạo như lực lượng Công An Khu Ủy Trị Thiên của Tống Hoàng Nguyên, và Công An Thừa Thiên-Huế của Nguyễn Đình Bảy.

Tại sao lực lượng An Ninh và Bảo vệ Khu phố của Nguyễn Đắc Xuân lại nguy hiểm nhất? Vì bọn chúng là đám cơ sở nằm vùng đã bám rễ lâu đời trong thành phố Huế, dưới dạng là những tên thầy bói như tên thầy bói Diệu Linh, những tên làm việc lao động như tên thợ nề Nguyễn Bé, đặc biệt là những tên núp lén kín đáo dưới dạng các Phật tử, các khuôn hội gia đình Phật tử như các tên: Lê Hữu Tý, tên Nguyễn Xin chủ nhà máy cưa, tên Nguyễn Hải chủ khách sạn Hương Bình, chủ tiệm thuốc Bắc Thiên Tường. Và quan trọng nhất là đám phản loạn Học Sinh Sinh Viên Phật Tử, lực lượng trực thuộc của Thích Trí Quang, Thích Đôn Hậu đã tích cực tham gia cuộc phản loạn vào năm 1966. Sau khi thất bại bọn chúng đuợc Khu Ủy, Thành Ủy, Thị Ủy Việt cộng đưa lên mật khu để bảo toàn lực lượng nay trở về lại thành phố tha hồ chém giết dân lành trả mối hận xưa.

Kế hoạch của cuộc bạo lực cách mạng hay bạo lực đỏ được cộng quân phân chia làm 3 giai đoạn:

1- Gọi trình diện đợt 1. Đại lực lượng sát thủ này được chia thành nhiều toán nhỏ, rải đều mọi khu gia cư thuộc 3 quận trong thành phố Huế đó là Quận I, Quận II, và Quận III.

Mỗi toán nhỏ của bọn chúng đi lục soát từng nhà một, từng gia đình một, kêu gọi tàn binh “Ngụy” quân, “Ngụy” quyền, Cảnh Sát Công An “Ngụy” ra trình diện và giao nạp vũ khí để được khoan hồng. Ngoài ra trong khi lục soát các tư gia bọn chúng cũng tìm bắt những người đã có trong sổ đen của bọn chúng. Một số trong những người này bị bọn chúng đem ra bắn tại chỗ trước sự đau đớn tột cùng của vợ con thân nhân nạn nhân, như trường hợp của Thiếu tá Từ Tôn Kháng, Tỉnh Đoàn Trưởng Xây Dựng Nông Thôn Tỉnh Thừa Thiên.

Trường hợp của ông Trần Ngọc Lộ ở tại Cồn Hến, Nguyễn Đắc Xuân và đồng bọn còn có hành động dã man và tàn bạo không còn tính người. Nguyễn Đắc Xuân không những xử bắn chồng là ông Trần Ngọc Lộ trước mặt vợ và 4 con dại của ông ta, đứa lớn nhất không quá 6 tuổi, đứa nhỏ nhất không quá 4 tháng tuổi, mà ngay khi ông Lộ gục ngã dưới những loạt đạn AK của Nguyễn Đắc Xuân và đồng bọn, thì Nguyễn Đắc Xuân và đồng bọn lập tức quay súng nổ súng xối xả vào bà vợ ông Lộ. Thi thể bà Lộ bị bắn nát như chồng, để lại những đứa trẻ thơ dại, bé nhất chỉ 4 tháng tuổi, lớn nhất chưa quá 6 tuổi. Vợ chồng ông Trần Ngọc Lộ đã bị Nguyễn Đắc Xuân và đồng bọn sát hại chỉ vì nghi họ là đảng viên đảng Đại Việt Cách Mạng.

Còn bốn cháu bé, đứa lớn nhất chưa quá 6 tuổi các cháu cuộc đời lớn lên bơ vơ không cha không mẹ, ai người bảo bọc dạy dỗ chăm sóc? Nguyễn Đắc Xuân mi lớn lên trên mảnh đất xứ Huế của VNCH, mi có cha có mẹ đầy đủ, những người quốc gia có ai giết cả cha lẫn mẹ mi đâu Xuân? Cớ sao mi nỡ giết đi cả cha lẫn mẹ của những trẻ thơ kia hả Xuân?

Mi có còn là người nữa không Nguyễn Đắc Xuân?

Câu chuyện thương tâm này dân cư trong vùng Cồn Hến ai cũng biết và ngậm ngùi xót thương cho 4 em bé bất hạnh con ông bà Trần Ngọc Lộ. Đã bốn mươi hai năm trôi qua rồi nhưng cứ mỗi độ Tết đến Xuân về thì những nhân chứng vụ thảm sát gia đình ông Trần Ngọc Lộ tại Cồn Hến vẫn còn nhắc đến câu chuyện bi thảm này. Vụ thảm sát này là một chứng minh cụ thể cho lịch sử thấy bản chất những kẻ chạy theo cộng sản, những kẻ ăn cơm quốc gia thờ ma cộng sản, chúng đã xây dựng thiên đường cộng sản bằng cách như thế này đây.

Thảm kịch này cũng là một sự nguyền rủa đến những kẻ đến nay đã hơn 35 năm rồi, chúng ác như thế đó thế mà có kẻ vẫn còn bênh vực, đi đêm, trở cờ nối giáo cho bọn cộng sản.

Bốn đứa trẻ thơ con ông bà Trần Ngọc Lộ bây giờ ra sao?”

Câu hỏi đó đến nay vẫn còn đeo đuổi trong lòng tôi và trong lòng những người dân Cồn Hến.

Nguyễn Đắc Xuân quả thực là con quỷ khát máu xứ Huế.

Điều nghịch lý là kẻ sát nhân Nguyễn Đắc Xuân vẫn còn sống nhởn nhơ tại thành phố Huế mà lại còn tự phong cho mình là “Nhà Huế Học”. Nên chăng phải gọi tên tội đồ của dân Huế Nguyễn Đắc Xuân là “Nhà Tắm Máu Mậu Thân Học”, “Nhà Đồ Tể Học”?

Một thời gian nữa chúng tôi hoàn tất thủ tục tố tụng trước tòa án quốc tế truy tố Nguyễn Đắc Xuân về Tội Ác Chiến Tranh, xin cho tôi gởi lời nhắn đến bốn người con của Ông Bà Trần Ngọc Lộ: Ở phương trời nào, nếu có dịp đọc được những dòng chữ này, xin hãy liên lạc với tôi: Ủy Ban Truy Tố Tội Ác Đảng Cộng Sản Việt Nam để bổ túc thêm hồ sơ truy tố tên tội phạm Nguyễn Đắc Xuân, kẻ đã hạ sát cha mẹ các em.

Trở lại trường hợp đợt gọi trình diện lần thứ nhất: Tất cả Ngụy Quân, Ngụy Quyền, tàn binh, Cảnh Sát Công An Ngụy ác ôn, nhân viên tình báo CIA đến trình diện Chính Quyền Cách Mạng đều được Chính Quyền Cách Mạng đặc biệt khoan hồng. Mỗi người đều được chính quyền cách mạng cấp cho một giấy chứng nhận có giá trị như giấy thông hành hay căn cước, có quyền đi lại tự do trong vùng không bị lực lượng an ninh của chính quyền cách mạng làm khó dễ gì cả. Cũng cần nói thêm rằng, trong thời gian này còn có hai loại giấy tờ có giá trị đi lại không bị bọn chúng làm khó dễ đó là:

- 1. Thẻ Sinh Viên Đại Học Huế.
- 2. Giấy chứng nhận do Ôn Đôn Hậu ấn ký.

Màn kịch trình diện khoan hồng được sắp xếp như sau: Đầu tiên bọn chúng kêu gọi những Quân, Cán, Chính, và Cảnh Sát Quốc Gia bị kẹt trong vùng bọn chúng kiểm soát ra trình diện giao nạp vũ khí. Những người cả tin này được bọn chúng cấp cho mỗi người một giấy chứng nhận đã trình diện và được tự do đi lại. Những người ra trình diện với cách mạng này được tự do ra về với gia đình, tin rằng đây là chính sách khoan hồng của “cách mạng” cũng giống như chính sách Chiêu Hồi của VNCH.

Thật ra là chiếc lưới rộng đang được giăng để hốt trọn ổ đàn cá.

2- Gọi trình diện đợt 2. Lời kêu gọi tàn binh, Ngụy Quân, Ngụy Quyền, Cảnh Sát Công An Ngụy, nhân viên tình báo CIA trình diện và giao nạp vũ khí cho chính quyền Cách Mạng của Cộng Quân vẫn tiếp tục.

Một số lớn anh em quân nhân, Cảnh Sát Quốc Gia, Công Chức, cán bộ chính quyền VNCH còn trốn tránh chưa ra trình diện ở đợt I thấy những người ra trình diện đợt I được bình yên trở về nhà, không những thế mà lại còn được “Ủy Ban An Ninh chính quyền cách mạng” cấp giấy thông hành cho tự do đi lại, cho nên khi nghe cộng quân kêu gọi trình diện đợt II giao nộp vũ khí để được cách mạng khoan hồng tiếp, một số người còn chưa tin cộng sản ở đợt I và đang lẩn trốn liền ra trình diện. Rồi cũng như những người đã trình diện đợt I, họ được cấp giấy và cho về.

3- Gọi trình diện đợt 3. Những người cẩn thận còn nghi ngờ chưa ra trình diện hai đợt trước nay nghe lời kêu gọi đợi III này thì tất cả lũ lượt ra trình diện giao nộp vũ khí, và rồi họ cũng được cấp giấy thông hành và cho về với gia đình, thầm nghĩ “quả là 'cách mạng' thật sự khoan hồng”!

4- Trình diện đợt 4. Ra đi không bao giờ trở lại. Sau 3 lần tung lưới giả, mẻ lưới thật sự mới là đây: Đợt IV. Chỉ vài ngày sau, cơ quan an ninh của chính quyền Cách Mạng kêu gọi tất cả những ai đã trình diện trong 3 đợt vừa qua, và những ai chưa ra trình diện, hãy ra trình diện tại những địa điểm mà bọn chính quyền Cách Mạng ấn định để học tập.

Ngoài ra bọn chúng sử dụng lực lượng Công An, đoàn Vũ Trang Thanh Niên của Nguyễn Đắc Xuân và một số nằm vùng mở cuộc hành quân lùng xét từng nhà thúc đẩy mọi người trình diện học tập.

Tin tưởng như ba lần trình diện trước, đi rồi lại về có sao đâu (?), mọi người yên tâm kéo nhau đi trình diện cách mạng...

Nhưng rồi... vợ con mong đợi, cha mẹ trông chờ... Đêm qua đêm, ngày qua ngày, tháng qua tháng, sao đi mà không trở lại?

Quả thật, những người thân đi trình diện học tập đã không bao giờ trở lại... vĩnh viễn không trở lại. Tất cả đã đến cõi chết. Thân xác đã bị vùi lấp chồng chất trong những nấm mồ tập thể.

Đơn vị Công An của Tống Hoàng Nguyên thuộc Khu Ủy Trị Thiên, đơn vị đặc công của Đại tá Nguyễn Đình Bảy, Đoàn Vũ Trang Thanh Niên của Nguyễn Đắc Xuân đã xử bắn hoặc chôn sống, trói họ từng chùm bằng dây điện thoại, dây kẽm gai, rồi hoặc dùng cuốc xẻng đập vào đầu họ cho ngất xỉu rồi xô sống xuống hố đã được đào sẵn, kết thúc bằng cách vùi lấp thân thể họ, dù còn sống hay đã chết. Các nấm mồ tập thể rải rác cùng khắp tỉnh Thừa Thiên và Thị Xã Huế, con số nhỏ thì vài chục, con số lớn thì vài trăm nhân mạng trong một nấm mồ.

Sau này ty CSQG Thừa Thiên Huế tìm được thân xác họ trong những hầm sâu hố cạn, một số tại các địa điểm trong thành phố, số còn lại tại các hầm chôn tập thể ở các quận Hương Trà, Phú Vang, Hương Thủy, Nam Hòa. Các bác sĩ pháp y khám nghiệm thấy rằng đại đa số bị chết ngộp vì bị chôn sống vì thân hình không bị trúng đạn, một số khác xương sọ xương đầu bị vật cứng đập vỡ. 5327 nạn nhân này đã chết không như tên Việt cộng nằm vùng Trịnh Công Sơn đã viết “nằm chết như mơ” mà họ chết trong tư thế nằm nghiêng, nằm ngửa hai tay bị trói bằng dây điện thoại, bằng dây kẽm gai, họ chết trong kinh hoàng trong nỗi sợ hãi tột cùng.

Tòa án Nhân Dân tại Bãi Dâu thuộc Quận II thành phố Huế: phiên tòa man rợ ở cõi âm ty địa ngục.

Song song với những đợt gọi trình diện trong ba quận tại thị xã Huế, độc nhất tại Quận II (Tả Ngạn) bộ chỉ huy cuộc tổng nổi dậy của cộng quân quyết định mở Tòa Án Nhân Dân.

Trong thời gian Mậu Thân, Hoàng Kim Loan là người được phân công chịu trách nhiệm phát động cuộc “Tổng Nổi Dậy” tại Huế. Xin viết lại đoạn thẩm cung của tôi với tên Trung tá Điệp Viên Hoàng Kim Loan, kẻ đã bị chúng tôi bắt vào tháng 5/1972.

Liên Thành: - Có bao nhiêu tòa án Nhân dân đã được thiết lập tại thành phố Huế trong thời gian trên?

Hoàng Kim Loan: - Chỉ độc nhất một Tòa Án Nhân Dân được thành lập tại quân II mà thôi.

Liên Thành: - Tại sao không thành lập tại Quận I và Quận III?

Hoàng Kim Loan: - Tại Quận I và Quận III, lực lượng đoàn Vũ Trang Thanh Niên của Nguyễn Đắc Xuân phối hợp cùng các toán Công An của Khu ủy và Tỉnh thị ủy đã thanh toán hầu hết các đối tượng chống đối phản cách mạng các mục tiêu nguy hiểm rồi, nên không cần thiết. Hơn nữa tình hình tác chiến ở hai Quận này rất căng nên không thể thiết lập Tòa Án Nhân Dân.

Liên Thành: - Tại Tòa Án Nhân Dân, ai là người ngồi ghế chánh án?

Hoàng Kim Loan:
- Tống Hoàng Nguyên, Hoàng Lanh, và tôi, chúng tôi hội ý nhau. Lúc đầu chúng tôi định đưa Nguyễn Đắc Xuân ngồi ghế chánh án, nhưng sau đó chúng tôi chọn Hoàng Phủ Ngọc Tường. Bởi lẽ vào thời điểm đó Hoàng Phủ Ngọc Tường đang giữ chức Tổng Thư Ký của lực lượng Liên Minh Dân Tộc Dân Chủ Hòa Bình. Đây là một lực lượng kết hợp các thành phần trí thức, tôn giáo, kết hợp những lực lượng và cá nhân các nhân vật có uy tín tại Huế đứng lên chống Thiệu-Kỳ chống đế quốc Mỹ xâm lược, vậy tòa án Nhân dân giao cho Tổng Thư Ký của lực lượng này đại diện dân chúng Huế ngồi xử án các tên ác ôn, các tên tay sai của Thiệu-Kỳ và của đế quốc Mỹ xâm lược là thích hợp nhất.

Liên Thành:
- Những ai có mặt và chứng kiến những phiên tòa do Hoàng Phủ Ngọc Tường ngồi ghế chánh án xét xử?

Hoàng Kim Loan:

1- Tôi, Trưởng Ban Tổ Chức Tổng Nổi Dậy tại Huế, Thành Ủy Viên.

2- Tống Hoàng Nguyên Trưởng Ban An Ninh Khu Ủy Trị Thiên.

3- Hoàng Lan: Thành Ủy Viên.

4- Chủ Tịch Ủy Ban Nhân Dân Cách Mạng Quận II, Nguyễn Thiết.

5- Chủ Tịch Ủy Ban Nhân Dân Cách Mạng Quận I, Nguyễn Hữu Vấn.

6- Nguyễn Đắc Xuân Trưởng Đoàn Vũ Trang Thanh Niên, các phụ tá của Nguyễn Đắc Xuân như Hoàng Phủ Ngọc Phan, Nguyễn Đóa, Tôn Thất Dương Tiềm, Nguyễn Thị Đoan Trinh.

7- Nguyễn Bé, Chủ tịch Khu phố.

8- Trần Văn Linh tức thầy bói Diệu Linh, an ninh khu phố.

Ngoài ra còn một số người tham dự nữa mà tôi không nhớ hết
.

Liên Thành:
- Có bao nhiêu “tội nhân” bị giết, bị chôn sống trong phiên tòa đó?

Hoàng Kim Loan:
- Tất cả có trên 200 “thành phần ác ôn” tay sai Thiệu-Kỳ, Mỹ.

Liên Thành:
- Anh có nghĩ như vậy là quá dã man và tàn bạo không?

Hoàng Kim Loan:
- Hành động đó hơi quá đà, nhưng cần thiết để răn đe quần chúng, bắt buộc họ phải thuần phục chính quyền cách mạng mới thành lập tại Huế.

Lời nói này của Hoàng Kim Loan làm tôi rợn người nhớ lại các phiên tòa cũng gọi là tòa án nhân dân của cuộc cải cách ruộng đất giai đoạn 1955 đến 1956, 1957. Cũng mục đích răn đe quần chúng bắt phải thuần phục chính quyền cách mạng mà khoảng 200 ngàn người dân vô tội Miền Bắc đã bị thảm sát, đạo đức xã hội bị đảo ngược và chà đạp, con đấu tố cha mẹ, vợ chồng, anh chị em, bằng hữu, thầy trò chủ tớ đấu tố lẫn nhau. Qua bao dâu bể, nhưng bản chất này của cộng sản không bao giờ thay đổi. Mậu Thân 1968 chúng diễn lại tòa án nhân dân man rợ tại quận II Huế. Sau 1975 thì các phiên tòa án nhân dân tại các trụ sở phường, trụ sở quận trên toàn Miền Nam để đấu tố bè lũ Mỹ-Ngụy rồi đưa đi lao cải trong các trại tù cải tạo, hoặc lên vùng kinh tế mới mà tổng số thiệt mạng cũng lên đến khoảng hơn 200 ngàn người, gần bằng con số mà Quân Cán Chính Miền Nam đã bỏ mình trong cuộc chiến ý thức hệ Quốc-Cộng bảo vệ lý tưởng VNCH.

Sau Mậu Thân, công việc đầu tiên của Bộ Chỉ Huy CSQG Thừa Thiên/Huế là chúng tôi bắt đầu mở cuộc điều tra sâu rộng về tất cả các vụ giết người của bọn chúng. Trưởng ban Cảnh Sát Đặc Biệt Quận II Thị xã Huế, Trung úy Cảnh Sát Nguyễn Trọng, cho mời một số nhân chứng trong vụ tòa án Nhân Dân tại Bãi Dâu để lấy lời khai của của họ hầu bổ túc vào hồ sơ vụ thảm sát tại Bãi Dâu. Tất cả đều tường thuật giống nhau:

Hoàng Phủ Ngọc Tường chính là người ngồi ghế chánh án để xét tội.

Đại đa số nạn nhân là anh em Quân Đội, Công Chức, Cảnh Sát Quốc Gia trốn tại nhà bị bắt. Những người này Ông Tòa Hoàng Phủ Ngọc Tường xếp họ vào loại ác ôn. Một số khác là cô nhi quả phụ vợ con của anh em Quân Nhân, Cảnh Sát, Địa Phương Quân, Nghĩa Quân, Cán Bộ Xây Dựng Nông thôn đã tử trận. Tất cả những người nghèo khổ này đi làm tạp dịch như dọn dẹp phòng ngủ, giặt quần áo cho binh lính Mỹ tại các căn cứ quân sự của Mỹ tại Dạ Lê hay Phú Bài, hoặc tại cơ quan MACV để kiếm sống nuôi con, nuôi cháu. Số người này được ông tòa Hoàng Phủ Ngọc Tường xếp vào loại làm việc cho tình báo Mỹ, CIA.

Với những tội danh trên, tất cả thành phần trên phải bị nhân dân anh hùng Thừa Thiên-Huế và Chính Quyền Cách Mạng trừng phạt đích đáng, loại trừ như loài rắn độc để làm gương bằng bản án tử hình. Và án lệnh đã được thi hành ngay tức khắc tại hiện trường của phiên tòa mà không cần có kháng án.

Kết quả có 204 nạn nhân bị ông Quan Tòa Hoàng Phủ Ngọc Tường ban lệnh chôn sống hoặc đập chết bằng cách dùng vật cứng đập vào đầu nạn nhân trước khi xô nạn nhân xuống hố mà đã được đào sẵn tại ngay khuôn viên Tòa Án.

Sáng ngày 26 tháng 2 năm 1968 thân nhân những nạn nhân đó đi tim kiếm mới phát giác mồ chôn tập thể có 204 xác người tại chính ngay khuôn viên trường trung học Gia Hội nơi mà phiên tòa của Tòa Án Nhân Dân đã mở tại đó trong những ngày trước.

Xin nhắc lại, sau này các đài truyền thanh, truyền hình và báo chí quốc tế nhiều lần phỏng vấn Hoàng Phủ Ngọc Tường tất cả đều nêu câu hỏi:

-“Tại sao lại giết người tàn bạo như vậy?”

Thì tên quỷ đội lốt người này hiên ngang xác nhận rằng:

-“Giết bọn chúng thì cũng chẳng khác gì giết những con rắn độc”.

Đã từng rất hãnh diện về hành động giết người hăng say thực hiện cách mạng “đấu tranh giai cấp”, nhưng trong một vài năm gần đây, khi tuổi đời đã cao, có lẽ một góc nhỏ nào đó trong lương tâm cảm thấy có gì không ổn nên Hoàng Phủ Hoàng Tường, và cũng như các đồng bọn của hắn, đã không còn hãnh diện như xưa, mà ngược lại, lại chối bỏ hành động giết người dã man của y tại Huế trong Tết Mậu Thân 1968. Biện minh cho chuyện này Hoàng Phủ Ngọc Tường đã nói:

Tôi không hề nhúng tay vào những vụ tàn sát trên, vì thời gian đó tôi đang nằm trong hầm trú ẩn tại Khe Trái phía tây nam quận Hương Trà.”

Khe Trái nằm gần khe Điêng thuộc vùng rừng núi quận Hương Trà, cách thành phố Huế gần cả năm sáu chục cây số đường bộ, nơi đây là vùng tập trung các đại đơn vị của cộng quân trước khi tấn công Huế. Đây là tuyến xuất phát của Cộng quân, cho nên suốt thời gian tấn công và chiếm Huế không còn một đơn vị nào của Cộng quân trú đóng tại vùng này nữa. Như vậy lời chối tội của Hoàng Phủ Ngọc Tường hoàn toàn không hợp lý.

Tôi xin trích một đoạn hồi ký của Hoàng Phủ Ngọc Tường để quý độc giả suy nghĩ, xin trích: “Những năm kháng chiến ở Trường Sơn, trong mỗi người đều nung nấu một ngọn lửa không gì dập tắt nổi của khát vọng chiến thắng, khát vọng ấy trong từng phút từng giờ được ném tung vào một hoàn cảnh chiến đấu đầy những yếu tố khốc liệt, bất ngờ.

Chuẩn bị vào chiến dịch xuân Mậu Thân, cán bộ các cơ quan đều được điều về phía trước, đi từng đợt cách nhau một hai hôm. Đợt sau cùng ở cơ quan tôi đến lượt Văn và Tứ. Chúng tôi đang làm việc suốt ngày và đêm cố in rô-ne-ô cho xong năm trăm bản tập thơ “Nổi Lửa” mang về Huế theo chiến dịch. Mỗi người đều sẵn sàng gùi và súng ở đầu giường hồi hộp chờ đến lượt mình
.

Tôi chưa được gọi nhưng chắc mẩm thế nào cũng sẽ đi... Sáng sớm hôm sau tôi được lệnh rời cơ quan đến Sở Chỉ Huy Tiền Phương Mặt Trận Cánh Bắc.”
--(Trích Hoàng Phủ Ngọc Tường tuyển tập 3. Trang 346-347-348)

Xin nhắc lại để đọc giả rõ hơn: Theo chiến thuật điều quân của cộng quân khi tấn cống Huế, bọn chúng chia đại đơn vị ra làm hai cánh, cánh Bắc và cánh Nam, lấy sông Hương làm giới hạn hai cánh.

Cánh Nam là Quận III (Quận Hữu Ngạn). Nỗ lực chính là Trung Đoàn 5 Đặc Công của Đại tá Thân Trọng Một.

Cánh Bắc là Quận I (Quận Thành Nội) và Quận II (Tả Ngạn). Nỗ lực chính là Trung Đoàn 6 của Trung tá Nguyễn Trọng Đấu.

Trong suốt thời gian 26 ngày tấn công và chiếm Huế, Bộ Chỉ Huy Hành Quân của Trung Đoàn 6 Cánh Bắc (hay sở chỉ huy tiền phương mặt Trận Cánh Bắc) lưu động tại Quận I và Quận II thị xã Huế.

Những ngày cuối cùng trước khi tháo chạy, bộ chỉ huy Mặt Trận Cánh Bắc của Việt cộng đóng tại Chùa áo Vàng Téreveda thuộc Quận II (Quận Tả Ngạn) thị xã Huế đã bị 2 Tiểu Đoàn 21 và 39 Biệt Động Quân, Quân Lực VNCH vây đánh tan tành, xóa tên Bộ Chỉ Huy Hành Quân Trung Đoàn 6 của Cộng Quân.

Tóm lại, bộ chỉ huy Mặt Trận Cánh Bắc lưu động tại Quận I và Quận II Thị xã Huế hoàn toàn không đóng ở Khe Trái trong 26 ngày tấn công và chiếm Huế, mà đóng tại Quận II thì làm sao Hoàng Phủ Ngọc Tường lại núp dưới hầm tại Khe Trái như ông ta nói? Hơn nữa trên 100 nhân chứng nhận diện Hoàng Phủ Ngọc Tường ngồi ghế Chánh Án Tòa Án Nhân Dân tại Bãi Dâu là không xác thực hay sao?

Và đây chúng tôi xin ghi lại nguyên văn lời nói của Hoàng Phủ Ngọc Tường trong một buổi phỏng vấn thì chính y đã trả lời một đài truyền hình London trong trang web http//openvault.wgbh.org khi được hỏi về những nấm mồ của vụ Tàn Sát Mậu Thân như sau:

“... Thế nhưng mà có những sự chết chóc đã xảy ra. Sự chết đó là một cái khối lớn. Cái khối lớn đã làm nên những nấm mồ đầy dẫy ở trong thành phố này và được địch Mỹ và Ngụy đưa ra quay phim và đưa đi thì những nấm mồ đó là ở đâu? Những cái xác chết nằm ở dưới đó là ai? Cái thứ nhất là chính nhân dân đã bị bom của Mỹ thả xuống và chết không biết bao nhiêu ở trong các đợt mà chúng nó phản kích. Thí dụ là như ở một bệnh viện nhỏ ở bên phố Đông Ba thì nó đã thả 1 trái bom và đúng 200 người vừa chết vừa bị thương ở tại chỗ đó. Tôi đã đi trên những cái đường hẻm, mà ban đêm tôi tưởng là bùn thì tôi mở ra, bấm đèn lên, thì thấy toàn là máu lầy lội như vậy. Và đó là cả khu phố bị bom Mỹ đã giết thì cái số đó nhất là trong những ngày cuối cùng thì chúng tôi rút ra và nó đã thâu lại và đem đi chôn...”

Câu hỏi dành cho lời phát biểu trên của Hoàng Phủ Ngọc Tường:

- Ai đã đi trên những con đường máu lầy lội ở phố Đông Ba?
- Ai đã rút ra trong những ngày cuối cùng của cuộc chiến?
- Hoàng Phủ Ngọc Tường đã làm gì trong những ngày chiến cuộc đó?

Với những bằng chứng như vậy, thì câu hỏi mà chúng ta đặt ngược lại cho Hoàng Phủ Ngọc Tường và những kẻ tin vào luận điệu của hắn như sau:

- Hắn có thể chối không có mặt ở thị xã Huế và tham gia tích cực vụ thảm sát Tết Mậu Thân Huế hay không?

- Hắn có thể chối tội đã là thủ phạm thảm sát Tết Mậu Thân Huế hay không?

Câu trả lời: chắc chắn là hắn không thể chối cãi tội ác Giết Người Mậu Thân của hắn được.

Liên Thành
http://ubtttadcsvn.blogspot.com/2014/01/dien-tien-cuoc-tham-sat-ong-bao-vo-toi.html

==//==
  

Bấm vào đây để in ra giấy (Print)

oOo

Bảng hướng dẫn: Lời giới thiệu | Bài 1 | Bài 2 | Bài 3 | Bài 4 | Bài 5 | Bài 6 | Bài 7 | Bài 8 | Bài 9 | Phim TSMT-68 | Bài viết MT68 | Đầu trang

 

 

 

 

 

 

 

Bài 3
THƯ GỞI THẦY HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNG &
THƯ GỞI TÊN TỘI PHẠM DIỆT CHỦNG HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNG
Liên Thành
(trích sách Huế Thảm Sát Mậu Thân 68 - Tác giả Liên Thành)

oOo

Thư của một học trò Liên Thành gởi Thầy Hoàng Phủ Ngọc Tường

Bảng hướng dẫn: Lời giới thiệu | Bài 1 | Bài 2 | Bài 3 | Bài 4 | Bài 5 | Bài 6 | Bài 7 | Bài 8 | Bài 9 | Phim TSMT-68 | Bài viết MT68 | Đầu trang

Thưa Thầy,

Con là Liên Thành, là một học trò cũ của Thầy tại lớp Đệ Nhị B2, trường Quốc Học niên khóa 1958-1959. Có lẽ bây giờ vì tuổi đời đã cao hơn nữa thân mang bệnh tật nên Thầy không còn trí nhớ tốt, vì vậy con xin nhắc lại đây những kỷ niệm của bọn con lớp Đệ Nhị B2 niên khóa 58-59 tại trường Quốc Học Huế đối với Thầy.

Thưa Thầy,

Lớp Đệ Nhị B2 tụi con có khoảng 50 đứa. Tụi con học ban Toán nên môn Việt Văn thường không hấp dẫn và cũng không làm chúng con quan tâm lắm. Chúng con thỉnh thoảng bỏ lớp trốn học kéo nhau sang Lạc Sơn ngồi nhâm nhi ly café, cảm thấy thú vị hơn phải ngồi nghe giảng dạy môn Vạn Vật, Anh Văn v.v. Thế nhưng đối với môn Việt Văn của Thầy dạy thì lũ chúng con không thiếu một đứa nào trong lớp. Cả lớp im lặng ngồi há miệng say mê nghe Thầy giảng bài, nghe Thầy nói văn chương chữ nghĩa, nghe Thầy giải thích điển tích. Có thể nói trí nhớ của Thầy siêu đẳng.

Thầy có tài ăn nói lôi cuốn người nghe, và đặc biệt Thầy có một vóc dáng thư sinh, khuôn mặt hiền từ, mái tóc bồng bềnh của một thi sĩ, một người lãng mạn nhẹ nhàng.

Thầy vào lớp, không sách, không vở, không tài liệu cầm tay. Thầy nói thao thao bất tuyệt về văn chương, chữ nghĩa thơ phú, điển tích xa xưa, đến những bài thơ cổ, cả lớp vẫn ngồi im lặng say mê nghe Thầy nói. Và ngoài ra Thầy còn giảng dạy cho chúng con những điều phải trái, tư cách làm người, đạo đức. Thầy quả là có một tấm lòng nhân hậu thương yêu mọi người...

Rồi thời gian qua nhanh, đất nước không còn có được những ngày tháng thanh bình. Người Cộng sản miền Bắc phát động cuộc chiến tranh xâm lăng Miền Nam. Lũ chúng con, những thằng học trò cũ của Thầy, cùng với các thanh niên cùng trang lứa tại khắp bốn vùng chiến thuật Miền Nam, xếp bút nghiên xông vào chiến trận cùng nhau gánh vác khổ nạn của quê hương. Chúng con chiến đấu không mang mặc cảm làm tay sai cho ai, không bao giờ nghĩ mình là lính Ngụy. Chúng con chiến đấu không vì hận thù. Chúng con chiến đấu chỉ vì lý tưởng, vì quê hương, vì xứ Huế dấu yêu. Lớp Đệ Nhị B2 của Thầy có năm mươi thằng học trò. Thầy biết không, tàn cuộc chiến chúng con chỉ còn lại dăm ba thằng. Hầu như tất cả đã ngã gục ngoài chiến trường, ngã gục trước lằn tên mũi đạn của những đồng chí Cộng sản với thầy, để bảo vệ đồng bào làng xóm thân yêu, trong đó có cha, có mạ, có chị, có em, có hàng xóm gần, láng giềng xa, có xứ Huế, có sông Hương núi Ngự, có cầu Tràng Tiền sáu vài 12 nhịp.

Thầy còn nhớ Văn Đình Tùng không? Tùng có biệt danh Tây Lai bạn cùng lớp với con, Mễ, Huấn v.v. Năm học Đệ Nhất B5 hắn đi khóa 18 Võ Bị cùng với Lê Văn Mễ, Lê Huấn, còn con ở lại học tiếp cho xong Tú Tài II sau đó quyết định vào Thủ Đức. Ra trường Võ Bị hắn làm sĩ quan Điều Không của Sư đoàn 18, sau đó đi Mỹ học khóa đại đội trưởng. Từ Mỹ về, Trung úy Văn Đình Tùng ra làm Đại Đội Trưởng Đại đội Trinh Sát Sư Đoàn 2. Trong một cuộc hành quân đại đội hắn nhảy xuống vùng mà tin tức tình báo sai lạc, Đại Đội hắn bị hai tiểu đoàn quân thù vây kín, hắn bỏ súng nhỏ ôm súng lớn, súng đại liên bắn chận quân thù cho lính thoát thân. Lính chạy thoát được còn hắn bị quân thù đâm trên 100 nhát dao. Hắn chết đứng sừng sững giữa trời, hiên ngang như Từ Hải chết trong truyện Kiều mà thầy đã dạy tụi con.

Cố Đại úy Văn Đình Tùng Anh Hùng Vị Quốc Vong Thân!

Còn nữa, một thằng học trò nữa mà thầy không thể quên hắn, vì hắn là thằng phá phách nhất lớp Đệ Nhị B2, năm sau lên Đệ Nhất B5 và đi Khóa 18 Võ Bị. Hắn là Lê Huấn. Hành quân Hạ Lào hắn là Trung tá trung đoàn trưởng, và hắn cũng trở thành Cố Đại tá Lê Huấn Vị Quốc Vong Thân.

Thưa Thầy, năm mươi đứa học trò của thầy ở lớp Đệ Nhị B2 đa số đều như Văn Đình Tùng, Lê Huấn.

Trước tháng 6/1966, con ở lính tại Chi Khu Nam Hòa. Tình cờ trong một lần hành quân để di tản đồng bào từ làng Lương Miêu, Dương Hòa, mật khu của Việt cộng, đưa đồng bào về vùng an ninh của VNCH, cuộc hành quân phối hợp với một trung đoàn của Sư Đoàn I Bộ binh, con gặp một vài thằng bạn trong lớp Đệ Nhị B2 như Trung úy Nguyễn Tần, Đại Đội Trưởng, Thiếu úy Trần Vĩnh, Tiền Sát Viên Pháo Binh, và một vài thằng nữa. Trên bước đường xuôi ngược của người trai thời loạn, gặp nhau quả thật xúc động. Chúng con ngồi kể chuyện xưa, chuyện học trò, chuyện trường Quốc Học. Chúng con nhắc đến tên Thầy với niềm kính trọng và trìu mến như chạm vào một kỷ niệm đẹp của tuổi học trò.

Thế nhưng, định mệnh thật trớ trêu. Bẵng đi vài năm, vào tháng 6 năm 1966 khi cuộc phản loạn của Trí Quang, Đôn Hậu tại Huế đang ở giai đoạn cao điểm, con từ Chi Khu Nam Hòa về giữ chức vụ Phó Trưởng Ty Cảnh Sát Đặc Biệt thuộc Ty CSQG Thừa Thiên-Huế, một đơn vị nhỏ trong đại đơn vị của Đại tá Nguyễn Ngọc Loan dẹp loạn Miền Trung. Con quá ngỡ ngàng Thầy lại ở trong hàng ngũ phản loạn tiếp tay cho Cộng sản tàn ác chống lại chính quyền Quốc Gia.

Đời sống thật quả thật có những tình cờ oái oăm làm cho con người gặp nghịch cảnh phải cứng họng, cứng lưỡi chẳng thốt lên được một lời nói nào. Đó là trường hợp của con lúc bấy giờ. Vì hai người nguy hiểm nằm trong hàng ngũ địch phá rối trị an tại Huế lúc bấy giờ, một người là Thầy của con, Thầy Hoàng Phủ Ngọc Tường, và người kia là bạn học từ những năm học tiểu học tại trường tiểu học Nam Giao là Nguyễn Đắc Xuân.

Con sẽ phải đối phó với họ bằng những hành động thẳng tay nhất. Những kẻ theo giặc, nếu bắt sống được họ, thì phải bỏ tù họ và đày đi Côn Đảo với đề nghị bản án nặng nhất, còn nếu phải chạm súng, con sẽ phải dùng hỏa lực mạnh nhất để triệt hạ ngay.

Trong hồ sơ cá nhân của Thầy và Nguyễn Đắc Xuân mà lực lượng Cảnh Sát Đặc Biệt do con chỉ huy đã sưu tầm cập nhật, thì Thầy là cán bộ trí vận hoạt động trong giới học sinh, sinh viên tại Đại Học Huế, và trong lực lượng phản loạn của Trí Quang và Đôn Hậu. Thầy là người của Khu Ủy Khu 5 Việt cộng, và cán bộ Cộng sản chỉ đạo của thầy là Hà Kỳ Ngộ bí danh Thành, có phải vậy không Thầy?

Về Nguyễn Đắc Xuân thì hắn cũng hoạt động trong tổ trí vận của cơ quan Thành Ủy Huế. Hắn phụ trách về học sinh, sinh viên Đại Học Huế. Cán bộ Cộng sản chỉ đạo hắn là Hoàng Kim Loan, Thành Ủy Viên Thành Ủy Huế.

Tóm lại Thầy và Nguyễn Đắc Xuân là hai tay nằm vùng thứ thiệt của Cộng sản từ năm 1963 và cũng là hai tay rường cột của Trí QuangĐôn Hậu trong mọi cuộc dấy loạn từ 1963 đến 1966, và Mậu Thân 1968 tại Huế.

Thưa Thầy,

Đã có điều gì làm cho Thầy bất mãn trong đời sống hằng ngày của một sinh viên Đại Học Sư Phạm thuộc trường Đại Học Sài Gòn? Chính phủ VNCH thời đó đã cấp học bổng cho Thầy ăn học với số tiền là một ngàn năm trăm đồng (1500$) mỗi tháng, như Thầy đã viết trong hồi ký:

Năm 1957, tôi vào ở Sài Gòn, trọ tại cư xá sinh viên Miền Trung ở đường Bùi Quang Chiêu (nay là đường Đặng Thị Thu). Sáng nào cũng ăn phở Bắc Hà ở tiệm Trường Ca đường Yersin ngay đầu phố. Học bổng sinh viên Đại học Sư Phạm khóa I được 1500$ một tháng, mà trong khi đó tô phở chỉ có một đồng (1$), nên xem ra tôi sung sướng hơn sinh viên bây giờ. Sáng nào cũng ăn phở, mỗi tháng chỉ mất 30$.” --(Hoàng Phủ Ngọc Tường tuyển tập 1. Trang 28)

Đã có điều gì làm cho thầy bất mãn trong đời sống hằng ngày sau khi tốt nghiệp trở thành một thầy giáo trung học đệ nhị cấp? Chính phủ VNCH bổ nhiệm thầy dạy các trường lớn như trường Quốc Học, Đồng Khánh, và với đồng lương của một giáo sư có bằng Đại Học Sư Phạm bốn năm thầy có thể ăn bao nhiêu ngàn tô phở buổi sáng?

Thầy cũng đã sống, đã hưởng những ngày tháng sung túc về vật chất, và thanh bình tốt đẹp của Miền Nam Việt Nam, bên cạnh người tình xinh đẹp dịu dàng Tôn Nữ Bảng Lãng. Vậy thì tại sao và cái gì đã biến đổi Thầy từ một vị thầy giáo được học trò kính mến, một nhà trí thức đúng nghĩa, một nhà giáo đạo đức hiền lành trở thành kẻ tàn bạo vong ơn bội nghĩa, trở thành người Cộng sản sắt máu man rợ, tại sao vậy Thầy? Tại sao? và Tại sao?...

Chúng con, những thằng học trò cũ của Thầy, nghĩ mãi không ra, không có lý lẽ nào nghe được. Chỉ có thể kết luận có lẽ Thầy bị bệnh hoang tưởng, bệnh ảo tưởng nghĩ rằng Cộng sản Miền Bắc là thiên đàng hạ giới, là chế độ biết chiêu hiền đãi sĩ, là nơi để cho Thầy phát huy tài năng hiếm có của mình chăng? Chủ thuyết Cộng sản lôi cuốn mê hoặc Thầy đến thế hay sao? Và một điều ngạc nhiên lạ lùng là cái gì đã biến đổi Thầy từ bản chất của một người hiền lành, nhân hậu, thành một tên dối trá không ngượng miệng, một ác quỷ giết người không gớm tay. Thầy say máu người còn hơn ác quỷ Dracula.

Chẳng lẽ thầy bị bệnh điên loạn, bệnh “thần kinh thương nhớ”? Hay Thầy cũng giống như tên PolPot lãnh tụ Khmer Đỏ, một trí thức cũng như thầy, đã ra tay giết gần 2 triệu đồng bào Khmer của hắn ta để thực hiện Chủ Nghĩa Cộng sản sắt máu mới thỏa lòng hả dạ. Thật tình chúng con không hiểu nổi tại sao Thầy lại biến đổi nhanh như vậy.

Thưa Thầy chắc hẳn Thầy không bao giờ quên sau năm 1975 tại Huế, trong một buổi trà dư tửu hậu tại một nhà người bạn với rất đông bạn bè của Thầy tham dự. Một trong những người bạn thân nhất của Thầy, người đã từng hoạt động với Thầy trong tổ trí thức vận, kẻ đã từng chuyển tờ báo “Việt Nam Việt Nam” của Thầy vào Quy Nhơn, vào Sài Gòn là Giáo sư Bửu Ý, cũng là thầy dạy Pháp Văn của tụi con ở lớp Đệ Nhất B5 tại trường Quốc Học, ông ta đã chỉ vào mặt Thầy và nói rất nặng lời. Con xin lỗi thầy phải nói lại nguyên văn lời Thầy Bửu Ý nói với Thầy như sau:

Tường, mi là một thằng trí thức sắt máu hèn hạ, giờ này mi chưa sáng mắt, còn chạy theo liếm đít Đảng nữa hay sao?”

Có lẽ Thầy Bửu Ý vẫn chưa hiểu hết con người Thầy Tường, vì Thầy Tường hoạt động cho Cộng sản từ trước năm 1963. Đến năm 2003 mặc dầu đã cố gắng phục vụ Bác và Đảng, tạo được biết bao nhiêu thành tích, bao nhiêu công trạng hiển hách, giết được vô số Mỹ Ngụy, trong đó phải kể đến công trạng to lớn nhất của Thầy Tường đối với Bác và Đảng là tàn sát dân Huế trong Mậu Thân 1968, lập Tòa Án Nhân Dân chôn sống cả trên 200 tên phản động, vậy mà vẫn chưa được Bác Đảng cho Thầy trở thành đảng viên đảng Cộng sản Việt Nam. Công chưa thành danh chưa toại, nên Thầy Tường phải tiếp tục sự nghiệp dang dở, tiếp tục hạ mình luồn cúi đến cùng để đạt được cái thẻ Đảng. Chỉ vậy thôi thưa thầy Bửu Ý! Xin cho con trả lời câu hỏi trên của Thầy về Thầy Tường.

Mấy năm gần đây khi Thầy lâm trong bệnh phải ngồi xe lăn, nghe nói Thầy đã được bọn chúng cho Thầy vào Đảng. Thầy đã có thẻ đảng trở thành đảng viên Cộng sản, con cũng mừng cho Thầy là dù sao cuối đời cũng đạt được ý nguyện. Chúc mừng Thầy!.... Chúc mừng Thầy!...

Có lẽ mộng ước của một kẻ trí thức như Thầy muốn lưu lại một cái gì đẹp đẽ cho đời sau về mình, về dòng họ mình. Nhưng thưa Thầy, Thầy đã khôn một thời và dại một đời. Thầy và thằng em ruột của thầy là Hoàng Phủ Ngọc Phan đã lưu lại cho hậu thế và lịch sử những nguyền rủa, phỉ nhổ, kinh tởm vào cá nhân hai anh em Thầy và làm xấu hổ cho dòng họ của Thầy. Những nấm mồ tập thể của dân Huế còn đó thì tội lỗi của cả hai anh em Thầy nhúng tay vào máu dân lành vô tội Huế Mậu Thân 1968 vẫn còn đó. Cái mà Thầy đã làm cho dòng họ mình đó là dòng họ Thầy phải gánh chịu tội ác không bao giờ tẩy rửa được này.

Thưa Thầy, dân chúng làng La Khê, quận Triệu Phong tỉnh Quảng Trị, nơi nguyên quán của Thầy, họ đã từng hãnh diện là tại làng La Khê có được một dòng họ Hoàng Phủ.

Lịch sử đã ghi vào năm 1882, Henri Rivière hạ thành Hà Nội lần thứ hai, Tổng Đốc Hoàng Diệu thắt cổ tử tiết vì không giữ được thành. Vị phụ tá Tổng Đốc Hoàng Diệu là quan Tuần Vũ Hoàng Hữu Xứng đã tuyệt thực để tạ tội với Vua, tạ lỗi với đồng bào vì đã không làm tròn nhiệm vụ Vua giao, và ông chỉ ngưng tuyệt thực khi Khâm Sai Đại Thần Trần Đình Túc mang Chiếu Chỉ của Vua Tự Đức ra Hà Nội lệnh cho Tuần Vũ Hoàng Hữu Xứng ngưng tuyệt thực.

Thưa thầy, Thầy có biết quan Tuần Vũ Hoàng Hữu Xứng là ai không? Quan Tuần Vũ Hoàng Hữu Xứng chính là Nội Tổ của hai anh em Hoàng Phủ Ngọc Tường, Hoàng Phủ Ngọc Phan.

Nội Tổ của Thầy danh giá như vậy đó, trung liệt như vậy đó, thì tại sao hai anh em của Thầy nỡ lòng nào bôi xấu dòng họ mình, làm nhục tổ tiên mình, làm hoen ố tên tuổi quan Tuần Vũ Hoàng Hữu Xứng, để đến nỗi sau Mậu Thân 1968, các vị bô lão của làng La Khê vì quá hổ thẹn với hành động sát hại đồng bào Huế do hai anh em Thầy gây ra, họ đã phải buộc miệng nói rằng: “Thói đời, hổ phụ sinh hổ tử, tại sao lại có chuyện nghịch đời hổ phụ sinh cẩu tử”.

Thưa Thầy,

Thầy có biết không, đã bốn mươi hai năm trôi qua, hằng năm mỗi lần Tết đến, khi nhắc đến cuộc tàn sát kinh hoàng do Thầy và em ruột của Thầy là Hoàng Phủ Ngọc Phan gây ra thì mọi người dân Huế không một ai là không kinh tởm, không nguyền rủa Hoàng Phủ Ngọc Tường, Hoàng Phủ Ngọc Phan. Nói đến tang tóc đau thương của 5327 sinh mạng dân lành vô tội và hơn 1200 người mất tích ở Huế là nói đến các tên Hoàng Phủ Ngọc Tường, Hoàng Phủ Ngọc Phan, Thầy có biết không?

Như vậy kể từ tháng 6/66, thầy trò chúng ta ơn đoạn, nghĩa tận. Chúng ta không còn gì để giữ tình thầy trò. Biên giới đã được phân định. Thầy và Nguyễn Đắc Xuân thuộc về bờ Bắc, và tôi thuộc về bờ Nam của dòng sông Bến Hải chia đôi đất nước tại vĩ tuyến 17.

Trong chức vụ phó Trưởng ty Cảnh Sát Đặc Biệt của Bộ Chỉ Huy CSQG/Thừa Thiên-Huế, trách nhiệm của tôi là phải vô hiệu hóa mọi công tác của đám cán bộ, cơ sở nội thành Việt cộng, phải bắt giữ tất cả. Và một trong những mục tiêu quan trọng mà lực lượng Cảnh Sát Đặc Biệt của tôi phải vô hiệu hóa càng sớm càng tốt đó là Hoàng Phủ Ngọc Tường, Nguyễn Đắc Xuân.

Tôi đã bố trí lực lượng Cảnh Sát Đặc Biệt để bắt giữ Thầy. Còn nhớ trước khi Thầy và Hoàng Phủ Ngọc Phan thoát lên mật khu, chiều hôm đó Thầy từ nhà tên Chính, cơ sở nội thành ở đầu cầu Phủ Cam trên đường Phan Chu Trinh thuộc Quận III thị xã Huế, di chuyển sang nhà của Trịnh Công Sơn. Ăn cơm tối với Trịnh Công Sơn xong, thì hai cán bộ nội thành thuộc tổ trí vận của Thành Ủy Huế đến đưa Thầy và Hoàng Phủ Ngọc Phan rời khỏi nhà Trịnh Công Sơn bằng chiếc xe hơi màu trắng của Bà Đào Thị Xuân Yến tức bà Tuần Chi chạy lên Chùa Linh Mụ. Rồi từ đó Thầy và Hoàng Phủ Ngọc Phan đi đường bộ qua ngã Long Hồ Ngọc Hồ, vượt nguồn tả sông Hương lên vùng mật khu núi Chuối, tức núi Kim Phụng. Hai cán bộ nội thành đón hai anh em Thầy không ai khác hơn là giáo sư Tôn Thất Dương Tiềm đóng vai cận vệ, và tài xế là Lê Cảnh Đạm, Tổng Thư Ký trường Đại học Y Khoa Huế.

Tôi là một sĩ quan tác chiến mới vào nghề an ninh tình báo nên chưa đủ bản lãnh và kinh nghiệm của nghề nghiệp, cũng như chưa đủ bản chất lạnh lùng của một sĩ quan tình báo khi thi hành công tác. Vì vậy tôi đã vấp phải một lỗi lầm rất lớn để phải ân hận suốt đời, là giao công tác hệ trọng này cho viên phụ tá của tôi, anh Xuân, trưởng ban Hoạt Vụ chỉ huy, còn tôi đứng khá xa, vì tôi không nỡ làm hành động trò trực tiếp bắt thầy. Nếu tôi đích thân chỉ huy lực lượng Cảnh Sát Đặc biệt vây bắt Thầy tối hôm đó, chắc chắn thầy không tài nào có thể chạy thoát được.

Tại sao? Lý lẽ duy nhất để biện minh cho hành động tắc trách của tôi lúc đó là đạo nghĩa, là giáo dục của phụ thân tôi, là giáo dục của học đường Miền Nam, của thầy Hoàng Phủ Ngọc Tường, của xã hội Miền Nam Việt Nam: Một chữ nên thầy một ngày nên nghĩa, nên tôi đã không thể vượt qua hàng rào đạo đức lễ giáo. Lúc đó tôi cũng chưa được huấn luyện và dày dạn phong sương để có thể có được hành động và trái tim lạnh lùng của một sĩ quan tình báo. Hành động trò đi bắt thầy là một hành động khó có thể chấp nhận được. Cũng vì lễ giáo đó mà nay tôi phải ân hận suốt đời, đã để xổng một con ác quỷ! Tôi đã không hiểu thấu một lý lẽ quan trọng: Nếu cần phải vô hiệu hóa một người để cứu một trăm người, thì đó là chuyện phải làm.

Không còn gì để nói về tình thầy trò giữa tôi và Thầy. --Liên Thành.

oOo

Thư của cựu Chỉ Huy Trưởng Bộ Chỉ Huy Cảnh Sát Quốc Gia Tỉnh Thừa Thiên và Thị xã Huế, Thiếu tá Liên Thành gởi:

- Hoàng Phủ Ngọc Tường, Cán bộ trí vận thuộc Khu ủy Khu 5 (Miền Trung).
 
- Tổng thư ký Lực Lượng Liên Minh Dân Tộc Dân Chủ Hòa Bình
 
- Chủ tịch Tòa Án Nhân Dân tại trường trung học Gia Hội, Bãi Dâu, Quận II Thị xã Huế năm Mậu Thân 1968.
 
- Tội phạm chiến tranh, tội phạm diệt chủng Hoàng Phủ Ngọc Tường.

Bằng vào một số chứng cớ rõ ràng minh bạch, qua trên một trăm (100) nhân chứng, tôi xác nhận Hoàng Phủ Ngọc Tường là người chủ tọa phiên Tòa Án Nhân Dân của Chính Quyền Cách Mạng Tỉnh Thừa Thiên và Thị Xã Huế, được thiết lập tại trường trung học Gia Hội, Bãi Dâu thuộc Quận II (Tả Ngạn) Thị xã Huế vào Tết Mậu Thân 1968. Y cũng chính là người ra lệnh tử hình 204 người. Đa số là thường dân vô tội.

Sau Mậu Thân, tức sau ngày 26 tháng 2 năm 1968, Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa tái chiếm Huế hoàn toàn. Cộng quân đã tháo chạy. Tình hình an ninh ổn định dần dần. Tôi cho lệnh các toán tình báo, các đơn vị CSĐB tiếp xúc với số thân nhân nạn nhân đã bị Việt cộng sát hại. Trong đó chúng tôi có mở cuộc điều tra chi tiết vùng trường học Gia Hội. Mục đích là cập nhật thêm tin tức, bằng chứng, xác nhận danh tánh những tên Việt cộng đã nhúng tay vào các vụ thảm sát đồng bào, để truy bắt và vô hiệu hóa bọn chúng. Những tin tức chúng tôi thu thập được gồm có:

1- Hơn một trăm lời khai từ thân nhân của nạn nhân tại trường trung học Gia Hội đều nói rõ: Khi thân nhân họ bị bắt dẫn đến trường Gia Hội, họ đã đi theo và họ hiện diện trong phiên tòa của Tòa Án Nhân Dân tại đó.

2- Một số nhân chứng xác nhận: Người ngồi xử tội thân nhân họ là ông Giáo sư Hoàng Phủ Ngọc Tường, người mà họ đã biết mặt trong thời gian Phật Giáo Ấn Quang tranh đấu tại Huế vào mùa hè năm 1966.

3- Một số khác tả nhân dạng người ngồi ghế xử tội thân nhân họ có nốt ruồi đen khá lớn ở phía cằm bên phải, nghe đâu ông ta tên Tường là thầy dạy học ở trường Quốc Học trước đây.

4- Đặc biệt là lời khai của một quả phụ, vợ của một Chuẩn úy thuộc Sư đoàn I Bộ Binh:

Khi chồng bà bị toán thanh niên của Nguyễn Đắc Xuân xông vào lục soát và bắt chồng bà ta tại nhà, bà đi theo và đem thức ăn quần áo cho chồng. Tại trường Gia Hội, người chồng nói với bà:

Em đừng lo, người ngồi xử trên đó là Thầy dạy cũ của anh, Thầy Tường, dạy anh ở trường Quốc Học.”

5- Trưởng Ban Cảnh Sát Đặc Biệt thuộc Bộ Chỉ Huy Cảnh Sát Quốc Gia Quận II Thị xã Huế, Thiếu úy Trọng, trong bản báo cáo về Bộ Chỉ Huy Tỉnh sau Tết Mậu Thân cũng đã phúc trình Hoàng Phủ Ngọc Tường là người chủ trì Tòa Án Nhân Dân tại trường Gia Hội trong Tết Mậu Thân 1968 và đã xử tử hình 204 đồng bào.

6- Cuối cùng là lời khai của Thành Ủy Viên Thành Ủy Huế, Trung tá Điệp Viên Cộng sản Hoàng Kim Loan, kẻ chỉ huy cuộc tổng nổi dậy vào Tết Mậu Thân 1968 tại Huế. Hoàng Kim Loan bị chúng tôi bắt vào tháng 5/1972. Y đã khai như sau:

Chính tôi (Hoàng Kim Loan), và hai thành ủy viên khác là Phan Nam, Hoàng Lanh đề cử Hoàng Phủ Ngọc Tường ngồi ghế Chủ Tịch Tòa Án Nhân Dân tại trường Gia Hội, và chúng tôi đều có mặt trong phiên xử đó.”

Tôi thấy cũng đã quá đủ những lý lẽ, dữ kiện để có thể kết luận:

1- Hoàng Phủ Ngọc Tường có mặt tại Huế trong suốt thời gian Mậu Thân 1968.

2- Hoàng Phủ Ngọc Tường chính là Viên Chánh Án Tòa Án Nhân Dân tại trường Gia Hội, vùng Bãi Dâu thuộc Quận II Thị xã Huế trong Tết Mậu Thân 1968.

3- Hoàng Phủ Ngọc Tường chính là kẻ đã buộc tội và ra lệnh tử hình 204 người, đa số là thường dân vô tội, bằng cách chôn sống họ ngay tại trường Gia Hội vùng Bãi Dâu thuộc Quận II Thị xã Huế trong Tết Mậu Thân 1968.

Vụ tàn sát kinh rợn đồng bào Huế trong Tết Mậu Thân 1968 của đảng Cộng sản Việt Nam và nhóm tay sai trong lực lượng Liên Minh Dân Tộc Dân Chủ Hòa Bình (gồm có: Lê Văn Hảo, Thích Đôn Hậu, Đào Thị Xuân Yến, Thích Thiện Siêu, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Nguyễn Đắc Xuân, Nguyễn Thị Đoan Trinh, Hoàng Phủ Ngọc Phan, Nguyễn Đóa, Tôn Thất Dương Tiềm, Nguyễn Thiết, Nguyễn Hữu Vấn và quá nhiều đám tay chân của Thích Trí Quang trong vụ phản loạn năm 1966 tham dự vụ tàn sát này) đã được thế giới biết đến. Sau năm 1975 thì các hãng truyền hình quốc tế đã cố gắng liên lạc để phỏng vấn những tên sát thủ đã bỏ chạy sang bờ Bắc vĩ tuyến 17, trong đó có Hoàng Phủ Ngọc Tường. Năm 1982 hãng truyền hình London đã phỏng vấn y về Mậu Thân. Y trả lời nguyên văn như sau:

Câu hỏi mà các phóng viên quốc tế hỏi Hoàng Phủ Ngọc Tường về cuộc tàn sát Mậu Thân, tại sao có những cuộc tàn sát đó thì Hoàng Phủ Ngọc Tường thản nhiên trả lời:

Phải giết bọn chúng như là giết những con rắn độc”.

Chính miệng hắn năm 1982 trong cuộc phỏng vấn, còn ghi lại đầy đủ hình ảnh âm thanh trên Internet, đã xác nhận rằng hắn có mặt tại trận đánh Mậu Thân, lội trong máu gần ở phố Đông Ba. Thế mà mấy năm gần đây, Hoàng Phủ Ngọc Tường lại đổi trắng thay đen chối phắc rằng: Y không nhúng tay vào các vụ tàn sát tại Huế, vì suốt thời gian trận đánh xảy ra y đang nấp dưới hầm tại vùng Khe Trái. Trong khi ở Khe Trái, theo ghi nhận của các cơ quan điều tra VNCH, là hoàn toàn không có một bóng cộng quân nào ở vùng Khe Trái này khi trận đánh Mậu Thân diễn ra. Đây chỉ là điểm chúng tập kết quân trước trận đánh mà thôi.

      
       http://youtu.be/MaNr16RDrzQ

Tôi đã trích một đoạn trong cuốn hồi ký của Hoàng Phủ Ngọc Tường ở phần trên [Bài 2] để chứng minh rõ ràng rằng Hoàng Phủ Ngọc Tường đã có mặt tại Huế trong suốt 26 ngày cộng quân tấn công và chiếm Huế, và Hoàng Phủ Ngọc Tường cùng đồng bọn là những tên đao phủ giết quá nhiều đồng bào Huế trong Tết Mậu Thân 1968.

Dù hắn có chối bay chối biến chăng nữa, thì sự thực vẫn là sự thực. Sự che dấu tội lỗi gần đây của chúng đã quá muộn vì chính chúng chứ không ai khác khi “cách mạng” mới thành công đã vênh vang tự đắc nhận công trạng giết người như giết rắn độc của mình. Bây giờ khi thực tế chứng minh Chủ Nghĩa Cộng sản là một thảm họa cho Việt Nam, bị ngay cả chính nhiều đảng viên Cộng sản phỉ nhổ, thì chúng lo sợ bị lịch sử phanh phui, bị đưa ra tòa án quốc tế nên chối bay chối biến. Viết cuốn sách Huế Thảm Sát Mậu Thân 68 này chúng tôi chỉ trưng ra những bằng cớ để quý độc giả nhận định mà thôi. Việc xét đoán đã có đấng thiêng liêng quyết định và những oan hồn của dân lành vô tội chắc chắn sẽ không để hắn yên.

Giờ đây với bệnh tật phải ngồi xe lăn, và cõi chết đã gần kề, Hoàng Phủ Ngọc Tường không thể chối tội với lương tâm của mình, cũng không thể quên được những ngày bi thảm của cuộc tàn sát ghê rợn, đẫm máu do chính y gây ra cho đồng bào Huế trong Tết Mậu Thân 1968.

Tên sát nhân Hoàng Phủ Ngọc Tường:

Nợ người một khối u sầu
Tìm người tôi trả ngày sau luân hồi
...”

Trong phần đời ngắn ngủi còn lại, Hoàng Phủ Ngọc Tường đã sống những chuỗi ngày sợ hãi, sợ hồn ma bóng quế, sợ oan hồn ẩn hiện của những kẻ đã bị Hoàng Phủ Ngọc Tường thảm sát 42 năm về trước, bởi thế cho nên hắn đã viết như sau:

Những chiều Bến Ngự dâng mưa
Chừng như ai đó mơ hồ gọi tôi
Tôi ra mở cửa đón người
Chỉ nghe tiếng gió thổi ngoài hành lang
”.

Hoặc là:

Nợ người một khối u sầu
Tìm người tôi trả ngày sau luân hồi
...”

(Thơ Hoàng Phủ Ngọc Tường)

Hoàng Phủ Ngọc Tường!

Không có người sống để ông “ra mở cửa đón người” mà chỉ là những người chết, là oan hồn của những dân lành vô tội đã bị ông sát hại gõ cửa linh hồn ông. Kiếp luân hồi tôi nghĩ cũng không thể có đối với ông được vì nghiệp chướng mà ông gây ra đã quá nặng. Ông phải bị đày cả ngàn năm hơn dưới 18 tầng âm ti địa ngục, đừng hy vọng gì để: “Tìm người tôi trả ngày sau luân hồi.”

Liên Thành
http://ubtttadcsvn.blogspot.com/2014/01/thu-goi-thay-hoang-phu-ngoc-tuong-va.html

==//==
    

Bấm vào đây để in ra giấy (Print)

oOo

Bảng hướng dẫn: Lời giới thiệu | Bài 1 | Bài 2 | Bài 3 | Bài 4 | Bài 5 | Bài 6 | Bài 7 | Bài 8 | Bài 9 | Phim TSMT-68 | Bài viết MT68 | Đầu trang

 

 

 

 

 

Bài 4
THIẾU TƯỚNG NGUYỄN NGỌC LOAN, TƯ LỆNH CSQG/VNCH VỚI
SÀI GÒN & HUẾ TRONG MẬU THÂN 1968
Liên Thành
(trích sách Huế Thảm Sát Mậu Thân 68 - Tác giả Liên Thành)

Bảng hướng dẫn: Lời giới thiệu | Bài 1 | Bài 2 | Bài 3 | Bài 4 | Bài 5 | Bài 6 | Bài 7 | Bài 8 | Bài 9 | Phim TSMT-68 | Bài viết MT68 | Đầu trang

Lời tác giả: Kính gởi Quý đồng bào Quốc nội và Hải ngoại cùng Quý chiến hữu:

Chúng tôi xin thành thật cảm ơn Quý vị độc giả và chiến hữu đã sửa cho 1 vài dữ kiện trong bài viết như:

* Quê của Hoàng Phủ Ngọc Tường là làng Bích Khê chứ không phải La Khê.
* Hành Quân Hạ Lào 719, Trung tá Lê Huấn là Tiểu Đoàn Trưởng chứ không phải là Trung Đoàn Trưởng.

Hai dữ kiện trên đã hiệu đính trong bài số 3 (Hiệu đính) Thư gởi Thầy Hoàng Phủ Ngọc Tường và Thư gởi Tên Tội Phạm Diệt Chủng Hoàng Phủ Ngọc Tường.

Xin trân trọng phổ biến bài thứ tư trong loạt bài liên quan Tội Ác Diệt Chủng của Băng Đảng Hồ Chí Minh tại Huế Tết Mậu Thân 1968, “Thiếu tướng Nguyễn Ngọc Loan, Tư Lệnh CSQG/VNCH với Sài Gòn và Huế trong Mậu Thân 1968 và Vụ Xử Bắn Tên Đặc Công Cộng sản Bảy Lốp -- (Liên Thành)”.

Đặc biệt thân tặng các chiến hữu Không Quân và CSQG/VNCH để tưởng niệm một cấp chỉ huy đáng kính trọng.

Trân trọng,
Tịnh Ngọc
Trưởng Khối Kỹ Thuật/UBTTTADCSVN

Huế sau 26 ngày kinh hoàng đã có một số người Huế bỏ Huế mà đi. Thế nhưng, có một người, mặc dầu thân sinh là người Bắc, nhưng ông lại được sinh ra tại Huế. Ông lớn lên tại Huế, rời khỏi Huế từ độ quê hương chìm đắm trong binh lửa. Nhưng mà mỗi khi Huế gặp nạn, dân Huế gặp khổ đau, thì ông lại trở về Huế với tấm chân tình và tình yêu của người con xứ Huế, thiết tha cứu Huế và chia sẻ bất hạnh với đồng bào Huế.

Sáng hôm nay, ngồi viết những dòng này về ông mà lòng không nén được nỗi xúc động tưởng nhớ đến ông, người anh cả trong lực lượng Cảnh Sát Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa.

Không những riêng tôi, mà một số lớn anh em đồng đội trong lực lượng CSQG đều thương tiếc và kính trọng ông.

Hùm chết để da, người ta chết để tiếng, tiếng tốt và tiếng xấu. Bây giờ ông đã khuất, không còn trong cuộc đời phiền muộn này nữa, nhưng ông đã để lại tiếng tốt muôn đời, để lại sự kính trọng và lòng biết ơn của rất nhiều người dân Huế.

Ông chính là Thiếu tướng Nguyễn Ngọc Loan, Tư Lệnh Lực Lượng CSQG (1966 - Tháng 5/1968).

Thiếu tướng Nguyễn Ngọc Loan sinh ngày 11-12-1930 tại Huế. Tốt nghiệp khóa 1 trường Võ Khoa Thủ Đức năm 1952.

1953, Thiếu tướng Loan thụ huấn khóa phi công tại trường Không Quân Salon de Provence tại Pháp, tốt nghiệp với bằng Kỹ Sư Hàng Không. Ông là một trong những phi công lái khu trục cơ đầu tiên của VNCH.

1960, ông giữ chức vụ Chỉ Huy Trưởng Phi Đoàn 2 Quan Sát tại Nha Trang.

1964, vinh thăng Đại tá, Tư Lệnh Phó Không Quân VNCH.

Ngày 11-2-1965, Đại tá Nguyễn Ngọc Loan đã dẫn đầu những phi đoàn A1 Skyraider vượt vĩ tuyến 17, oanh tạc miền Bắc Việt Nam, trong chiến dịch Mũi Tên Lửa (Flamming Dart).

Chưa bao giờ trong cuộc chiến đầy bi thảm của quê hương mà lòng yêu nước và tinh thần chiến đấu chống Cộng sản của dân quân Trị Thiên lại lên cao đến như vậy. Dân chúng, học sinh, sinh viên Huế đã tổ chức biểu tình lớn để hoan hô, vinh danh những người hùng Không Lực VNCH, những Kinh Kha của thời đại, đã vượt sông Gianh xông vào đất địch. Những tên tuổi Nguyễn Cao Kỳ, Nguyễn Ngọc Loan, Phạm Phú Quốc, lúc đó đã được đồng bào hết lòng trân quý.

Tôi bấy giờ chỉ là viên sĩ quan trẻ cấp Thiếu úy, biết được tên ông vì danh tiếng đó.

Sau cuộc hành quân Mũi Tên Lửa 11-2-65, Đại tá Nguyễn Ngọc Loan được bổ nhiệm về làm Tổng Giám Đốc CSQG, Giám Đốc Nha An Ninh Quân Đội, Giám Đốc Phủ Đặc Ủy Trung Ương Tình Báo.

Hai đợt “tổng công kích, tổng nổi dậy”, đợt I vào Tết Mậu Thân 1968, và đợt II vào tháng 5/1968 của lực lượng Việt cộng vào Thủ đô Sài Gòn và Huế cùng với hầu hết các đô thị lớn của Chính phủ VNCH gồm 36 tỉnh, trong số 44 tỉnh lỵ và 6 thành phố lớn của Miền Nam Việt Nam.

Thiếu tướng Nguyễn Ngọc Loan, Tư lệnh CSQG/VNCH, ông đã làm gì để bảo vệ Thủ đô Sài Gòn và đã làm gì để giúp đỡ đồng bào Huế đang trong cảnh khốn cùng tuyệt vọng, đau thương tang tóc, điêu tàn đổ nát? Rồi đến đợt II tổng công kích của bọn chúng vào thành phố Sài Gòn, Thiếu tướng Loan đã làm gì để bảo vệ Thủ Đô VNCH?

Thưa, ông đã làm tất cả mà một vị tướng có thể làm để bảo vệ sinh mạng và tài sản của đồng bào tại Sài Gòn Chợ Lớn và rồi cũng từ trách nhiệm đó, ông lại phải nhận lãnh một định mệnh đau thương khắc nghiệt, oan trái cho đời ông và cho gia đình ông.

Tôi không thể nói gì và viết gì về Thiếu tướng Loan trong thời gian VC tấn công Sài Gòn. Vì nếu tôi viết, tôi sẽ là một kẻ nói dóc, ba hoa về sự thật của lịch sử. Tôi sẽ mang tội với chính tôi, với tất cả mọi người, và nhất là đối với Thiếu tướng Loan. Thời gian đó tôi đang ở Huế, đang cùng với các chiến sĩ anh hùng của QLVNCH và CSQG Thừa Thiên-Huế phản lại các đợt tấn công của Việt cộng vào Huế. Nhưng về phần Thiếu tướng Loan tại Huế, sau khi trận đánh Mậu Thân 1968 chấm dứt, tôi sẽ viết rõ.

Phần đầu, tôi xin mượn lời của tiến sĩ luật khoa, Thẩm Phán Trần An Bài, sau này là giảng sư của Học Viện CSQG/Việt Nam Cộng Hòa, và của Đại tá Trần Minh Công Viện Trưởng Học Viện CSQG/VNCH mà trước đó, Mậu Thân 1968, ông là chỉ huy trưởng CSQG/Quận II Thủ Đô Sài Gòn. Trong những giờ phút đầu Việt cộng tấn công Sài Gòn, ông đã cùng sát cánh với Thiếu tướng Nguyễn Ngọc Loan tung lực lượng CSQG và đích thân chỉ huy ngăn chận các đợt tấn công của VC.

Đêm 30 rạng ngày 31 tháng năm 1968 dương lịch, tức đêm mồng một rạng ngày 2 Tết, Thủ đô Sài Gòn bị VC tấn công tại một số địa điểm như: phi trường Tân Sơn Nhất, Bộ Tổng Tham Mưu/QLVNCH, đài phát thanh Sài Gòn, Tòa Đại sứ Mỹ, Dinh Dộc Lập, phía đường Nguyễn Du, BTL/Hải Quân. Thật sự thì đài phát thanh Sài Gòn đã bị VC chiếm giữ, nhưng ngay tức thì, Thiếu tướng Nguyễn Ngọc Loan đã đích thân điều động lực lượng CSQG và cùng với đơn vị quân đội, ông đã chiếm lại đài phát thanh Sài Gòn ngay lập tức, không để cho VC có cơ hội phát đi bất kỳ một lời tuyên truyền nào của chúng.

Thiếu tướng Nguyễn Ngọc Loan hành xử Luật Pháp Quốc Gia:

Sáng ngày mồng 2 tết Mậu Thân, Thiếu tướng Nguyễn Ngọc Loan đang chỉ huy trận đánh khốc liệt tại khu vực Chợ Lớn, đường Sư Vạn Hạnh và Ngô văn Tự, thì một Sĩ Quan thuộc Chiến Đoàn TQLC/VNCH giải giao đến ông tên Đại úy Việt cộng, Nguyễn văn Lém tự Bảy Lốp, mà Chiến đoàn TQLC vừa bắt được.

Nguyễn văn Lém tự Bảy Lốp chỉ huy đơn vị đặc công, trước đó vài giờ, đã giết toàn bộ gia đình của một sĩ quan Cảnh Sát Quốc Gia gồm mẹ, vợ, con và thân nhân của vị sĩ quan này. Sau đó y chỉ huy tấn công và kiểm soát trại Phù Đổng của binh chủng Thiết giáp. Bảy Lốp bắt giữ gia đình của Trung tá Nguyễn Tuấn,
dùng vợ con của Trung tá Tuấn làm con tin, bắt Trung tá Tuấn chỉ dẫn cách sử dụng xe tăng còn lại trong trại. Trung tá Nguyễn Tuấn từ chối, Bảy Lốp đã giết sạch gia đình Trung tá Nguyễn Tuấn, gồm cả bà mẹ già của Trung tá Tuấn đã 80 tuổi, chỉ có một bé trai bị thương nặng và sau đó đã được cứu sống.

Trước đó, y là thủ phạm đã giết chết 34 thường dân vô tội và cũng là tác giả mồ chôn tập thể của 34 đồng bào này. Y khai y rất hãnh diện về thành tích đó.

Nhân chứng Nguyễn Trường Toại, một thường dân đã kể lại rằng: “Tôi biết hắn đã làm những gì. Trong cuộc chạm súng với QLVNCH, hắn sử dụng trẻ em làm lá chắn, đẩy trẻ thơ vô tội làm bia đỡ đạn làm QLVNCH không thể nổ súng để cho đồng đội hắn tẩu thoát”.

Thiếu tướng Nguyễn Ngọc Loan đã được báo cáo đầy đủ về tội trạng và hành động man rợ của tên Việt cộng này, và khi nhìn xác chết thê thảm của trẻ các thơ vô tội tại hiện trường, nghẹn ngào căm phẫn, ông đã hỏi:

- “Tại sao, chuyện gì vậy?”

Khi biết được đầu đuôi tự sự ai là hung thủ của việc giết người man rợ tàn bạo này, Thiếu tướng Nguyễn Ngọc Loan, không ngăn được cảm xúc của sự phẫn nộ, đã nổ súng, hạ sát tên thủ phạm, đại úy Đặc công Nguyễn văn Lém tự Bảy Lốp.

Bám sát theo theo BCH hành quân của Thiếu tướng Loan lúc đó là đám ký giả chiến trường ngoại quốc, trong đó có nhiếp ảnh gia Eddie Adams của hãng thông tấn AP, và phóng viên quay phim cho hãng tin NBC người Việt Nam là ông Võ Sửu.

Tất cả diễn biến về việc Thiếu tướng Loan xử bắn tên đặc công Bảy Lốp đã được Võ Sửu và Eddie Adams thâu hết vào ống kính. Tướng Loan thấy rõ chuyện thu hình này, cho nên, nếu muốn, ông có thể ra lệnh tịch thu hết các cuốn phim. Nhưng không, ông không làm như vậy. Và ông đã quân tử nói với Eddie Adams cùng các ký giả ngoại quốc cũng như ông Võ Sửu lúc đó:

- Tên Việt cộng này đã giết vô số đồng bào của tôi và người Hoa Kỳ.

Eddie Adams kể lại:

- Lúc đầu tôi tưởng Lém được dẫn đến để Tướng Loan thẩm vấn. Khi ông rút súng chĩa vào Lém, tôi vẫn còn tưởng ông chỉ dọa thôi, hóa ra, ông bắn thật.

Ngay tối hôm đó, mồng 2 Tết Mậu Thân, Eddie Adams đã chuyển bức hình Thiếu tướng Loan xử bắn tên đặc công Bảy Lốp từ Sài Gòn đi khắp thế giới.

Cả thế giới rúng động, đám ký giả ngoại quốc, các phong trào phản chiến tại Hoa Kỳ, Việt Nam, Âu Châu, và nhiều quốc gia khác, tận tình khai thác bức hình này.

Nó chính là bức hình oan nghiệt, đã đưa cuộc đời của Thiếu tướng Loan vào khúc quanh nghiệt ngã, và cũng đã góp phần tạo nên những dư luận sai trái bất lợi về chính nghĩa của VNCH trong cuộc chiến chống chủ nghĩa cộng sản... Và cuối cùng, cộng với nhiều yếu tố khác, đã tạo nên một kết cục đau thuơng cho Miền Nam và cho đất nước.

Tranh luận về bức hình, và hành động của Thiếu tướng Nguyễn Ngọc Loan: Đúng? Sai?

Theo thẩm phán Trần An Bài, giảng sư Học Viện CSQG/VNCH:

Nhóm phản chiến Hoa Kỳ lý luận rằng: Đại úy đặc công VC đã bị bắt, hai tay bị trói quặt sau lưng, tức Nguyễn văn Lém tự Bảy Lốp đã thật sự trở thành tù binh chiến tranh. Tướng Loan không có quyền hành quyết một kẻ thù đã trở thành tù binh chiến tranh, không còn phương tiện tấn công. Hành động này trái với Điều 3 Quy Ước Genève ngày 12-8-1949 về tù binh.

Phóng viên chiến trường của Úc Đại lợi, ký giả Neil Davids trong cuốn “In the Frontline” đã bênh vực Thiếu tướng Loan, cho rằng:

Tên đặc công mặc áo dân sự, tức không phải quân nhân địch như đã qui định trong qui ước Genève về tù binh. Bảy Lém đã phạm tội quá rõ ràng là giết nhiều đàn bà con nít, và ngoan cố không chịu đầu hàng, Tướng Loan xử bắn một tên phản loạn trong thời gian Thiết Quân Luật thì cũng không có gì gọi là quá đáng.

Tướng William Westmoreland, Tổng Tư Lệnh Lực Lượng Hoa Kỳ tham chiến tại Việt Nam, đã nhận định về hành đông của Thiếu tướng Loan:

Không khôn ngoan, nhưng Tướng Loan đã làm dưới áp lực. Vấn đề này liên quan đến pháp lý mà ông không thể phán đoán được. Ông chỉ muốn nhấn mạnh áp lực vào thời điểm đó, tức là sự giận dữ về những hành động khủng bố của cộng sản.

Và Eddie Adams, tác giả của tấm hình đã đem lại oan nghiệt cay đắng cho Thiếu tướng Nguyễn Ngọc Loan và cho cuộc chiến VN, đã nói bức hình của ông chỉ nói lên được một nửa sự thật. Ông đã ân hận, đã phân bua, đã gào thét trên truyền hình, truyền thanh, báo chí, để cảnh giác thế giới rằng, họ đã hiểu lầm ý nghĩa bức hình của ông. Bức hình không giống cái bánh, một nửa cái bánh vẫn là cái bánh, một nửa sự thật không thể là sự thật. Sự thật là gì? đó là sự sai, sự gian xảo, sự lừa phỉnh, sự lừa lọc và lầm lẫn. Thế mà cả thế giới nhắm mắt bịt tai và im lặng để cho Tướng Loan chết trong nỗi oan khiên, VNCH chết tức tưởi, và lịch sử VN thì viết nên những trang đầy thảm họa.

Vậy nửa sự thực kia là gì?

1- Adams đã không ghi lại được những hình ảnh mà Bảy Lốp đã bắn giết và chôn sống dã man những người dân vô tội mà Tướng Loan có trách nhiệm phải bảo vệ. Họ là đàn bà, con nít không có phương tiện tự vệ trong tay. Sự việc này cũng đã được Điều 4 Qui Ước Genève ngăn cấm các quân nhân tham dự chiến tranh không được làm như vậy.

2- Adams cũng không diễn tả được cảnh Bắc Việt đã lợi dụng hưu chiến ngày Tết, tấn công VNCH, gieo bao nhiêu đau thương chết chóc cho dân chúng Nam Việt Nam.

3- Adams đã không ghi lại được cảnh hàng ngàn dân lành bị chôn sống tại Huế trong tết Mậu Thân, do tay các đồng chí của Bảy Lốp gây ra.

Tóm lại, nửa sự thật mà Adams đã không trình bày được là nguyên nhân dẫn đến nửa sự thật kia mà Adams đã diễn tả trong bức hình, đó là cảnh bắn một tên súc sanh man rợ, đại úy đặc cộng Việt cộng Bảy Lốp.

Xin hỏi bắn một tên Việt cộng tàn ác mà có tội sao?

Nói cách khác, việc Tướng Loan nổ súng kết liễu đời Nguyễn văn Lém tự Bảy Lốp là hậu quả tất nhiên từ chính việc làm của Bảy Lốp, đó là đã giết hại dã man nhiều dân lành và trẻ em vô tội.

Tranh luận về pháp lý:

1- Trong bốn phe tham chiến tại Việt Nam, chỉ có VNCH đã không hề ký kết vào bất cứ phần nào của Quy Ước Genève về tù binh và còn công khai bác bỏ vào ngày 18-2-1974. Trong khi đó thì Hoa Kỳ ký vào ngày 2-8-1955. Bắc Việt ký vào các năm 1953, 1957 và 1976. Mặt trận Giải Phóng Miền Nam ký vào 1973, 1974. Như vậy thì làm sao có thể quy kết cho Chính Phủ VNCH và Thiếu tướng Nguyễn Ngọc Loan đã vi phạm Quy Ước này được.

2- Dù có phê chuẩn quy ước, nhưng mỗi quốc gia lại tự giải thích quy ước theo quan niệm và quyền lợi riêng tư của mình.

Hãy lấy ngay Bắc Việt và Hoa Kỳ làm bằng chứng:

Bắc Việt không tuân thủ quy ước dành cho tù binh Hoa Kỳ với lý do Hoa Kỳ đã mở cuộc chiến tranh đế quốc xâm lược Việt Nam, tức là cuộc chiến không có chính nghĩa, cho nên tù binh Mỹ không đáng hưởng được những đặc ân của quy chế tù binh.

Hoa Kỳ lại cũng không cho binh lính Bắc Việt và MTGPMN được hưởng quy ước viện lý do là Bắc Việt và Mặt Trận đã áp dụng những chiến thuật du kích quá dã man không thích hợp cho một cuộc chiến quân sự chính quy. Binh lính Bắc Việt và Mặt Trận bị bắt thật sự chỉ là những can phạm hình sự, chứ không phải đúng nghĩa là tù binh.

Giả như VNCH có ký vào Quy Ước Genève, thì chúng ta có thể giải thích rằng Nguyễn văn Lém không phải là tù binh chiến tranh, không mặc quân phục, và khi bị bắt, y không đang giao tranh với QLVNCH, mà lại đang lùng kiếm giết hại dân lành vô tội. Rõ ràng y là tội nhân hình sự chứ không phải là tù binh.

Cái gọi là Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam được khai sinh vào ngày 20-12-1960, với mục đích lật đổ chế độ chính trị Miền Nam bằng bạo lực. Còn Bắc Việt thì luôn luôn chối bỏ là không hề tham dự vào các trận đánh ở Miền Nam, đó chỉ là chuyện riêng tư giữa nhân dân Miền Nam nổi dậy qua tổ chức MTGPMN chống nhà cầm quyền của họ mà thôi.

Nếu lập luận này đúng, thì hai hậu quả được đặt ra cho vụ Tướng Loan:

- Thứ nhất, Nguyễn văn Lém là một phần tử trong tổ chức nổi loạn chống chính phủ Miền Nam, nên không phải áp dụng quy chế Genève, mà là áp dụng luật lệ của VNCH dành cho phần tử nổi loạn.

- Thứ hai, luật pháp của VNCH thời đó đã đặt cộng sản ra ngoài vòng pháp luật, nghĩa là các cán binh cộng sản chống lại VNCH bằng vũ lực không thể được luật pháp bảo vệ như một công dân thường.

Nguyễn văn Lém là một phần tử trong tổ chức phản loạn bị luật pháp đặt ra ngoài vòng pháp luật, y lại còn bị bắt quả tang trong lúc phạm tội hình sự nguy hiểm. Vậy thì Tướng Loan, vị chỉ huy cao cấp nhất của ngành CSQG/VNCH, đang có mặt trên phạm trường có quyền thụ lý nội vụ và quyết định những biện pháp thích nghi.

Thiếu tướng Nguyễn Ngọc Loan đã hành xử đúng quyền hạn của ông khi quyết định xử tử Nguyễn văn Lém ngay tại phạm trường, để chấm dứt tội ác của y. Quyết định của Tướng Loan phải được gọi là đúng luật.

Và sau cùng, luận về việc Thiếu tướng Loan xử tử Bảy Lốp có đúng thủ tục pháp lý và nhân đạo hay không? Theo Giảng Sư Trần An Bài thì lý lẽ quan trọng nhất người ta thường nêu lên để trách cứ Tướng Loan là đã xử tử Nguyễn văn Lém tức Bảy Lốp mà không có án lệnh của tòa án. Không, nguời ta đã lầm. Lầm hoàn toàn.

Người ta đòi hỏi Nguyễn Văn Lém phải được bắt giữ đúng thủ tục tư pháp? Và ai có quyền bắt giữ kẻ phạm pháp? Đó là cảnh sát. Nhưng chính cảnh sát lại là những người đang bị Bảy Lốp tìm giết. Chẳng những giết cảnh sát, mà Bảy Lốp còn giết cả vợ con gia đình cảnh sát. Người ta còn đòi hỏi phải đem Bảy Lốp ra tòa án xét xử, còn tòa đâu mà xử? Tòa án và các cơ sở công quyền là mục tiêu của Bảy Lốp và các đồng chí của y đang quyết tâm phá hoại cho kỳ hết, giết cho kỳ sạch. Còn thẩm phán là những người mà Bảy Lốp đang tìm bắt để chôn sống. Trong hoàn cảnh chiến tranh, chết chóc lửa đạn như vậy, và trước một hiện trường kinh hoàng của tội ác mà y đã làm, sao còn đòi hỏi nào quy ước, nào là Cảnh Sát Tư Pháp, nào là tòa án, nào là thẩm phán? Tất cả những thứ đó Nguyễn văn Lém tự Bảy Lốp không có quyền được hưởng như một tội phạm thông thường. Điều mà y đáng bị, là chấm dứt tội ác và đền tội.

Nguyễn Văn Lém đã không mặc quân phục đội nón cối đi dép râu để giao tranh với quân đội VNCH như các bộ đội Bắc Việt khác. Nguyễn văn Lém mặc thường phục, đi khủng bố giết hại đàn bà con nít để bắt họ làm bia đỡ đạn. Lém chẳng những đã không phủ nhận mà còn hãnh diện về các vụ giết và chôn sống đàn bà con nít đầy man rợ của y.

Hành vi này kết thành tội sát nhân với trường hợp gia trọng, bắt buộc phải bị tử hình.

Phương cách thi hành bản án tử hình vẫn được áp dụng vào thời đó tại Việt Nam là tử tội bị trói vào cột, và một tiểu đội hành quyết nổ súng, sau đó viên tiểu đội trưởng đến gần bắn một phát súng ân huệ vào đầu tử tội để chắc chắn y đã chết.

Nguyễn văn Lém đã bị hành quyết đúng theo thủ tục:

Tử tội bị trói đem ra pháp trường, và hưởng phát súng hành quyết cũng chính là phát súng ân huệ của Thiếu tướng Nguyễn Ngọc Loan, Tổng Giám Đốc CSQG/VNCH.

Và sau đây là những lời nói muộn màng của Eddie Adams. “Càng tìm hiểu về Tướng Loan tôi càng ngưỡng mộ tài đức của ông đã bảo vệ quê hương, được đồng bào Việt Nam thương yêu. Ngay khi cộng sản tấn công Sài Gòn, ông là vị tướng duy nhất trên khắp đường phố Sài Gòn để trực tiếp chỉ huy các lực lượng cảnh sát. Nếu không có Tướng Loan thì không biết số phận Sài Gòn sẽ ra sao? Vậy mà bức hình này đã gây nên sự ngộ nhận và phản đối của công luận lên án Tướng Loan là tàn bạo.” Vâng, nếu không có Tướng Loan thì không biết số phận Saigon sẽ ra sao? Một Huế Mậu Thân thứ hai?”

Thiếu tướng Nguyễn Ngọc Loan đến Huế

Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa và Cảnh Sát Quốc Gia đã tiêu diệt hầu như toàn bộ các lực lượng Việt cộng tấn công Sài Gòn thủ đô miền Nam Việt Nam. Sài Gòn tạm yên nhưng Huế mặt trận vẫn còn khốc liệt. Cộng quân chiếm Huế 22 ngày, kể từ 2 giờ 32 phút đêm mồng một Tết rạng ngày mồng 2 Tết, đến khuya ngày 22 Tết Mậu Thân, bọn chúng mới bắt đầu tháo chạy, và Huế thật sự ngưng tiếng súng vào sáng ngày 26 tháng giêng âm lịch.

Huế trong cảnh đổ nát điêu tàn đầy xác người đã sình thối, Huế nhiều mồ chôn tập thể trong thành phố, Huế đói, Huế lạnh, Huế cơ cực, Huế có quá nhiều người Huế tỵ nạn ngay trong thành phố Huế. Huế với những trại tỵ nạn, trong đó, đầy những trẻ thơ, góa phụ, ông bà già đang đói, đang run rẩy vì trời Huế quá lạnh. Huế với những tiếng khóc tức tưởi, Huế với những tiếng nấc và dòng nước mắt nghẹn ngào của thiếu phụ, của cha, của mẹ, của anh, của em, của bạn bè gần xa. Huế với những tiếng thét kinh hoàng, thất thanh, vút tận trời xanh mỗi khi tìm ra thân xác thân nhân mình đã sình thối.

Huế sau 26 ngày bị VC chiếm đóng là thế đó. 5327 thường dân vô tội bị tên sát nhân tàn bạo nhất thế kỷ là Hồ Chí Minh và Bộ Chính Trị đảng Cộng Sản Việt Nam của y sát hại, cùng với 1200 thường dân bị chúng bắt dẫn đi mất tích.

Huế đang trong tuyệt vọng thì Thiếu tướng Nguyễn Ngọc Loan Tư Lệnh CSQG đến Huế cùng với những chiếc phi cơ C-130 của Không Quân VNCH chất đầy những phẩm vật tiếp cứu khẩn cấp cho đồng bào Huế.

Tôi đón ông tại Phi trường Phú Bài, vừa bước xuống cầu thang máy bay, ông đã nói:

- Tưởng mày bị bọn nó chôn sống rồi!
- Đâu dễ vậy Thiếu tướng, em lính mà!


Trong khi chờ đợi bốc hàng khỏi máy bay, tại phòng khách danh dự của phi trường Phú Bài, tôi trình với ông tất cả những diễn biến xảy ra trong suốt 26 ngày qua. Ông nắm tình hình Huế rất vững, chính xác. Ngoài việc hằng ngày tôi báo trình vào Bộ Tư Lệnh, ông còn hai hệ thống an ninh báo cáo cho ông, đó là Cục An Ninh Quân Đội và Phủ Đặc Ủy Trung Ương Tình Báo.

Ông hỏi tôi:

- Hai thằng Cán, và Đoàn Công Lập mày bắt chúng nó chưa?

- Quận Cán thì đã bắt rồi, nhưng Đoàn Công Lập thì chưa, vì ông ta đang còn là Chief của em, và cũng chưa có lệnh của Thiếu tướng làm sao bắt được. Hơn nữa, chuyện ông ta làm nội tuyến em đang bám sát, có bắt bây giờ cũng chưa đủ dữ kiện để truy tố ra tòa.

- Bao nhiêu anh em tử trận, bị thương?

- Trình Thiếu tướng, 150 người tử trận, bị thương nặng nhẹ gần 60 người.

- Số bị thương nằm ở đâu?

- Trình Thiếu tướng ở tại Bệnh viên Trung Ương Huế.

- Ngày mai đi thăm họ.

Tại BCH/CSQG Thừa Thiên-Huế, Thiếu tướng Loan quyết định giao quận trưởng Nguyễn văn Cán nguyên Trưởng Ty CSQG Thị xã Huế cho Trung tá Nguyễn Tự Cường, Trưởng Ty ANQĐ Thị xã Đà Nẵng thụ lý, hoàn tất hồ sơ nội vụ trong thời hạn sớm nhất. Truy tố Tòa Án Quân sự Mặt Trận Vùng I với tội danh hoạt động cho địch, tiếp tay với kẻ thù sát hại đồng bào và đồng đội trong thời gian Tết Mậu Thân, với bản án đề nghị: Tử hình - Và sẽ đem ra Huế hành quyết.

Về phía ông Đoàn Công lập Trưởng Ty CSQG Thừa Thiên-Huế, Tướng Loan giải nhiệm chức vụ trưởng ty tại chỗ, bắt giữ đương sự với tội danh: Hèn nhát trước địch quân, bỏ trốn đơn vị khi tác chiến và tẩu tán tài sản quốc gia (hơn 400 vũ khí trong kho đã bị thất thoát một cách mờ ám). Ông Lập bị giải vào BTL/CSQG ngày 27/2/1968.

Ngày 27/2/1968 khi đến thăm viếng và trao tặng một số phẩm vật cứu trợ như chăn mền, thực phẩm, cho đồng bào tại các trại tỵ nạn ở các trường trung, tiểu học trong thành phố Huế. Nhìn cảnh sống quá cơ cực hôi hám và thiếu thốn phương tiện vệ sinh tối thiểu, nét mặt đăm chiêu buồn bã, bất chợt ông nói với
tôi:

- Thật quá tội! Tình hình đã tạm ổn sao họ chưa về nhà?

- Trình Thiếu tướng, những nguời còn nhà họ đã về từ hôm qua, những người này nhà cửa đã bị bọn Việt cộng đốt cháy rụi rồi, còn nhà đâu nữa mà về
!

Nghe tôi nói xong, ông im lặng, chẳng nói năng gì.

Sau khi thăm một số anh em cảnh sát bị thương đang nằm tại Bệnh viện Trung Ương Huế, trên đường trở về lại BCH/CSQG, ông nói với tôi:

- Tao đã có cách giúp họ! Đi gặp tỉnh trưởng, xin thằng này một khu đất, mình xây nhà cho họ ở.

Hóa ra từ nãy giờ ông đang miên man suy nghĩ về cảnh cơ cực của đồng bào tỵ nạn. Tôi thật ngạc nhiên, chẳng nói gì, nhưng thầm nghĩ: vật dụng đâu mà xây?

Nhà cửa đâu nữa mà về?

Cảnh cơ cực của đồng bào Huế đã làm Thiếu tướng Nguyễn Ngọc Loan đau lòng. Ông sau đó đã đích thân xây cất trại tỵ nạn Tình Thương cho dân Huế
.

Nhân đi gặp ông tỉnh trưởng, tôi nghĩ đây là cơ hội tốt để Thiếu tướng Loan có thể can thiệp với ông ta giúp tôi về việc một mình kiêm hai chức vụ: Phó Ty Cảnh Sát Đặc Biệt và Quận Trưởng Quận III Thị xã Huế:

- Thiếu tướng, em kiêm hai chức vụ, trọng trách quá nặng, sợ không chu toàn nổi. Bây giờ tình hình quân sự đã tạm ổn, Thiếu tướng nói với ông ta cho em giao lại, về lo việc tình báo bên Cảnh Sát Đặc Biệt.

- Đúng rồi, đó là điều tao muốn nói với ông tỉnh trưởng, trả mày lại cho tao! Mày còn nhiều việc phải làm. Ba hôm sau tôi bàn giao Quận III Thị xã Huế cho một Thiếu tá và trở lại thuần túy lo công việc của ngành CSĐB.


Thiếu tướng Nguyễn Ngọc Loan và trại tỵ nạn Tình Thương cho đồng bào Huế.

Theo yêu cầu của Thiếu tướng Loan, ông Tỉnh Trưởng đã cấp một khu đất rộng và dài tại đường Hòa Bình, thuộc Quận I thành nội Huế. Khu đất rộng mênh mông này nằm sát Tử Cấm Thành của Hoàng Cung. Cầu không vận của binh chủng Không Quân VNCH đã được thiết lập giữa Sài Gòn-Huế, hàng tấn vật liệu xây cất như tôn, xi măng đã được chở ra Huế. Với hơn 100 nhân viên Cảnh sát do tôi tuyển chọn, và khoảng 200 đồng bào tình nguyện, như vậy là 300 nhân công, loại có tay nghề cũng có, và loại tay mơ trời ơi đất hỡi như tôi cũng có, do ông cai thầu cũng thuộc loại trời ơi đất hỡi là “Anh Sáu Lèo” tức Thiếu tướng Nguyễn Ngọc Loan tức chỉ huy, phó cai thầu là Trung úy Liên Thành. Chỉ trong 16 ngày, chúng tôi hoàn tất khoảng 500 căn nhà, mái lợp tôn, vách bằng đủ mọi thứ có được, hầu hết là ván ép. Như vậy có chỗ cho 500 gia đình trú ngụ tạm thời, không phân biệt họ là ai. Gia đình quân đội, cảnh sát, công chức, thường dân, những ai mất nhà mất cửa đều được mời vào trú ngụ.

Trong suốt 16 ngày xây cất. Ngoại trừ những lúc phải giải quyết công việc khẩn cấp, ngoài ra, hầu hết thì giờ Thiếu tướng Loan đều có mặt, ông cũng xắn tay áo, tay cầm búa cầm đinh, miệng la hét đốc thúc y như là ông cai thứ thiệt. Có một lần tôi cũng như ông, tay búa tay đinh cùng đám đệ tử đứng gần, bất chợt, nhìn dáng dấp của ông, tôi nín cười không được quay qua nói với đám đệ tử:

- Bọn bây nhìn ông Tướng mình giống anh cai thầu quá phải không?

Cả bọn cùng cười, bị ông bắt gặp, ông hỏi chúng tôi:

- Đ... cụ chúng này cười gì đó?

Tôi trả lời ông tỉnh bơ:

- Thì cười Thiếu tướng đó, trông ông giống y chang ông cai thầu.

Ông cũng cười theo, nụ cười thật hiền lành.

- Thôi làm việc đi, làm nhanh lên cho đồng bào có chỗ ở.

Mười sáu ngày sau, ngày khánh thành khu Trại Tình Thương cho đồng bào tỵ nạn Huế, Thiếu tướng Loan đứng vòng tay ngay cửa chính nhìn đồng bào nhập trại với nụ cười thỏa nguyện, mọi người đi ngang trước mặt ông đều cất tiếng:

- Cám ơn Thiếu tướng,
- Cám ơn Ông Tướng,
- Cám ơn Ôn.


Ông vẫn đứng vòng tay im lặng, ngắm nhìn họ bằng ánh mắt trìu mến, không nói năng chi.

Huế tan nát không còn nhà mà về, Thiếu tướng Nguyễn Ngọc Loan hối hả xây dựng ngay trại tỵ nạn Tình Thương cho dân Huế nương náu.

Trong các tướng lãnh Việt Nam Cộng Hòa, và có lẽ ngay cả trong lịch sử, hình như chỉ có mỗi ông Tướng Nguyễn Ngọc Loan là chính tay ông lao động cực nhọc xây chỗ ở cho dân chúng và xả thân chiến đấu như những khinh binh. Thiếu tướng! Trong trăm ngàn nỗi khổ đau khốn cùng mà dân Huế đã cắn răng gồng mình chịu đựng suốt 26 ngày VC tàn sát thân nhân họ, và chính bản thân họ, trong kinh hoàng, trong run rẩy đói lạnh tại các trại tỵ nạn, ông đã tìm về với họ, về với Huế, về với thành phố đầy ắp những kỷ niệm thời niên thiếu của ông, với một tấm lòng, một vòng tay, và một trái tim mở rộng che chở họ.

Dân Huế ghi lòng tạc dạ ân tình đó, để rồi 5 tháng sau, khi VC tấn công vào Sài Gòn trong đợt II, tôi sang trại tị nạn Tình Thương của ông báo cho họ biết Thiếu tướng Loan đã bị trọng thương, ông đã bị địch bắn gãy hai chân trong một trận giao tranh với chúng tại cầu Phan Thanh Giản Sài Gòn.

Thiếu tướng! Ông biết không, những nguời đó, những kẻ khốn cùng mà ông đã cứu giúp, cả mấy trăm người trong trại tỵ nạn đã bật khóc thành tiếng. Những dòng nước mắt ràn rụa của góa phụ, của ông già, của bà lão đã tuôn trào ra tiếc thương ông. Lẫn trong những tiếng khóc nghẹn ngào đó chợt có tiếng la lớn của một cụ già, rất già: Ông trời ơi! Răng người nhân đức như ông mà lại gặp nạn.

Thiếu tướng, những giọt nuớc mắt và tiếng thét lớn của cụ già là những lời cám ơn chân thành nhất của họ, là tình yêu của người dân Huế đối với ông, mà họ đã ấp ủ trong lòng từ lâu lắm rồi đối với ân nhân của họ. Sau Trại Tình Thương, những ngày kế tiếp, Thiếu tướng Loan hỏi lại tôi:

- Bao nhiêu anh em tử trận?
- 150 người, Thiếu tướng.
- Quá nặng!


- Mày nói thằng trưởng phòng hành chánh của mày lập thủ tục khẩn cấp, tuyển dụng vợ của 150 anh em tử trận vào nữ cảnh sát, ngành Đặc Biệt của mày để họ có lương tiền nuôi nấng con cái của họ. Tao không có tiền giúp họ, chỉ còn cách này thôi, phải làm gấp. Tao ký lệnh tuyển dụng, và muốn gặp mặt họ truớc khi về lại Sài Gòn.

Tôi hiểu và thi hành ngay. Tôi may mắn có được Đại úy Hoàng Thanh Tùng, một sĩ quan cảnh sát trẻ năng động và nhiệt tình. Chỉ vỏn vẹn bốn năm ngày sau, vừa hồ sơ tuyển mộ, vừa hồ sơ xin trợ cấp tử tuất, đã làm xong.

Thật tình đây là một cuộc tuyển mộ độc nhất vô nhị khó thấy trong chế độ VNCH! Hoàn toàn phi hành chánh, không hợp với điều lệ tuyển mộ, mà chỉ có anh “Sáu Lèo” mới dám tuyển mà thôi, vì hầu hết các bà quả phụ đều không biết đọc mà cũng chẳng biết viết một chữ nào cả. Nó rất là sái luật, bất hợp pháp nhưng lại hợp với lòng nhân đạo, thương người, và nhất là cá tính yêu mến và lo lắng cho thuộc cấp, cho dân chúng của Thiếu tướng Nguyễn Ngọc Loan, Tư Lệnh Cảnh Sát Quốc Gia.

Độc nhất chỉ có Thiếu tướng Nguyễn Ngọc Loan là người tuyển mộ nữ nhân viên cảnh sát kiểu như thế này. Ngày những “nữ cảnh sát viên” nhận việc, Thiếu tướng Nguyễn Ngọc Loan đích thân đến gặp họ trong một hội trường lớn của BCH/CSQG Thừa Thiên-Huế.

Hội trường đông kín với khăn áo sô của 150 quả phụ, với trẻ thơ theo mẹ, nhỏ nhất là hai tháng tuổi, lớn nhất là năm, mười tuổi. Quang cảnh đượm màu tang chế u buồn. Tất cả im lặng và chờ đợi Thiếu tướng Loan lên tiếng. Với giọng nói Bắc pha Huế, ông chia buồn cùng họ, giọng nói nhỏ nhẹ nghẹn ngào. Trong
hội trường chợt có những tiếng khóc thút thít. Tôi nhìn ông, bất chợt ông quay mặt đi, tôi kịp thấy có chút ngấn lệ trong mắt ông.

Cuối cùng ông cất tiếng nói to hơn:

- Ngày hôm nay tôi tuyển quý bà vào lực lượng cảnh sát, để các bà các cô có đồng lương nuôi nấng các cháu. Kể từ ngày hôm nay, các cô, các bà là “nữ cảnh sát viên của Ty Thừa Thiên-Huế”.

Nhiều tiếng cám ơn Ôn trong đám đông cùng với tiếng khóc, có lẽ họ đã quá xúc động trước tấm lòng nhân hậu của ông.

Ông chợt đến gần một quả phụ đang bồng một hài nhi khoảng hơn 1 tháng tuổi và hỏi cô ta:

- Bây giờ bà là “Nữ Cảnh Sát” rồi đó, bà muốn làm gì?

- Thưa ôn, cho em làm chi cũng được, em đi chợ, nấu ăn, dọn dẹp nhà cửa.

Ông cười và nói lớn để mọi người cùng nghe:

- Cảnh sát không có việc đi chợ nấu ăn, thôi, các bà về, hằng tháng đến gặp cái ông Trung úy trẻ Liên Thành này mà lãnh lương. Chẳng có việc gì cho các bà, các cô cả.

Quá hoảng, tôi lắp bắp với ông:

- Thiếu tướng, chết em! chết em!... 150 bà đó! Thiếu tướng! không phải ít đâu. Em chết chắc!

- Thì Đ... cụ mày, cho mày chết.

Mọi người ra về, ông nói riêng với tôi:

- Mày cố gắng lo cho họ đàng hoàng, sức tao chỉ có thể giúp họ ngang đó.

Thiếu tướng! Hơn 40 năm trôi qua kể từ ngày đó, đã bao nhiêu đổi thay cho thân phận và nỗi oan khiên nghiệt ngã của ông, nhưng 150 quả phụ, và hơn 300 trẻ thơ lúc đó mà nay đã hơn 40 tuổi, một số đã may mắn định cư tại HK, họ đã nên người, là kỹ sư, là bác sĩ, là luật sư. Tôi đã có dịp gặp lại một số họ, cả mẹ lẫn con đều nhắc tên ông, tên Thiếu tướng Loan với sự kính trọng và lòng biết ơn vô vàn tấm lòng nhân đức của ông.

- “Không có Thiếu tướng Loan cứu mẹ con tôi, chúng tôi đã không có cơm ăn, áo mặc.” Đó là lời nói của những cô nhi quả phụ năm xưa, những người mà ông tuyển họ vào “nữ cảnh sát tại gia”, không hề có một luật lệ thủ tục nào cả!

Ngoài ra, cũng phải nói thêm về việc Thiếu tướng Nguyễn Ngọc Loan thành lập Trung Tâm Phượng Hoàng tại BCH/CSQG Thừa Thiên Huế.

Vừa khánh thành xong trại tỵ nạn Tình Thương khoảng 12 tiếng, chưa kịp thở, ông lại bày trò chơi khác. Lần này là Trung Tâm Phượng Hoàng, một danh từ nghe quá xa lạ với chúng tôi.

Đầu tiên, ông bắt dời Trung Tâm Văn Khố đã có từ thời Mật thám Pháp cho đến Mậu Thân 1968, ông muốn dùng phòng này làm Trung Tâm Phượng Hoàng. Thế là phải mất một ngày dời đi chỗ khác. Hồ sơ văn khố vừa dời đi, thì ván ép, gỗ, đinh búa, máy lạnh ập vào, và ông Tướng lại làm cai thợ. Hai mươi tay cảnh sát viên có tay nghề là thợ mộc, còn tôi là thứ 21 thứ thợ dỏm, dưới quyền chỉ đạo của cai thầu dỏm “Sáu Lèo”, bắt đầu cưa, đục, đóng, nghe điếc tai suốt ngày. Đã thế, thêm anh “Sáu Lèo” vừa đóng đinh vừa thét, la lối chỉ trỏ lung tung. Cuối cùng, sau một đêm một ngày không ngủ lao động vinh quang, căn phòng rộng mênh mông đã bọc phủ ván ép, máy lạnh chuyên viên điện cũng đã bắt xong.

Tôi nói với anh em:

- Sắp chết, sắp chết, mệt quá...

- Đ... Cụ thằng Trung úy con, nói gì đó?

- Thì nói gì nữa, bóc lột sức lao động quá xá, gần một ngày, một đêm làm hộc hơi mà ông cai không cho ăn.

- Chúng mày chưa ăn sao? Đi ăn đi.

Ông thọc tay vào túi quần rồi rút tay ra, y như trò chơi năm lớp tư lớp ba, túi rỗng, ông chẳng có đồng nào. Thấy vậy viên sĩ quan cấp tá trong ban tham mưu của ông dúi cho chúng tôi khoảng bảy tám ngàn gì đó. Thật ra chúng tôi đã thay nhau đi ăn rồi, nhưng muốn tống tiền anh cai “Sáu Lèo” để tích trữ, tối kéo nhau đi nhậu.

Thế là Trung Tâm Phượng Hoàng cấp tỉnh, có lẽ là đầu tiên được thành lập từ Mậu Thân 1968, do tôi làm Tổng Thư Ký điều hành Trung tâm Phượng Hoàng Thừa Thiên-Huế từ cuối tháng 2/1968 cho đến 1975.

Chiến Dịch Phượng Hoàng Thừa Thiên-Huế

Có một điều mà những ai gần gũi và làm việc trực tiếp với Thiếu tướng Loan mới thấy rõ được bản chất thật sự của ông. Ông là một người rất giàu tình cảm, dễ xúc động, bản chất nhân hậu thương người, và điểm đặc biệt khi làm việc rất tận tụy, chi tiết, và thông minh lạ thường.

Trung Tâm Phượng Hoàng vừa thành lập xong, ngày hôm sau tôi đã phải ngồi nguyên ngày với ông để nghe ông giảng bài, để nghe ông nói về mục đích, về điều hành, về phối hợp với các cơ quan tình báo bạn của VNCH và phối hợp với cơ quan tình báo đồng minh như thế nào, trong chương trình Phượng Hoàng. Rồi thì cách thức thiết lập hồ sơ hạ tầng cơ sở địch v.v. và v.v. Ông giảng giải cho tôi như là một ông thầy trong trường Tình báo.

[Sẽ nói chi tiết về chương trình Phượng Hoàng này sau]

Sau gần một tháng ở Huế, Thiếu tướng Loan và toàn bộ tham mưu của ông về lại Sài Gòn. Còn nhớ ngày tôi đưa ông xuống phi trường Phú Bài, ông dặn tôi hai việc:

1- Trại Tình Thương là cố gắng của lực lượng CSQG chúng ta nhằm giúp đỡ đồng bào tỵ nạn Huế. Giao lại cho mày, nhớ lo an ninh giúp đỡ đồng bào cho chu đáo.

2- Đám 150 quả phụ đó và đám trẻ, mày gắng lo cho họ.

- Dạ Thiếu tướng, em sẽ lo chu toàn, Thiếu tướng an tâm.

Tâm tư ông chỉ dành cho đồng bào Huế và các cô nhi quả phụ, trước giờ chia tay ông băn khoăn và bịn rịn không đành.

Tại sân bay Phú Bài, tôi và ông đứng cạnh máy bay đợi anh em cảnh sát chất hàng lên. Tất cả là những vật dụng ông đem ra từ Sài Gòn, trong đó có 4 xe Jeep của các sĩ quan trong bộ tham mưu và một chiếc của ông.

Chiếc xe của ông là chiếc chót được đưa lên máy bay thì bỗng ông cho lệnh đem xe đó xuống lại, và tài xế lái xe đậu gần ông. Ông lấy chìa khóa xe trong tay viên tài xế và giao cho tôi:

- Cho mày, chiếc xe này đầy đủ mọi thứ trên đó, mày cần để làm việc. Chỉ có chiếc máy truyền tin Motorola trên xe thì trả lại cho tao vì khác tần số ở đây.

Tôi chưa kịp nói câu gì, cho dù là hai tiếng cám ơn thì ông vỗ vai tôi và đi thẳng lên máy bay, chẳng thèm nhìn lại.

Ngày 5 tháng 5 năm 1968, VC mở đợt II Tổng Công Kích vào Thủ Đô Sài Gòn Thiếu tướng Nguyễn Ngọc Loan đã cùng với các đơn vị cảnh sát can trường của ông lại xông pha trận mạc, chiến đấu ngày đêm trên đường phố Sài Gòn-Chợ Lớn. Ở đâu có hình bóng ông là ở đó tinh thần anh em cảnh sát dậy sóng theo bước chân ông.

Oan khiên thay, lần này ‘hùm thiêng’ đã bị sa cơ, Thiếu tướng Loan đang cầm súng chiến đấu bên cạnh những nguời lính cảnh sát của ông y như một khinh binh thì ông bị địch bắn trọng thượng vào cả hai chân tại ngay trên cầu Phan Thanh Giản Sài Gòn. Ông ngã quỵ.

Một anh hùng của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa và của lực lượng Cảnh Sát Quốc Gia đã ngã quỵ!

Ông đã gục ngã, cả thân xác lẫn cuộc đời của một Anh Hùng Hào Kiệt của một tướng lãnh Không Quân VNCH và CSQG.

Những cay đắng, nghiệt ngã nhất của cuộc đời bắt đầu đến với ông ngay ngày đó cũng chỉ vì tấm hình. Tấm hình oan nghiệt mà gã thợ ảnh Eddie Adams phóng viên của hãng AP đã chụp vào trước đó trong đợt I Tổng Công Kích của Việt cộng tại Sài Gòn.

Eddie Adams và tấm hình của anh ta đã đốn ngã đời của Thiếu tướng Nguyễn Ngọc Loan một cách tàn bạo. Sau này anh ta gào thét phân trần hối hận, vì hành động tung ra bức hình oan nghiệt đó, nhưng tất cả đã muộn.

Ngày ông bị trọng thương, ông được chở sang Úc để chữa trị, nhưng công luận Úc phản đối. Người ta xem sinh mạng của một tên Việt cộng giết người tàn bạo lớn hơn một vị tướng lãnh đem cả cuộc đời bảo vệ dân tộc đất nước. Người ta hành hạ ông trên nỗi đau đớn cả thể xác lẫn tâm hồn. Người ta lại chở ông sang bệnh viện Walter Reed Army Medical Center tại Washington DC, Hoa kỳ, ông cũng lại gặp sự quay lưng ngoảnh mặt của những kẻ mà trước đó ông đã từng xả thân cứu họ. Những công dân của một quốc gia dân chủ và công bằng nhất thế giới là Hoa Kỳ mà lại đối xử với ông như những kẻ man rợ, như những người đã cạn lòng nhân đạo, thấy chết vẫn không cứu. Ngu xuẩn và vô lương tâm nhất chính là những dân biểu trong quốc hội. Họ cũng chống đối một kẻ đang bị thương trầm trọng, cần được chữa trị cấp thời, họ cũng xem sinh mạng của tên đặc công Việt cộng là quý giá hơn người bạn đồng minh của họ. Thật phũ phàng, chính Tướng Loan lại là bạn bè đồng minh và là ân nhân của công dân của họ đã cứu nhiều sinh mạng người Mỹ trong trận đánh Mậu Thân.

Lần nữa, Thiếu tướng Loan bị từ chối chữa trị. Ông trở về với đôi chân tật nguyền khập khiễng.

Ông giải ngũ, rời khỏi đời sống quân đội, nơi mà ông đã suốt đời tận tụy với tấm lòng ái quốc mà không một ai có thể phủ nhận.

Ngày tháng còn lại ông để hết thì giờ giúp trẻ mồ côi.

Tôi đã viết và biết gì về Thiếu tướng Nguyễn Ngọc Loan?

Những gì tôi biết về ông quá ít và quá hạn hẹp, vì thời gian gần ông và làm việc cạnh ông không bao nhiêu. Có một người rất thân cận với ông và cùng sát cánh với ông trong những giờ phút điêu linh và nguy nan nhất của tổ quốc và dân tộc như biến động Miền Trung 1966, Mậu Thân năm 1968, đó là Đại tá Trần Minh Công, nguyên trưởng ty CSQG thị xã Đà Nẵng 1966. Trưởng Ty CSQG quận II thủ đô Sài Gòn 1968, và sau đó là Viện Trưởng Học Viện CSQG/VNCH. Xin nhường lời để Đại tá Trần Minh Công nói về Thiếu tướng Nguyễn Ngọc Loan:

- “Nhìn phong cách và diện mạo của Thiếu tướng Nguyễn Ngọc Loan, nhiều người cứ tưởng lầm ông là một bạo Tướng. Nhưng nhiều lần tôi đã chứng kiến ông ngồi khóc một mình. Hiểu ra mới biết ông là một người rất giầu tình cảm. Ông thương yêu thuộc cấp và sống chết với họ. Kể cả khi ông bắt gặp đàn em làm bậy, ông cũng không nỡ trừng phạt mà chỉ răn đe để họ cải sửa. Mỗi khi thuộc cấp hy sinh tử trận, ông khóc thương nước mắt đầm đìa. Khi thượng cấp hiểu lầm ông, ông cũng khóc.

Ông kể lể: “Tao phục vụ Quốc gia, Dân tộc, chứ tao đâu phục vụ cho cá nhân nào”.

- “Tướng nguyễn Ngọc Loan là một vị Tướng trí thức trong hàng ngũ Tướng lãnh VNCH. Tướng Loan là một người rất can đảm, một cấp chỉ huy tài ba và là một vị anh hùng dân tộc. Ít có một vị Tướng nào lại cùng cầm súng chiến đấu ngoài mặt trận như một người lính bình thường bên cạnh những người lính khác. Nếu không có Tướng Loan xông pha bảo vệ Thủ Đô Sài Gòn trong dịp Tết Mậu Thân, tôi nghĩ Sài Gòn sẽ không khác gì Huế”.

Và đây là những nhận xét và hối hận của Eddie Adams, thợ nhiếp ảnh của Hãng thông tấn AP, kẻ đã đưa cuộc đời của một anh hùng quân lực VNCH vào khúc quanh u uất, nghiệt ngã:

- Tôi mặc đồ dạ hội sang trọng để lãnh giải thưởng và tiền thưởng về bức hình đó tại Đại hội nhiếp ảnh tại Hòa Lan. Khi ban nhạc trổi bài quốc ca Hoa Kỳ, tôi bật khóc. Không phải tôi khóc vì sung sướng, mà khóc cho Tướng Loan. Cho tới giờ phút đó tôi vẫn chưa ý thức được việc tôi đã làm. Khi chụp tấm hình đó, tôi đã hủy hoại đời ông Tướng, vì ông bị dân chúng ở cả nước ông lẫn Hoa kỳ lên án về tội giết tù binh chiến tranh. Trong bất cứ cuộc chiến nào, người ta cũng vẫn còn làm như vậy, nhưng hiếm có nhiếp ảnh viên nào chụp được mà thôi. Tướng Loan là một vị anh hùng của chính nghĩa. Bức hình tôi chụp đã lừa dối công luận.... Vậy mà mọi điều nhục nhã lại đổ trên đầu con nguời này!!!

Sau này, khi Adams đến thăm Tướng Loan tại thành phố Springfield, VA, khi nhắc đến tấm hình oan nghiệt năm xưa, Thiếu tướng Loan không hề nói một lời oán trách Edie Adams, mà ngược lại ông còn an ủi Adams:

- Ông làm nhiệm vụ của ông, tôi làm nhiệm vụ của tôi. Chỉ có thế thôi!

Khổng Phu Tử sống lại cũng chỉ có thể nói được câu đó.

Ông đúng là một người luôn sống với một tấm lòng, một tâm hồn quân tử. Adams xúc động trước lời nói cao thượng đó của Tướng Loan, kể từ đó, họ trở thành hai người bạn thân.

Trong cuốn Chiến Sử QLVNCH, tác giả Phạm Phong Dinh đã viết về Thiếu tướng Nguyễn Ngọc Loan:

- “Thiếu tướng Nguyễn Ngọc Loan cùng lực lượng CSQG trong đó có Cảnh Sát Dã Chiến, chịu trách nhiệm đánh địch tại lãnh thổ các quận 1,2,3,4,5. Các chiến hữu Cảnh Sát liên tục mở các cuộc hành quân loại địch ra khỏi dân chúng. Tuy nhiên, khi mặt trận Hàng Xanh nổ lớn, Thiếu tướng Loan đã điều động Cảnh Sát Dã Chiến và đích thân ông chiến đấu sát cánh với các chiến sĩ Mũ Nâu Tiểu Đoàn 30 BĐQ của Liên Đoàn 5 BĐQ. Các thám thính xa V100 của Cảnh Sát cũng đã được gởi tăng viện mặt trận. Quân ta tiến vất vả và bị chận trên khắp mặt trận là bởi vì bọn Việt cộng man rợ lưu manh chúng lùa thường dân, đàn bà, người già và trẻ em làm bia đỡ đạn, hoặc dùng súng bắn chận không cho đồng bào di tản ra khỏi khu vực giao tranh. Các chiến sĩ Cảnh Sát Quốc Gia đã được Thiếu tướng Loan điều động đến càn quét Việt cộng khu vực Thị Nghè. Gia đình của một Đại úy Cảnh sát trong khu vực này chạy không kịp, đã bị Nguyễn văn Lém tự Bảy Lốp Đại úy Đặc Công VC tàn sát man rợ.”

Những Dòng Lệ Khóc Thương Thiếu tướng Nguyễn Ngọc Loan:

Ngày 14-07-1998 lúc 20 giờ, Thiếu tướng Nguyễn Ngọc Loan vĩnh biệt mọi người, vĩnh viễn ra đi, để lại phu nhân, 5 người con và 9 cháu nội ngoại. Ông hưởng thọ 68 tuổi.

Kính Thiếu tướng,

Thiếu tướng ra đi vào ngày 14-07-1998, mãi đến ngày hôm sau chúng tôi mới nhận được tin Thiếu tướng mất.

Hùm chết để da, người chết để tiếng.

Ông đã để lại sự kính trọng và lòng biết ơn của rất nhiều anh em chúng tôi, những kẻ đã một thời phục vụ dưới quyền ông. Ông đã để lại những ân tình, ân nghĩa trong lòng người dân Huế, trong lòng xứ Huế, nơi mà ông đã sinh ra và lớn lên. Ông đã để lại nỗi xúc động và những ân nghĩa khắc sâu trong lòng 150 quả phụ và trên 300 cô nhi, khi chồng, cha của những người này, những chiến hữu thuộc cấp của ông, đã hy sinh vì bổn phận và trách nhiệm của một nhân viên công lực tại Huế vào Mậu Thân 1968. Ông đã để lại những tiếng khóc nức nở nghẹn ngào của nhiều ngàn người Huế trong Trại Tỵ Nạn Tình Thương, ngôi trại mà chính ông đứng ra xây cất cho đồng bào tỵ nạn vào Mậu Thân tại Huế, khi mà tháng 5 Mậu Thân 1968 tôi báo cho họ biết là Thiếu tướng Loan đã bị trọng thương trong một trận đánh với VC tại Sài Gòn.

Tôi nhớ và nhớ rất rõ đã bắt gặp những giọt nước mắt của ông khi ông nhìn thấy nỗi cơ cực của đồng bào trong các trại tỵ nạn thành phố Huế. Mắt đỏ, mặt thật u buồn, khi ông gặp 150 quả phụ và hơn 300 trẻ thơ tại hội trường BCH/CSQG Thừa thiên-Huế, trong ngày đầu ông tuyển họ làm “nữ cảnh sát tại gia”, để những người đó có cơm ăn áo mặc, để trên 300 cô nhi kia cũng nhờ tấm lòng nhân đức của ông mà chúng đã lớn khôn, thành người lương hảo. Ngày chia tay Huế tại phi trường ông chỉ dặn dò tôi chăm sóc đồng bào và các cô nhi quả phụ CSQG, ngoài ra không có lời nào khác.

Có ai yêu nước thương dân hơn ông không tôi không biết, nhưng tôi biết chắc rằng khi điểm lại lịch sử ông quả là bậc hào kiệt trí thức khí phách quân tử can trường, thương dân thương lính hơn cả bản thân mình.

Một điều nữa, bên cạnh sự dũng mãnh tự tin hiếm có, Thiếu tướng còn là một người quá giàu tình cảm, dễ xúc động, lệ ông đã rơi không biết bao nhiêu lần cho Mậu Thân Huế, cho người dân và cho cuộc chiến bi thảm này!

Thiếu tướng, cõi đời này, có mấy ai nhận được những dòng lệ tiếc thương từ trái tim những người không phải là thân nhân của mình, khi mình nằm xuống? Chỉ có ông, Thiếu tướng Nguyễn Ngọc Loan, Tư Lệnh CSQG/VNCH, 1966-1968.

Ông đã đem sinh mạng và danh dự của đời ông, hy sinh bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ sinh mạng cho đồng bào, để rồi ông phải gánh chịu những đau đớn về thể xác và những oan khiên, nghiệt ngã về tinh thần. Đời thật quá bất công, vô ơn và phũ phàng. Tôi vẫn nhớ ông dặn tôi:

Họ nói gì thì kệ họ, trách nhiệm và bổn phận của mình, mình phải làm”.

Kính Thiếu tướng, tôi không thể để “họ nói gì kệ họ” về Thiếu tướng.

Xin ông an nghỉ! Cõi đời phiền muộn này ông đã dứt áo ra đi. Cái mà ông không thể đem theo được là lòng thương tiếc, sự kính trọng của rất nhiều chiến hữu và đồng bào đối với ông. Lịch sử kính trọng ông, đó là điều vĩnh cửu.

Thiếu tướng Nguyễn Ngọc Loan.
Vĩnh biệt Thiếu tướng!

Chí làm trai dặm nghìn da ngựa,
Gieo Thái Sơn nhẹ tựa hồng mao


Lời cuối, xin được viết lại lời nói của Eddie Adams, người phóng viên đã gieo oan nghiệt cho đời ông:

Càng tìm hiểu về Tưởng Loan tôi càng ngưỡng mộ tài đức của ông đã bảo vệ quê hương, được đồng bào Việt Nam thương yêu. Ngay khi cộng sản tấn công Sài Gòn, ông là vị tướng duy nhất trên khắp đường phố Sài Gòn để trực tiếp chỉ huy các lực lượng cảnh sát. Nếu không có Tướng Loan thì không biết số phận Sài Gòn sẽ ra sao?...” --Eddie Adam


Liên Thành
http://ubtttadcsvn.blogspot.com/2014/01/thieu-tuong-nguyen-ngoc-loan-tu-lenh.html

==//==
  

Bấm vào đây để in ra giấy (Print)

oOo

Bảng hướng dẫn: Lời giới thiệu | Bài 1 | Bài 2 | Bài 3 | Bài 4 | Bài 5 | Bài 6 | Bài 7 | Bài 8 | Bài 9 | Phim TSMT-68 | Bài viết MT68 | Đầu trang

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Bài 5
LÊ VĂN HẢO, THÍCH ĐÔN HẬU, HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNG, & NGUYỄN ĐẮC XUÂN,
4 NHÂN VẬT CHỊU TRÁCH NHIỆM TRƯỚC LỊCH SỬ & TÒA ÁN QUỐC TẾ
VỀ TỘI ÁC CHIẾN TRANH & TỘI ÁC DIỆT CHỦNG”
Liên Thành
(trích sách Huế Thảm Sát Mậu Thân 68 - Tác giả Liên Thành)

Bảng hướng dẫn: Lời giới thiệu | Bài 1 | Bài 2 | Bài 3 | Bài 4 | Bài 5 | Bài 6 | Bài 7 | Bài 8 | Bài 9 | Phim TSMT-68 | Bài viết MT68 | Đầu trang

Khoảng 6 giờ sáng ngày Mùng 2 Tết Mậu Thân 1968, sương mù tan dần, trời trở lạnh và thấp, Huế bật khóc trong nghẹn ngào tủi hận, khi nhìn về phía Kỳ Đài Phú Văn Lâu lá quốc kỳ VNCH không còn nữa, thay vào đó là một lá cờ gồm 3 phần: xanh, đỏ, xanh ở giữa nền đỏ có ngôi sao vàng. Đó chính là cờ của Lực Lượng Liên Minh Dân Tộc Dân Chủ Hòa Bình.

Phần đông đồng bào Huế cứ ngỡ đó là cờ của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, nhưng không phải vậy. Cờ của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam chỉ có hai phần: xanh và đỏ, giữa có ngôi sao vàng.

Lá cờ treo trên Kỳ Đài Phú Văn Lâu trong suốt 24 ngày gây chết chóc đau thương tột cùng cho đồng bào Huế là cờ của Lực Lượng Liên Minh Dân Tộc Dân Chủ Hòa Bình.

Người Huế sau hai mươi sáu ngày ngập trong đau thương, trong kinh hoàng bởi ngọn cờ “xanh, đỏ, xanh và ngôi sao vàng chính giữa” họ đã hỏi nhau:

a- Lực Lượng Liên Minh Dân Tộc Dân Chủ Hòa Bình là lực lượng của ai?

b- Khai sinh ra lúc nào? Mục đích gì?

c- Tại sao phục vụ dưới ngọn cờ này toàn là cán binh Việt cộng và đám nằm vùng?

d- Tại sao những những kẻ đã từng tham gia trong vụ phản loạn của Thích Trí Quang và Đôn Hậu vào 6/1966 đào thoát lên mật khu theo Việt cộng nay đều có mặt trong tổ chức này?

e- Tại sao lại giết hại đồng bào Huế nhiều như vậy?

Lực lượng Liên Minh Dân Tộc Dân Chủ Hòa Bình là lực lượng của ai?

Theo tài liệu giải mật:

- Tháng 5 năm 1967 Hồ Chí Minh chủ tọa phiên họp của Bộ Chính trị Trung Ương đảng Cộng sản Việt Nam để đánh giá tình hình, dự thảo chiến lược Đông-Xuân 1967-1968.

- Tháng 6 năm 1967 Bộ Chính Trị lại được triệu tập lần thứ 2 để bàn bạc kỹ lưỡng hơn dự thảo kế hoạch chiến lược Đông-Xuân 1967-1968.

- Tháng 10 năm 1967 Bộ Chính Trị triệu tập phiên họp lần thứ 3 từ ngày 20 đến ngày 24 tháng 10 năm 1967, trong năm ngày, thay mặt Quân Ủy Trung ương Văn Tiến Dũng trình bày dự thảo kế hoạch Đông-Xuân-Hè 1967-1968:

Thực hiện một cuộc đột kích chiến lược bất ngờ và mãnh liệt nhất, bằng cả hai lực lượng vũ trang và chính trị, tức là “Tổng Công Kich-Tổng Nổi Dậy”. Và Bộ chính trị quyết định thời gian mở cuộc “tổng tấn công và tổng nổi dậy” là vào dịp Tết Mậu Thân 1968.

- Ngày 28 tháng 12 năm 1967 Bộ chính trị triệu tập phiên họp đặc biệt dưới sự chủ tọa của Hồ Chí Minh và Lê Duẩn bí thư thứ nhất Ban chấp hành Trung Ương đảng, chính thức thông qua kế hoạch Tổng Công Kích-Tổng Nổi Dậy.

- Tháng 1 năm 1968 Ban chấp hành Trung Ương đảng họp lần thứ 14 tại Hà Nội thông qua nghị quyết tháng 12/1967 của Bộ Chính trị, quyết định: “Tổng Công Kích và Tổng Khởi Nghĩa” tại miền Nam Việt Nam.

Riêng về lực lượng để tổng khởi nghĩa đó là kết hợp quần chúng nông thôn và đô thị thành một lực lượng to lớn để tổng nổi dậy. Do đó Lực Lượng Liên Minh Dân Tộc Dân Chủ Hòa Bình ra đời.

Đây là lực lượng chủ lực và nòng cốt cho kế hoạch Tổng Khởi Nghĩa của Hồ chí Minh và của Bộ Chính Trị đảng Cộng sản Việt Nam tại Huế.

Vào ngày 21 tháng 1 năm 1968, Bộ Chính trị đã gởi một mật điện cho Phạm Hùng Trung Ương Cục Miền Nam, Võ Chí Công Khu Ủy Khu 5 và Tướng Trần văn Quang, Khu Ủy Trị Thiên quyết định của Bộ Chính trị về việc thành lập một mặt trận chính trị thứ hai sau Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam lấy tên là:

“Liên Minh Dân Tộc Dân Chủ Hòa Bình” nhằm phân hóa địch đến mức cao nhất, tranh thủ và tập hợp thêm những lực lượng những cá nhân chống Mỹ và Thiệu-Kỳ. Tranh thủ các tầng lớp trung gian ở đô thị, tranh thủ sự đồng tình và ủng hộ rộng rãi ở nước ngoài.

Riêng tại Cố Đô Huế Thiếu Tướng VC Trần Văn Quang Khu Ủy Trị Thiên giao cho Chính Ủy Lê Chưởng, sau này là Tổng Bí Thư Đảng Cộng sản Việt Nam, thi hành lệnh của Bộ Chính Trị thành lập Lực Lượng Liên Minh Dân Tộc Dân Chủ Hòa Bình tại Huế.

Lê Chưởng phối hợp cùng Hoàng Kim Loan, và Hoàng Lanh, hai cán bộ Thành Ủy Huế, chịu trách nhiệm phụ trách cuộc “Tổng Nổi Dậy”, gấp rút thành lập Lực Lượng Liên Minh Dân Tộc Dân Chủ và Hòa Bình trước thời điểm tấn công Huế để kịp thời trình diễn với đồng bào quốc nội cũng như tuyên truyền với quốc tế rằng: Lực Lượng Liên Minh Dân Tộc Dân Chủ Hòa Bình là một lực lượng tự phát của dân chúng miền Nam, được kết hợp bởi mọi thành phần yêu nước trong quần chúng và tôn giáo. Họ vùng lên “tổng nổi dậy”, “tổng khởi nghĩa” giành lại chính quyền trong tay Ngụy Quân, Ngụy Quyền, bè lũ tay sai, và Đế quốc Mỹ xâm lược ác ôn. Ngoài ra lực lượng Liên Minh Dân Tộc Dân Chủ Hòa Bình còn có nhiệm vụ: “Lùng, diệt, truy quét thành phần ác ôn, tàn binh ngụy, công an cảnh sát ‘Ngụy’, các thành phần làm tay sai cho tình báo CIA.”

Những thành phần nòng cốt được tuyển chọn đặt vào những chức vụ chủ chốt và quan trọng trong tổ chức Lực Lượng Liên Minh Dân Tộc Dân Chủ tại Huế gồm:

Chủ Tịch: Lê Văn Hảo.

Giáo Sư Nhân Chủng Học Trường Đại Học Huế. Lê Văn Hảo sinh quán tại Huế. Du học tại Pháp. Về nước vào năm 1965. Giáo sư của Đại học Sài Gòn và Đại học Huế về môn nhân chủng học.

Lê Văn Hảo hoạt động trong Tổ Trí Vận của Hoàng Phủ Ngọc Tường, Tôn Thất Dương Tiềm, Ngô Kha, Hoàng Văn Giàu, và Tôn Thất Hanh. Y tham gia phong trào nổi loạn vào năm 1966 của Thích Trí Quang, Thích Đôn Hậu tại Miền Trung-Huế.

Vụ phản loạn của Thích Trí Quang thất bại, Lê Văn Hảo bị lực lượng Cảnh Sát Đặc Biệt chúng tôi bắt giữ.

Chúng tôi đang thẩm vấn y để truy lùng bắt đám trí vận nội thành thì ông Trưởng Ty Đoàn Công Lập ký giấy trả tự do cho y. Tôi trực tiếp phản đối chuyện này với ông Đoàn Công Lập, nhưng vô hiệu. Ông là Trưởng Ty, là cấp chỉ huy trực tiếp của tôi. Ông ta có toàn quyền, đủ tư cách pháp lý pháp nhân, bắt ai, thả ai là quyền của ông ta. Và ông ta đã sử dụng quyền này để thả tù nhân Cộng sản ra, tôi biết làm sao hơn?

(1967 chúng tôi tình nghi ông Đoàn Công Lập làm nội tuyến. Sau Mậu Thân Đoàn Công Lập bị bắt. 1972 điệp viên VC Hoàng Kim Loan xác nhận y là cán bộ điều khiển Đoàn Công Lập. Sẽ nói rõ trong phần sau).

Gần cuối tháng 12/1967 trước trận đánh Mậu Thân, Hoàng Kim Loan đã chuyển Lê Văn Hảo lên mật khu học tập và nhận chỉ thị thi hành kế hoạch Mậu Thân để “tổng nổi dậy”, đồng thời nhận chức Chủ Tịch Liên Minh Dân Tộc Dân Chủ Hòa Bình.

Theo màn kịch cướp chính quyền này của Bộ Chính Trị đảng Cộng sản Việt Nam, Lê Văn Hảo được đề cử kiêm nhiệm thêm chức vụ Chủ Tịch Ủy Ban Nhân Nhân Cách Mạng thành phố Huế kể từ sáng Mùng 2 Tết Mậu Thân.

Phó Chủ Tịch: Thích Đôn Hậu

Chánh đại diện Phật giáo Ấn Quang miền Vạn Hạnh.

Thích Đôn Hậu là cơ sở Tôn Giáo Vận được tên Trung tá điệp viên Hoàng Kim Loan tổ chức hoạt động cho Cộng sản từ trước 1963.

(Xin đọc phần sau: “Sự thật về Thích Đôn Hậu”).

Tổng Thư Ký: Giáo Sư Hoàng Phủ Ngọc Tường.

Nguyên quán tại làng Bích Khê, Huyện Triệu Phong, Tỉnh Quảng Trị. Hai anh em Hoàng Phủ Ngọc Tường và Hoàng Phủ Ngọc Phan, là hậu duệ của Tuần Vũ Hoàng Hữu Xứng, đời Vua Tự Đức.

Tốt nghiệp Đại học Sư phạm Sài Gòn, Giáo sư Việt Văn trường Quốc Học, hoạt động trong tổ chức trí thức vận của Khu Ủy 5, và sau đó trực thuộc cơ quan Thành ủy Huế.

Hoàng Phủ Ngọc Tường tham dự hầu hết các vụ rối loạn tại Miền Trung. Với danh nghĩa là thành phần trí thức, y hoạt động kết hợp với tổ chức Học Sinh Sinh Viên Giải Phóng Thành phố Huế.

Từ cuộc tranh đấu của Phật Giáo Ấn Quang vào năm 1963, do hai tên Việt cộng nằm vùng trong Phật Giáo là Trí QuangĐôn Hậu cầm đầu, đến vụ khởi loạn tại Miền Trung vào năm 1966, Hoàng Phủ Ngọc Tường đều có mặt bên cạnh Trí Quang và Đôn Hậu, theo chỉ thị của Khu Ủy Khu 5 và tên Trung tá điệp viên Hoàng Kim Loan. Cũng như Nguyễn Đắc Xuân, Hoàng Phủ Ngọc Tường là một trong những thành phần tin cậy, là cánh tay mặt của Thích Trí Quang và Thích Đôn Hậu trong lực lượng học sinh, sinh viên và trí thức, lực lượng chủ lực của Đôn Hậu và Trí Quang trong các cuộc tranh đấu lên đường xuống đường gây rối loạn tại miền trung, Huế.

Sau cuộc đảo chánh phản loạn 1963 lật đổ nền đệ I Cộng Hòa, Tổng Thống Ngô Đình Diệm và hai bào đệ là ông Ngô Đình Nhu và ông Ngô Đình Cẩn bị thảm sát, thì tại Huế hai tên Việt cộng nằm vùng trong Phật Giáo là Trí QuangĐôn Hậu là hai tay quyền lực nhất nước, và chùa Từ Đàm mới thực là Dinh Độc Lập. Đám Việt cộng mặc lớp áo trí thức, sinh viên thuộc Đại Học Huế là những công thần của phong trào Phật Giáo Tranh Đấu, đã trở thành những kiêu binh nắm quyền sinh sát chính trị.

Kết quả lực lượng an ninh tình báo VNCH đã bị tên Việt cộng Trí Quang và Cục Tình Báo Chiến Lược Bắc Việt đánh tơi tả. Vì thế đám Việt cộng nằm vùng Hoàng Phủ Ngọc Tường mặc sức tung hoành chẳng ai dám đụng tới. Điển hình là từ 1964 tại Đại học Huế có hai tờ báo của Việt cộng ngang nhiên hoạt động. Tờ báo thứ nhất của nhóm trí thức thiên tả tại Đại Học Huế đó là tờ “Lập Trường” do Giáo sư Tôn Thất Hanh làm chủ nhiệm. Chủ trương của nhóm Lập Trường là chống lại tất cả các nội các chính phủ Việt Nam Cộng Hòa. Sáu nội các chính phủ sau chính quyền Tổng Thống Ngô Đình Diệm đều bị dán nhãn là “Chính quyền Diệm mà không Diệm”. Chiêu bài này cũng còn được sử dụng tiếp tục và dài dài sau đó, ngay cả đến ngày 30 tháng 4 năm 1975 (Thậm chí bọn Cộng sản nằm vùng và tay sai còn sử dụng chiêu bài này ngay tại hải ngoại hiện nay). Ngoài ra Giáo sư tiến sĩ Cao Huy Thuần bút hiệu là Ba Cao mở mục “Chén Thuốc Đắng” để thường xuyên tuyên truyền vu khống bôi xấu tấn công các cấp lãnh đạo và chính quyền Miền Nam Việt Nam là ác quỷ đàn áp dân chúng sinh viên học sinh.

Tờ báo thứ hai xuất phát từ Tổng Hội Sinh Viên Đại Học Huế với tên gọi là “Sinh Viên Huế” thực chất là của “Lực Lượng Học sinh, Sinh viên Giải Phóng Thành phố Huế”, và Hoàng Phủ Ngọc Tường, người của Khu ủy Khu 5, giữ chức Tổng Thư Ký Tòa Soạn. Ban biên tập “Sinh Viên Huế” gồm nhiều “sinh viên” hoạt động cho cơ quan Thành Ủy Huế. Đặc biệt có Phan Duy Nhân, sinh viên Đại học Luật Khoa Huế, với bút hiệu Thiết Sử. Phan Duy Nhân là một tên Việt cộng nằm vùng loại rất nguy hiểm. Mọi cuộc lên đường xuống đường của Trí Quang và Đôn Hậu, Phan Duy Nhân đều tham gia tổ chức. Lực lượng Cảnh Sát Đặc Biệt chúng tôi đã bắt và giam y tại Côn Sơn 1968-1975.

Trước đây khi chúng tôi bắt những tên Việt cộng giả dạng “đối lập” tổ chức những đám biểu tình phủ màu sắc áo cà sa nhân danh tôn giáo nhân danh sinh viên học sinh thì liền bị quy chụp là Cảnh Sát Quốc Gia và bè lũ Mỹ Ngụy ác ôn đàn áp sinh viên học sinh, đàn áp đối lập đàn áp tôn giáo!

Sự thật ở đâu
?

Sau tháng 4/1975, những “đối lập” này hiện nguyên hình là Việt cộng nằm vùng! Chính chúng trá hình là lãnh tụ đối lập để phá nát chính quyền VNCH. Nếu chúng tự xưng là MTGPMN hoặc là Việt cộng thì có ai nghe chúng? Quả thật bảo vệ lý tưởng quốc gia tại mặt trận là điều khó, nhưng bắt giam Việt cộng nằm vùng ở hậu phương là một mặt trận lại càng khó hơn. Các anh chị em CSQG luôn phải chịu đựng bị chụp mũ, bị bôi nhọ thóa mạ, thậm chí có thể bị trù dập bởi những người cùng chung chiến tuyến. Thí dụ, sau tháng 4 năm 1975 cựu “sinh viên đối lập” thực chất là nội tuyến Phan Duy Nhân có tên mới là Nguyễn Chính, chức vụ Trưởng Ban Tôn Giáo trong Mặt Trận Tổ Quốc, ngạch trật tương đương với cấp thứ trưởng trong chính phủ Cộng sản Việt Nam! Thích Đôn Hậu sau 1975 là Đại Biểu Quốc Hội nhiều khóa, Thích Như ÝThích Thiện Siêu sau 1975 cũng là Đại Biểu Quốc Hội, thành viên Mặt Trận Tổ Quốc. Trước đây khi lực lượng CSQG đến chùa Trà Am bắt hắn thì bị Phật tử biểu tình rầm rộ buộc thả hắn ra, còn cá nhân tôi thì suýt bị Thiếu Tướng Trần Thanh Phong bắt và cách chức.

Song song với công tác tờ báo Sinh Viên Huế, Hoàng Phủ Ngọc Tường còn tham gia trong nhóm sinh viên chủ chốt của phong trào tranh đấu phản loạn miền trung của Trí Quang, Đôn Hậu. Nhóm sinh viên này gồm có: Nguyễn Hữu Ngô, Phan Duy Nhân, Hoàng Phủ Ngọc Phan, Trần Quang Long, Ngô Kha, Lê Văn Sâm (Sinh viên Luật Khoa, không phải là Lê văn Sâm sinh viên Văn Khoa).

Vào khoảng đầu tháng 9/1964 thì nhóm sinh viên nằm vùng này thành lập quán café “Quán Bạn” ở đường Đào Duy Từ. Chủ quán là sinh viên Lê Văn Sâm, nữ văn sĩ Túy Hồng phụ trách giao tế.

Khi ông Tướng Nguyễn Khánh cho ra đời “Hiến Chương Vũng Tàu”, thì tại Huế do chỉ thị của Khu ủy Khu 5 và tên Việt cộng nằm vùng trong Phật Giáo là Thích Trí Quang, Hoàng Phủ Ngọc Tường thành lập Lực Lượng Giáo Chức Tranh Đấu Huế. Y làm chủ tịch lực lượng này. Đồng thời y cho ra đời tờ báo “Báo Dân”. Tất cả thành phần trong “Quán Bạn” là những cây viết chủ lực của tờ Báo Dân.

Vào đầu năm 1966 theo chỉ thị của Khu ủy Khu 5, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Trần Quang Long, Phan Duy Nhân, Hoàng Phủ Ngọc Phan cho ra mắt tại Huế tờ báo “Việt Nam Việt Nam” công khai chống chính phủ Việt Nam Cộng Hòa, chống chiến tranh xâm lược Mỹ, nhằm hỗ trợ tích cực và mạnh mẽ cho hai tên cán bộ Việt cộng Thích Trí QuangThích Đôn Hậu đang phát động cuộc phản loạn của bọn chúng tại miền trung, nhằm thực hiện mưu đồ cắt miền trung từ đèo Hải Vân ra đến Tỉnh Quảng Trị, biến vùng này thành vùng trái độn.

Điều đáng lưu ý là nhóm chủ biên các tờ báo này toàn là những cơ sở nằm vùng của Khu Ủy Khu 5, của ban Trí Vận Thành ủy Huế, gọi chung là cán bộ của phong trào đô thị. Bọn chúng gồm có:

Lê Văn Hảo: Giáo sư Đại Học Huế. Lê văn Hảo cầm đầu nhóm chủ biên và để bảo mật. Lê Văn Hảo đã dùng phòng riêng của y để in báo.

Hoàng Phủ Ngọc Tường

Nguyễn Khắc Túy tức Nguyễn Đắc Xuân

Hoàng Phủ Ngọc Phan

Lê Thanh Xuân

Hà Trung Tiến tức Hoàng Hữu Pha

Lê Tử Thành tức Trường Thành

Nguyễn Kim Sơn tức Lê Trường Sơn

Trần Hoàng Phong tức Trần Quang Long.

Nguyễn Thị Tố Liên: Xướng ngôn viên đài phát thanh Cứu Nguy Phật Giáo thuộc lực lượng phản loạn 6/1966 của tên Việt cộng nằm vùng Thích Trí Quang.

Đinh Cường: Họa sĩ, bí danh Các Hồng
.

Số báo “Việt Nam Việt Nam” mang số 1 phát hành đúng vào thời gian cao điểm cuộc phản loạn của Trí Quang và Đôn Hậu vào 1966. Cũng phải nói đến giáo sư Bửu và Thái Ngọc San là 2 tay liên lạc đem báo từ Huế vào Sài Gòn, Quy Nhơn.

Tờ “Việt Nam Việt Nam” số thứ 2 đang sửa soạn phát hành thì toàn bộ bọn chúng bị lực lượng CSĐB của chúng tôi bổ vây truy bắt. Khu Ủy Khu 5 liền chỉ thị cho cơ quan Trí Vận thành ủy Huế gấp rút đưa Hoàng Phủ Ngọc Tường, Hoàng Phủ Ngọc Phan, Nguyễn Đắc Xuân và một số khác chạy trốn. Điệp viên Hoàng Kim Loan cấp tốc gởi giao liên đến đưa bọn này lên mật khu.

Còn nhớ đêm cuối cùng, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Hoàng Phủ Ngọc Phan ăn cơm tối tại nhà Trịnh Công Sơn sau đó giao liên là giáo sư Tôn Thất Dương Tiềm và tài xế là Lê Cảnh Đạm, Tổng Thư Ký trường Đại Học Y Khoa Huế, dùng xe hơi của Bà Tuần Chi, tức bà Đào Thị Xuân Yến, một cơ sở trí vận của Thành Ủy Huế. Y thị cũng là người tình của Thích Đôn Hậu.

Tôn Thất Dương Tiềm và Lê Cảnh Đạm đến nhà Trịnh Công Sơn chở Tường, Phan lên Chùa Linh Mụ của Thích Đôn Hậu, sau đó chúng đi qua ngả Long Hồ, Ngọc Hồ, vuợt nguồn hữu lên mật khu tại vùng sau lưng núi Kim Phụng hay thường gọi là núi Chuối thuộc quận Nam Hòa, đó là nơi cơ quan Tỉnh Ủy Thừa Thiên Việt cộng trú đóng. Năm 2009, khi tôi công bố chi tiết này trong bài viết về Trịnh Công Sơn và những hoạt động nằm vùng thì Hoàng Phủ Ngọc Phan lập tức chối tội của hắn và đồng bọn trong một số các bài viết bằng cách cho rằng chi tiết anh em Hoàng Phủ trốn trong nhà Trịnh Công Sơn là không đúng, rằng anh em chúng trốn ở nhà ông Nguyễn Kim Sơn nào đó hiện nay đang ở Đức? Nhưng đã quá trễ, chính Hoàng Phủ Ngọc Tường đã viết trong hồi ký của hắn kể lại việc Trịnh Cộng Sơn đã che giấu Phan và Tường trong nhà trong lúc tìm đường chạy trốn khỏi lực lượng CSĐB chúng tôi.

Trước trận “Tổng Công Kích, Tổng Nổi Dậy” Mậu Thân 1968 tại Huế, Hoàng Phủ Ngọc Tường được lệnh của khu Ủy Khu 5 giữ chức Tổng Thư Ký của Lực Lượng Liên Minh Dân Tộc Dân Chủ Hòa Bình, đồng thời trong thời gian cộng quân chiếm Huế, y được giao nhiệm vụ và chức vụ Chủ Tịch Tòa án Nhân Dân tại Bãi Dâu, Gia Hội thuộc Quận II, hay dùng đúng theo danh từ của bọn chúng là Tòa Án Nhân Dân tại “Mặt Trận Cánh Bắc”.

Tại phiên tòa của Tòa Án Nhân Dân này, y đã ra lệnh chôn sống 204 thường dân vô tội trong đó có xử bắn một số Quân, Cán, Chính, và Cảnh Sát Quốc Gia của chính phủ Việt Nam Cộng Hòa.

Xin nhắc lại, sau này khi các đài truyền thanh, truyền hình và báo chí quốc tế hỏi Hoàng Phủ Ngọc Tường, cụ thể trong: Loạt phim 10 tập Vietnam History do một đài truyền hình Anh Quốc thực hiện năm 1982. (Roll 29 of Vietnam Project- Feb. 29, 1982- Inteview with Hoang Phu Ngoc Tuong, writer).

- Tại sao lại phải giết nhiều người như vậy?

Hoàng Phủ Ngọc Tường trả lời:

-“Giết bọn chúng thì cũng như giết những con rắn độc mà thôi”.

Và hãy nghe chính hắn trong đoạn phim năm 1982 thực hiện bởi một đài truyền hình London nói về lý do hắn giết người như sau “nhân dân của chúng tôi phải đổi lấy máu của chúng tôi thi hành bản án đó đối với những kẻ tử thù của dân tộc mình”.

Muốn biết Hoàng Phủ Ngọc Tường đã có mặt tại trận địa Tết Mậu Thân Huế không và đã giết người thế nào, xin vào link phỏng vấn hắn ta dưới đây để thấy chính miệng hắn chứ không ai khác xác nhận hắn đã có mặt tại Huế, đã thù hận và giết quân cán chính VNCH và dân chúng thế nào. Nay khi chủ nghĩa Cộng sản bị cả thế giới lên án là tội ác của nhân loại thì hắn chối rằng lúc đó hắn đang ở trên rừng?! Rừng nào đây Hoàng Phủ Ngọc Tường?

Đồng ý dối trá là một đặc tính chung của bọn Cộng sản và tay sai, có tên chối được vì bằng cớ đã bị mất, nhưng đối với Hoàng Phủ Ngọc Tường thì đã quá trễ, có thể nào hắn chối được những đoạn phim trong link này không?

http://openvault.wgbh.org/catalog/org.wgbh.mla:e67ef62e29a364dbb7faeb55837714f9163fe9ec

Nguyễn Đắc Xuân: Phụ trách lực lượng học sinh, sinh viên, trí thức, của lực lượng Liên Minh Dân Tộc Dân Chủ Hòa Bình.

Kiêm chức vụ: Đoàn Trưởng An Ninh và Bảo vệ Khu Phố của thành phố Huế, tức Đội Vũ Trang Thanh Niên.

Đây là lực lượng chủ lực trong vụ tàn sát đồng bào Huế.

Nguyễn Đắc Xuân là một cán bộ quan trọng cửa cơ quan Thành Ủy Huế nằm vùng trong giới sinh viên đại học. Trước khi đào thoát lên mật khu vào tháng 7/1966, y là sinh viên năm thứ 2 Đại học Sư phạm ban Việt Hán. Trong suốt thời gian sôi động của cuộc Nổi Loạn Miền Trung do 2 tên Việt cộng nằm vùng trong Phật Giáo chỉ huy là Thích Đôn HậuThích Trí Quang, Nguyễn Đắc Xuân là tay chân tín cẩn của hai tên này. Theo lệnh của Thích Trí Quang, Nguyễn Đắc Xuân thành lập Đoàn Sinh Viên Phật Tử Quyết Tử, gồm có 3 đại đội được cấp tốc huấn luyện quân sự tại Trung Tâm Huấn Luyện Văn Thánh của Sư Đoàn I BB, đồng thời cũng được Chuẩn Tướng Phan Xuân Nhuận Tư lệnh Sư Đoàn I/BB cho phép lấy vũ khí của sư đoàn trang bị cho 3 Đại Đội Quyết Tử của Nguyễn Đắc Xuân. Thành tích của Nguyễn Đắc Xuân đối Với Thích Trí Quang, Thích Đôn Hậu và với cơ quan Thành Ủy Việt cộng Huế là:

- Chiếm đài phát thanh của chính phủ tại Huế, đổi tên là đài phát thanh “Cứu Nguy Phật Giáo”.

- Đốt tòa Tổng Lãnh Sự Hoa Kỳ tại Huế vào ngày 29/5/1966.

- Kế tiếp đốt phòng Thông Tin Văn Hóa Hoa Kỳ.

- Chiếm ty CSQG/Thừa Thiên Huế, cướp kho súng, cướp máy móc truyền tin xe cộ của cảnh sát để trang bị cho đoàn Sinh Viên Phật Tử Quyết Tử của y.

- Đốt nhà của Trung tá Phan Văn Khoa Tỉnh Thị Trưởng Thừa Thiên-Huế tại gần Cống Thủy Quan trên đường Cường Để, thuộc quận Thành Nội, vì Trung tá Tỉnh Thị Trưởng không theo phong trào nổi loạn của bọn chúng.

- Tổ chức các cuộc biểu tình gây hỗn loạn trong thành phố.

- Chỉ huy 3 Đại đội Sinh Viên Quyết Tử đi từng nhà một trong thành phố Huế bắt ép dân chúng tham gia phong trào phản loạn, ai khộng chịu theo thì bị vu khống là người của Thiệu Kỳ, liền bị bọn chúng hăm đọa, hoặc dùng bạo lực khống chế.

- Sau đó Nguyễn Đắc Xuân đưa lực lượng Sinh Viên Phật Tử Quyết tử này vào tăng cường cho Chùa Tinh Hội tại Đà Nẵng. Tại đây y và 3 đại đội Sinh Viên Phật Tử Quyết Tử của y đã gây xáo trộn và chết chóc cho dân cư của thành Phố Đà Nẵng không ít.

Vô nghề nghiệp, tên sát nhân Nguyễn Đắc Xuân vào Đại Nội xem một số cổ vật của Hoàng Cung rồi về nhà viết về Triều Nguyễn, từ đó tự phong “Nhà Huế Học”, thực chất hắn rất giỏi về môn “Tắm Máu Mậu Thân Học”, “đồ tể học”.

Đang nghẹn ngào vì Đảng cho thành vật phế thải...?

Khi quân đội và cảnh sát chiếm lại thành phố Đà Nẵng trong tay bọn làm loạn, thì tại một nhà kho của Chùa Tỉnh Hội Đà Nẵng, Đại tá Cảnh Sát Trần Minh Công khi ấy là Trưởng Ty CSQG thị xã Đà Nẵng phát giác một số thây người đã sình thối trong nhà kho chùa. Chính đích thân ông và một số nhân viên cảnh sát của ông đã phải vác những xác chết đó đi chôn cất.

Nguyễn Đắc Xuân và lực lượng Quyết Tử đã gây thiệt hại sinh mệnh và kinh hoàng cho dân Huế và Đà Nẵng vào năm 1966, nay Tết Mậu Thân 1968 cũng chính tên đao thủ này cùng với Đội An Ninh và Bảo Vệ Khu phố của y, phục vụ cuồng nhiệt cho Lực Lượng Liên Minh Dân Tộc Dân Chủ Hòa Bình do đảng Cộng sản Việt Nam mới thành lập mà Lê Văn Hảo làm Chủ Tịch, Thích Đôn Hậu phó Chủ Tịch, đã tắm máu dân Huế trong suốt 22 ngày, với 5327 người bị chúng giết và bắt dẫn đi mất tích 1200 người.

BẠO LỰC CÁCH MẠNG: 624 GIỜ DÂN HUẾ SỐNG TRONG MÁU VÀ NƯỚC MẮT, CUỘC TẮM MÁU RÙNG RỢN NHẤT TRONG LỊCH SỬ VIỆT NAM: TẾT MẬU THÂN 1968 TẠI HUẾ CỦA HỒ CHÍ MINH VÀ CỘNG SẢN VIỆT NAM.

Sáu giờ sáng ngày mùng 2 Tết Mậu Thân 1968 khi lá cờ sắt máu của lực lượng Liên Minh Dân Tộc Dân Chủ Hòa Bình xuất hiện tại Kỳ Đài Phú Văn Lâu, khi mà 10 ngàn quân Cộng sản gồm chính quy, địa phương, công an, cơ sở nằm vùng đã tràn ngập thành phố Huế, bọn chúng bắt đầu thi hành chỉ thị của Bộ Chính Trị đảng Cộng sản Việt Nam, của Hồ chí Minh, của Lê Duẩn, phát động cuộc tổng nổi dậy cướp chính quyền tại Huế. Lực lượng quân sự vừa kể trên hỗ trợ cho lực lượng chính trị là lực lượng Liên Minh Dân Tộc Dân Chủ Hòa Bình của Lê văn Hảo, Thích Đôn Hậu, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Nguyễn Đắc Xuân, với sự chỉ đạo của các cán bộ Cộng sản thuộc Quân Ủy Trị Thiên, Tỉnh Thị Ủy Thừa Thiên-Huế như:

Lê Chưởng, chính ủy Khu Ủy Trị Thiên và mặt trận Huế.

Hoàng Phương Thảo, cán bộ thành ủy

Hoàng Lanh, cán bộ thành ủy

Phan Nam tức Lương, cán bộ thành ủy

Tống Hoàng Nguyên, trưởng ban An Ninh Quân Khu Trị Thiên

Nguyễn Đình Bảy, tự Bảy Lanh trưởng ty Công An Thừa Thiên-Huế

Nguyễn Đắc Xuân chỉ huy lực lượng An Ninh và Bảo Vệ Khu Phố của thành Phố Huế. Thực chất lực lượng này là đám cơ sở Việt cộng nằm vùng trong mọi giới học sinh, sinh viên, tiểu thương chợ Đông Ba, công chức, cảnh sát, quân nhân v.v. và cũng chính là đám bình mới rượu cũ tranh đấu nổi loạn vào năm 1966 của hai tên Việt cộng nằm vùng trong Phật Giáo là Thích Trí Quang và Thích Đôn Hậu. Bọn này vào tháng 6, tháng 7/1966 một số đào thoát lên mật khu, số khác không bị lộ nằm ém lại, nay công khai lộ diện bắt bớ tàn sát dân lành vô tội.

Lực lượng này là đại lực lượng gây chết chóc đau thương nhất cho dân chúng Huế trong suốt 22 ngày. Đây là lực lượng sắt máu số 1, giết người trên căn bản thù hận Quốc-Cộng, bọn chúng say máu người còn hơn là quỷ dữ và luôn chủ trương giết lầm hơn bỏ sót, như Hoàng Phủ Ngọc Tường, Tổng Thư Ký của lực lượng Liên Minh Dân Tộc Dân Chủ Hòa Bình đã phát biểu qua nhiều cuộc phỏng vấn của giới truyền thông Quốc Tế còn được lưu trữ hiện nay rằng:

Giết bọn chúng cũng giống như giết những con rắn độc”.

Đời của Hoàng Phủ Ngọc Tường sắp qua đi, nhưng âm thanh lời nói này vẫn mãi mãi được ghi lại và phát đi trên toàn cầu qua hệ thống internet cho lịch sử, cho người dân Huế nói riêng và toàn dân Việt Nam nói chung phán xét.

Chỉ huy cuộc Tổng Nổi Dậy tại Huế là điệp viên Trung tá Cộng sản Hoàng Kim Loan, Thành ủy viên Thành Ủy Huế.

THÀNH LẬP CHÍNH QUYỀN CÁCH MẠNG

1- Chính Quyền Cách Mạng tỉnh Thừa Thiên, thị xã Huế.

Chính Quyền Cách Mạng tỉnh Thừa Thiên và thị xã Huế, hay còn gọi là Ủy Ban Nhân Dân tỉnh Thừa Thiên và thị xã Huế đã được thành lập theo lệnh bộ Chính Trị đảng Cộng sản Việt Nam trước Tết Mậu Thân, khoảng tháng 12 năm 1967. Thành phần nhân sự của tổ chức này gồm có:

1- Chủ Tịch Ủy Ban Nhân Dân Cách Mạng tỉnh Thừa Thiên và thị Xã Huế: Giáo sư nhân chủng học Lê Văn Hảo.

Quá khứ hoạt động tích cực cho Bác Đảng như thế, nhưng ê chề thay, sau 1975, nhân một chuyến được mời đi Pháp thuyết trình, Lê Văn Hảo lại đào thoát khỏi thiên đường Cộng sản mà trước đó y đã bỏ biết bao tâm huyết công sức, và dùng bao máu người dân Huế để xây dựng. Mặc dù tang chứng và nhân chứng còn rành rành ra đó, nhưng Lê Văn Hảo vẫn không ngượng miệng chối bỏ quá khứ tội lỗi đã hoạt động Cộng sản rất tích cực, đến nỗi đã được bọn chúng tin cậy giao cho một lần 2 chức vụ quan trọng trong Tết Mậu Thân 1968 đó là Chủ Tịch Lực Lượng Liên Minh Dân Tộc Dân Chủ Hòa Bình và Chủ Tịch Ủy Ban Nhân Dân Cách Mạng thành Phố Huế.

Có lẽ vì xấu hổ với tội lỗi làm Cộng sản cho nên kể từ khi trốn ở lại hải ngoại tại, y thường tiếp xúc với báo chí quốc tế và dối trá rằng:

Tôi bị ép buộc phải nhận một lần 2 chức quan trọng bọn họ giao cho tôi trong Tết Mậu Thân 1968 tại Huế

1- Chủ Tịch Liên Minh Dân Tộc Dân Chủ Hòa Bình.

2- Chủ tịch ủy Ban Nhân Dân Cách Mạng thành phố Huế.


Khi lực lượng quân sự tràn vào Huế thì trong suốt 26 ngày tôi vẫn ở trên núi xanh, không có mặt ở Huế v.v.

Thưa ông Tiến Sĩ Lê Văn Hảo, trên đời có ai mà “bị” ép buộc phải nhận chức vụ quan trọng bao giờ? Thói thường phải gọi là “được” nhận chức vụ “quan trọng” phải không? Nhất là đối với cách mạng, đây là một đặc ân được ban phát cho những kẻ có thành tích quan trọng, kèm theo là phải được sự tin tưởng rất cao của cấp trên, cớ sao ông lại nói ngược là “bị ép buộc”?

Cựu chủ tịch Ủy Ban Liên Minh, và cựu chủ tịch Ủy Ban Cách Mạng thành phố Huế, xin ông hãy đọc kỹ những dòng chữ dưới đây của người vừa là bạn thân thiết, và vừa là đồng chí của ông Lê Văn Hảo là Hoàng Phủ Ngọc Tường:

Nhân đây tôi thấy cần nói một điều sòng phẳng về trường hợp anh Lê Văn Hảo. Trước khi thoát ly tham gia kháng chiến hồi Mậu Thân 1968, giáo sư lê văn Hảo dạy Đại Học văn Khoa Huế, là một trí thức yêu nuớc và tiến bộ có quan điểm chống Mỹ rõ ràng, được sinh viên cảm phục. Với tạp chí Việt Nam Việt Nam, dù không trực tiếp tham gia nội dung, nhưng sau khi dọc hết bản thảo, đã đồng ý đứng lên cầm đầu nhóm chủ biên và cho mượn phòng riêng để đảm bảo bí mật trong việc in báo. Còn sau này anh Hảo không kìm chế được những bức xúc cá nhân, đánh mất bản lĩnh của người trí thức chân chính đến nỗi phải phủ nhận đại nghĩa dân tộc mà mình đã lựa chọn, thì đó là điều đáng tiếc cho anh và hoàn toàn bất ngờ đối với tôi”. --(Trích Hoàng phủ Ngọc Tường tuyển tập 3 bút ký- Trang 158 và 159).

Những chi tiết Hoàng Phủ Ngọc Tường đưa ra ở trên hoàn toàn đúng với hồ sơ CSQG Thừa Thiên Huế về những gì Lê Văn Hảo đã làm, như vậy có thể chối tội được nữa không ông giáo sư nhân chủng học, tốt nghiệp tại Pháp, ăn cơm Quốc Gia thờ ma Cộng sản? Thật quá đúng khi lời “Mao Chủ Tịch” vĩ đại của các ông nói về chính các ông: “Giá trị của đám trí thức còn thua giá trị một bãi phân bò!”

Bọn Cộng sản dùng ông vào hai chức vụ quan trọng trong Mậu Thân 1968 tại Huế để chém giết đồng bào vô tội, để lừa bịp quốc tế rằng “trí thức” Miền Nam tổng nổi dậy, xong việc rồi thì bọn chúng đưa ông về ngồi chơi “thời nước” tại Mặt Trận Tổ Quốc, ông bất mãn nên mới quay đầu lại vừa sủa vừa cắn bọn chúng, luôn thể để chối tội sát nhân của ông trước lịch sử, trước oan hồn của 5327 thường Huế vô tội đã bị quân đội nhân dân, bị ông, Lực Lượng Liên Minh Dân Tộc Dân Chủ Hòa Bình mà ông là Chủ Tịch, lực lượng Công An của Đại tá Trưởng Ty Công An, đám An Ninh và Bảo Vệ Khu phố trực thuộc Ủy Ban Nhân Dân Cách Mạng Tỉnh Thừa Thiên-Huế mà ông làm chủ tịch đã sát hại họ.

Tóm lại, về vấn đề Lê Văn Hảo, chúng ta có thể nói rằng phải chăng vì bị thất sủng bị đá ra khỏi guồng máy quyền lực, cũng như những tên Nguyễn Đắc Xuân, anh em Hoàng Phủ v.v. ngay sau ngày 30 tháng 4 năm 1975 thì Lê Văn Hảo mới vỡ mộng? Một giấc mộng đã được bọn Tội Đồ Miền Nam này xây trên xương máu người dân Miền Nam và người dân xứ Huế vô tội. Vì giấc mộng kinh tởm này mà những người như Lê Văn Hảo, đám đồ tể Việt cộng Huế và toàn bộ đám “Mặt trận giải phòng Miền Nam” đã phá nát Miền Nam cũng như phá nát chính danh dự bản thân chúng, cho lịch sử đời đời nguyền rủa bọn ngu dốt dã man này.

2- Phó Chủ Tịch: Bà Đào thị Xuân Yến, tức bà Tuần Chi, nguyên hiệu trưởng trường Nữ Trung Học Đồng Khành Huế.

3- Đồng phó chủ tịch: Hoàng Phương Thảo: Thành ủy viên Thành ủy Huế
.

2- Chính quyền Cách mạng Quận I (Quận Thành Nội)

Vào gần trưa ngày mùng 2 Tết Mậu Thân, Hoàng Kim Loan thành ủy viên Thành Ủy Huế, người phụ trách cuộc “Tổng Nổi Dậy” tại Huế cùng với một số cán bộ và cơ sở nằm vùng như Nguyễn Trung Chính, Nguyễn Đóa, Tôn Thất Dương Tiềm v.v. tổ chức cuộc mít-tinh có khoảng hơn một trăm người tham dự. Trong cuộc mít-tinh này bọn chúng đưa Nguyễn Hữu Vấn giáo sư trường Quốc Gia Âm Nhạc và Kịch Nghệ ra “bầu” làm Chủ tịch Ủy Ban Nhân Dân Cách Mạng Quận I (Quận Thành Nội).

Tưởng cũng cần nói rõ Nguyễn Hữu Vấn là cơ sở trí vận của điệp viên Hoàng Kim Loan. Ngoài ra Nguyễn Hữu Vấn còn là cháu ruột của giáo sư âm nhạc Nguyễn Hữu Ba, một nhạc sĩ nổi tiếng tại đất Thần Kinh.

3- Chính quyền Cách mạng Quận II (Quận Tả Ngạn)

Cũng trong ngày mùng 2 Tết, Phan Luơng cán bộ thành ủy phụ trách cuộc “Tổng Nổi Dậy” tại Quận II (Quận Tả Ngạn) đã đề cử Nguyễn Thiết bí danh Hoàng Dung lên giữ chức vụ chủ tịch Ủy Ban Nhân Dân Cách mạng Quận II.

Nguyễn Thiết vượt tuyến vào Nam trong thời kỳ Đệ nhất Cộng Hòa, cùng thời điểm với Nguyễn văn Kim. Nguyễn Thiết sau đó là sinh viên của trường Đại học Luật Khoa Huế. Nguyễn Thiết đã len lỏi trong hàng ngũ Tổng Hội Sinh Viên và nằm trong ban chấp hành Tổng Hội Sinh Viên Đại Học Huế.

Cũng như Nguyễn văn Kim, y được Tình Báo Chiến Lược Hà Nội bố trí vượt tuyến vào Nam. Nguyễn Thiết hoạt động trong ban Trí Vận của thành ủy Huế, cùng với hai anh em Hoàng Phủ Ngọc Tường, Hoàng Phủ Ngọc Phan, Nguyễn Đắc Xuân, Lê Văn Hảo v.v. tại Đại Học Huế.

Cũng cần nói rõ thêm về Nguyễn Văn Kim:

Nguyễn Văn Kim mà tôi đề cập ở đây chính là Dân Biểu Nguyễn Văn Kim của VNCH, là một trong những nhân vật cao cấp của đảng Đại Việt Cách Mạng của ông Hà Thúc Ký. Cũng nhờ vào thế lực của Đại Việt Cách Mạng đương sự mới trúng cử dân biểu VNCH. Sau 1975 tại hải ngoại cũng đã có lần Nguyễn Văn Kim định đảo chánh lãnh tụ của mình để nắm quyền chủ động lèo lái đảng Đại Việt Cách Mạng.

Khi Phong trào kháng chiến của phó Đề Đốc Hoàng Cơ Minh ra đời, Nguyễn văn Kim đã tham gia phong trào này và cũng nắm giữ một trong những vai trò quan trọng của phong trào. Cái chết của Phó Đề Đốc Hoàng Cơ Minh theo nhiều tin tức cho thấy Nguyễn Văn Kim cũng có phần trách nhiệm.

Theo hồ sơ văn khố của BCH/CSQG/Thừa Thiên-Huế, Nguyễn Văn Kim tên thật là Nguyễn Văn Tú, gốc người Nghệ An, vượt tuyến 1954 từ Nghệ An sang Lào. Tại Lào, y được tòa Đại Sứ VNCH nhận lãnh đem về Sài Gòn. Thời gian ở Sài Gòn y học tại trường Trung học Võ Trường Toản, sau đó Nguyễn văn Tú ra Huế học 2 năm cuối cùng của bậc trung học là đệ nhị và đệ nhất tại trường Quốc Học. Nguyễn Văn Tú là học trò của Hoàng Phủ Ngọc Tường. Sau này Nguyễn Văn Tú đổi tên là Nguyễn Văn Kim.

Tại Huế, Nguyễn Văn Kim vào đạo Công Giáo và được linh mục viện trưởng Viện Đại Học Huế Cao văn Luận nhận làm cha đỡ đầu. Trong suốt thời gian ở Huế, Nguyễn Văn Kim trú ngụ tại nhà thờ Cụ Phan Bội Châu, ở ngã ba Chùa Từ Đàm với ba người cháu nội của Cụ Phan, đó là Phan Thiện Cầu, Phan Thiện Tường, và Phan Thiện Cát là những người đồng hương của Nguyễn Văn Kim.

Điều đáng nói ở đây là trong hồ sơ văn khố của Ty Công An Thừa Thiên Huế thời Đệ I Cộng Hòa đã đặt y trong tình trạng theo dõi vì tình nghi y được cơ quan tình báo Bắc Việt bố trí cho vượt tuyến.

Vì lý do đó, từ 1967 cho đến trước 30/4/1975, CSĐB/BCH/CSQG/Thừa Thiên-Huế chúng tôi vẫn bám sát Nguyễn Văn Kim mỗi khi y ra Huế, vì chúng tôi vẫn nghi y hoạt động cho tình báo Cộng sản, mặc dầu hơi khó khăn khi theo dõi y vì khi đó y đã là dân Biểu VNCH và là một trong những lãnh tụ cao cấp của Đại Việt Cách Mạng, một thế lực chính trị rất mạnh từ sau tháng 6/1966 đến trước 30/4/1975 tại miền trung và nhất hạng là tại Huế.

Sau 1975 chúng tôi được biết em ruột của Nguyễn Văn Kim là một Đại tá thuộc Tổng Cục 2 Tình Báo Chiến Lược của Cộng sản đang sống tại Sài Gòn.

Tôi xin trích một đọan trong hồi ký của Hoàng Phủ Ngọc Tường để khi quý độc giả đọc xong xin tự kết luận về dân biểu VNCH Nguyễn văn Kim:

Một đêm khuya, những ngày sắp diễn ra cuộc đàn áp của chính quyền trung ương Sài Gòn, Tú đến tuyệt tình cốc gặp tôi. Tú gốc Nghệ An, vượt tuyến sau 1954. Tôi tóm tắt câu chuyện giữa Tú và tôi đêm hôm ấy:

- Thầy có gia nhập một tổ chức yêu nước phải không?

- Dĩ nhiên là có.

- Tổ chức nào thầy cho con biết được không?

- Tổng Hội Sinh Viên Huế.

- Thế mà lâu nay con cứ nghĩ là thầy đang ở trong một tổ chức yêu nước có quyền lực nào đó. Con biết chính xác là tờ “Việt Nam Việt Nam” đang đặt thầy trong những nguy hiểm nghiêm trọng. Tổng Hội Sinh Viên làm sao bảo vệ cho thầy được, khi Thiệu Kỳ đưa quân ra Huế?

Bây giờ con thấy con phải lo cho thầy.

Tú thông báo kế hoạch: Tú sẽ trao cho tôi một chiếc áo dòng để ngụy trang lúc cuộc càn quét bắt đầu ở Huế. Tú sẽ đưa tôi đến ẩn náu một nhà thờ xa thành phố, và sau đó sẽ thoát thân vào Sài Gòn.

Còn sau này, qua tin tức hải ngoại, Tú hoặc là Kim, Nguyễn Văn Kim đang tham gia nhiều tổ chức chống cộng cực đoan...” --(Trích Hoàng Phủ Ngọc Tường tuyển tập 2. Trang 706-707)


Vài giai thoại gay cấn giữa ông dân biểu Nguyễn Văn Kim, linh mục Trần Hữu Thanh, thượng nghị sĩ Hoàng Xuân Tửu và tác giả cuốn sách này, Liên Thành, đã xảy ra, xin được đề cập kỹ hơn ở phần cuối sách, tại đây xin tóm tắt thế này: cá nhân tôi đã bắn phi tiễn trực xạ vào linh mục Trần Hữu Thanh và các ông thượng nghị sĩ Hoàng Xuân Tửu, dân biểu Nguyễn Văn Kim để trấn áp cuộc biểu tình của phong trào chống tham nhũng tại Huế vào lúc Huế đang bị cộng quân áp sát chuẩn bị tấn công.

Khoảng gần cuối năm 1974, ông Nguyễn văn Kim đã hoạt động rất tích cực trong phong trào chống tham nhũng của Linh Mục Trần Hữu Thanh trong lúc quốc gia đang trong tình trạng hấp hối dầu sôi lửa bỏng. Thay vì giúp ổn định tình hình an ninh xã hội để hô hào quân dân cán chính cùng hiệp lực với chính quyền VNCH chung lòng chung sức tích cực chống cộng trước đã, thì dân biểu Nguyễn Văn Kim và linh mục Trần Hữu Thanh đã tích cực chống chính quyền quốc gia dưới chiêu bài bài trừ tham nhũng.

Trong một quốc gia, bộ não của quốc gia chính là chính quyền, đặc biệt là trong tình trạng đang có chiến tranh thì mọi công dân phải biết tự giới hạn sự đòi hỏi của mình, đặc biệt là các quyền tự do báo chí, tự do biểu tình. Ngay cả Hoa Kỳ dưới thời tổng thống Harry Truman, đảng Cộng sản đã bị đặt ra ngoài vòng luật pháp, cũng như khi quân Nhật tấn công Trân Châu Cảng, tổng thống Franklin Roosevelt đã đem tất cả dân Mỹ gốc Nhật vào trong một trại tập trung ở California để bảo đảm an ninh quốc gia, cho dù việc làm này hơi thất nhân tâm. Do đó, là một công dân thực sự ái quốc, thì mỗi cá nhân phải biết tự chế và tự giới hạn mình. Những kẻ không biết tự chế là những kẻ ích kỷ hoặc là bọn chính trị cơ hội hoặc chính là Cộng sản trá hình. Chính quyền quốc gia VNCH cũng dù giỏi dù dở cũng chính là bộ não để chống lại Cộng sản. Hô hào dẹp bỏ chính quyền quốc gia trong tình thế chiến tranh như thế thì thật sự chẳng khác nào là một hành động phá hoại thông đồng với giặc.

Thử đặt lại vài vấn đề lịch sử trong giai đoạn dầu sôi lửa bỏng đó, phải chăng đã có bàn tay của Cộng sản giựt dây chuyện chống tham nhũng này? Và kẻ đó là ai? Nên chăng việc dân biểu Nguyễn Văn Kim và linh mục Trần Hữu Thanh liên tục gây bất ổn chính trị và bất an trong lòng dân Miền Nam bằng các cuộc biểu tình và các bài báo trên trang nhất, các cuộc họp báo đình đám từ Sài Gòn ra Huế trong lúc Việt cộng đã áp sát?

Nên chăng việc biểu tình chống chính phủ tham nhũng thối nát trong lúc bọn phản chiến Mỹ trong quốc hội Hoa Kỳ đang lên kế hoạch cắt viện trợ cho Miền Nam? Nên chăng tất cả những hoạt động chính trị làm khủng hoảng chính phủ VNCH dùm cho Cộng sản Bắc Việt trong lúc Miền Nam đang thoi thóp?

Câu trả lời xin để lương tâm mỗi người tự vấn và trách nhiệm của từng cá nhân đã vô tình hay cố ý đánh phá chính quyền VNCH từ giai đoạn từ ngày chia đôi đất nước 1954 đến 1975.

Lịch sử sẽ đánh giá các ông linh mục Trần Hữu Thanh, thượng nghị sĩ Hoàng Xuân Tửu, và một phần trách nhiệm nữa là Đại Việt Cách Mạng đảng về việc làm này.

Còn nhân vật Nguyễn Văn Kim, xin trích dẫn lời của Hoàng Phủ Ngọc Tường để kết luận.

Ra hải ngoại, Nguyễn Văn Kim tham gia vào các tổ chức chống cộng cực đoan”. Xin hỏi, để làm gì và ông ta đã làm những gì? Câu trả lời đã có!

Xin trở lại Nguyễn Thiết chủ tịch Ủy Ban Nhân Dân Cách Mạng Quận II: Nguyễn Thiết cũng là một trong những kẻ giết người tàn bạo không khác gì Nguyễn Đắc Xuân trong suốt 26 ngày cộng quân chiếm Huế. Những ngày cuối cùng trước khi bọn Cộng sản tháo chạy, Nguyễn Thiết đã bị pháo kích chết ngay tại tường thành gần cửa Đông Ba.

Về Phan Nam, cơ quan CSĐB/Thừa Thiên-Huế chúng tôi ghi nhận như sau: Phan Nam cán bộ thành ủy viên Thành Ủy Huế. Phan Nam phụ trách tổ Dân Vận và Trí Vận. Cũng giống như Hoàng Kim Loan y hoạt động bí mật trong thành phố Huế. Căn cứ lõm của y trong thành phố Huế là:

1- Nhà của một nhân viên tại nhà máy lọc nước Cồn Dã Viên ngay tại cầu Bạch Hổ.

2- Nhà của Ông Nguyễn văn Cán, quận trưởng Cảnh Sát, trưởng ty Cảnh Sát Quốc Gia Thị xã Huế.

3- Nhà của tên Tiếu, trưởng ban hồ sơ của Trung Tâm Thẩm Vấn thuộc BCH/CSQG/Thừa Thiên-Huế. Tên Tiếu này chính thức nuôi hai đứa con của vợ chồng Phan Nam.


4- Chính quyền Cách mạng Quận III (Quận Hữu Ngạn)

Bọn chúng không thể tập trung dân chúng cho dù số lượng chỉ một vài chục người tại khu vực Quận III để tổ chức mít-tinh biểu tình, lý do: địa thế Quận III đất rộng, dân cư không tập trung, bọn Cộng sản đi đến đâu thì dân chúng bỏ chạy đến đó. Vì thế Hoàng Lanh Thường Vụ thành ủy, Hoàng Kim Loan người chịu trách nhiệm phát động cuộc Tổng Nổi Dậy đành bó tay chưa có thể tổ chức được Chính Quyền Cách Mạng Quận III.

Hoàng Kim Loan và Hoàng Lanh quyết định giao quận III cho Đại tá Công An Nguyễn Đình Bảy chịu trách nhiệm.

5- Lực lượng An Ninh và Bảo vệ Khu Phố, hay Đội Vũ Trang Thanh Niên.

Như đã trình bày ở trên, hệ thống tổ chức của lực lượng chính trị do trung ương đảng Cộng sản Việt Nam và Hồ Chí Minh vừa cho ra đời tại Huế là lực lượng Liên Minh Dân Tộc Dân Chủ Hòa Bình, với 4 nhân vật chủ chốt là:

1- Chủ tịch giáo sư: Lê Văn Hảo

2- Phó chủ Tịch: Thích Đôn Hậu

3- Tổng Thư ký: Hoàng Phủ Ngọc Tường

4- Phụ trách học sinh, sinh viên và thành phần trí thức: Nguyễn Đắc Xuân

Nguyễn Đắc Xuân là người chỉ huy toàn bộ hành động của lực lượng An Ninh và Bảo Vệ Khu Phố, hay Đội Vũ Trang Thanh Niên.

Vùng hoạt động của lực lượng này bao gồm Quận I, Quận II, Quận III thị xã Huế và lực lượng này có khoảng 700 người.

Có đến tám mươi phần trăm đội viên là thành phần học sinh, sinh viên và những thành phần khác đã thoát ly lên mật khu khi cuộc làm loạn của Thích Trí Quang và Thích Đôn Hậu vào mùa Xuân-Hè năm 1966 tại Huế bị thất bại. Nay sau 2 năm, bọn chúng xuống núi với súng AK-47, B40, dao găm mã tấu, sát hại dân lành vô tội. Hai mươi phần trăm còn lại là bọn nằm vùng và bọn chỉ điểm địa phương tại các Quận I, Quận II, Quận III trong thành phố Huế.

Phải nói rõ ràng minh bạch và chính xác rằng: Lực lượng An Ninh Bảo Vệ Khu Phố do Nguyễn Đắc Xuân chỉ huy là một lực lượng tàn bạo nhúng tay vào máu đào của đồng bào Huế vô tội nhiều nhất, gây kinh hoàng tang tóc đau thương cho đồng bào Huế suốt 624 giờ bọn chúng chiếm Huế nhiều nhất.

6- Lực lượng “Nghĩa Binh Cảnh Sát”

Nguyễn Đắc Xuân còn tổ chức lực lượng Nghĩa Binh Cảnh Sát và giao cho Quận Trưởng CSQG/VNCH Nguyễn Văn Cán, nguyên Trưởng Ty CSQG thị xã Huế trong thời gian phản loạn 1966 do Trí Quang chỉ huy.

Lực lượng Nghĩa Binh Cảnh Sát này quy tụ được một số nhỏ nhân viên của BCH/CSQG/Thừa Thiên-Huế bị kẹt trong vùng địch phải ra trình diện với bọn chúng. Nguyễn Đắc Xuân giao cho Quận Trưởng Cảnh Sát Nguyễn Văn Cán chỉ huy nhóm này. Mục đích của bọn chúng khi nặn ra lực lượng này chỉ là để tuyên truyền với quốc nội và quốc tế là lực lượng Công An Cảnh Sát Ngụy đã quay đầu về với Cách Mạng chống lại Ngụy Quyền Sài Gòn và Đế Quốc Mỹ xâm lược. Thế nhưng toi công cho bọn Việt cộng, chỉ một thời gian ngắn sau đó một số đoàn viên trong lực lượng này đã đào thoát về trình diện BCH/CSQG Thừa Thiên-Huế, một số khác chưa kịp trốn đi liền bị bọn chúng dẫn đi chôn sống.

Riêng về phần tên phản bội Nguyễn Văn Cán, sau khi cộng quân tháo chạy vào ngày 26 tháng 2 âm lịch, Chuẩn Tướng Nguyễn Ngọc Loan Tư Lệnh CSQG/VNCH đến Huế ông ra lệnh tôi bắt giữ Nguyễn Văn Cán, và Đoàn Công Lập. Lúc đầu ông có ý định sau khi thẩm cung xong lập pháp trường cát tại Huế xử bắn Nguyễn Văn Cán để làm gương, nhưng sau đó vì nhiều Quận Trưởng CSQG trong Bộ Tư lệnh đứng ra bảo lãnh và xin Tướng Loan khoan hồng trong đó phải kể đến ông Quận Trưởng Cảnh Sát Võ Lương đương nhiệm là giám Đốc Nha CSQG/Vùng I đứng ra xin với Chuẩn Tướng Loan. Quận trưởng Võ Lương là người Tướng Loan rất nể vì khả năng, tư cách, và thâm niên công vụ trong ngành. Tướng Loan không còn ý định xử bắn Nguyễn văn Cán, nhưng ra lệnh tôi giao Nguyễn Văn Cán cho Trung tá Lê Tự Cường Trưởng Ty An Ninh Quân Đội Đà Nẵng thụ lý nội vụ để được vô tư hơn.

7- Lực Lượng Nghĩa Binh

Nguyễn Đắc Xuân giao việc tổ chức Nghĩa Binh cho Đại úy Nguyễn văn Lợi, một sĩ quan QLVNCH. Lực lượng này chỉ có tiếng mà không có miếng vì trên thực tế chẳng có quân nhân nào tham gia, chỉ có khoảng 10 tên lao công đào binh mà thôi, và chẳng có một hoạt động nào cả. Như đã nói ở phần trên mục đích của cộng quân khi tổ chức lực lượng Nghĩa Binh là bọn chúng chỉ nhắm vào vấn đề truyên truyền dối trá tại quốc nội cũng như quốc tế rằng: “Chính sách binh vận của bọn chúng đã thành công. Ngụy quân quay súng trở về với Cách Mạng.”

8- Tòa Án Nhân Dân tại Huế trong Tết Mậu Thân 1968

Theo lời khai của Thành ủy viên Thành ủy Huế, Trung tá điệp viên Hoàng Kim Loan bị chúng tôi bắt vào tháng 5/1972 tại Huế thì:

“Khi Khu Ủy Trị Thiên quyết định thành lập Tòa Án Nhân Dân tại mặt trận Huế, Tống Hoàng Nguyên Trưởng ban An Ninh Khu Ủy Trị Thiên, Hoàng Lanh Thường vụ Thành Ủy Huế và tôi (tức Hoàng Kim Loan) đã hội ý với nhau rất kỹ.

Lúc đầu cả ba chúng tôi nhất trí đưa Nguyễn Đắc Xuân làm chủ tịch Tòa Án Nhân Dân, nhưng sau đó Thường Vụ thành ủy Hoàng Lanh đổi ý, đề nghị đưa Hoàng Phủ Ngọc Tường hiện là Tổng Thư Ký của lực lượng Liên Minh Dân Tộc Dân Chủ Hòa Bình là nhân tuyển tốt nhất, vì đây là một lực lượng kết hợp các thành phần trí thức, tôn giáo, những nhân vật có uy tín tại Huế đứng lên chống Thiệu-Kỳ, chống Mỹ. Vậy Tòa Án Nhân Dân giao cho Tổng Thư Ký Hoàng Phủ Ngọc Tường đại diện dân chúng Huế ngồi xử các tên ác ôn, các tên tay sai của Thiệu-Kỳ, và của Đế quốc Mỹ xâm lược là thích hợp nhất”.

Ngày mùng 3 Tết Mậu Thân 1968 tức ngày 1-2-1968, hãy nghe đài phát thanh Hà Nội phát đi bản tin như sau:

Tại Cố Đô Huế dân chúng đã tổng nổi dậy thành lập Lực Lượng Liên Minh Dân Tộc Dân Chủ Hòa Bình. Đây là một lực lượng kết hợp nhân sĩ, trí thức, sinh viên và tôn giáo lớn (Phật Giáo) yêu nước, nhằm đứng dậy chống đế quốc Mỹ xâm lược và đám tay sai bọn “Ngụy Quân Ngụy Quyền”.

Lực lượng này đã thành lập Chính Quyền Cách Mạng Tỉnh, Quận, thành lập đội An Ninh Khu Phố, lực lượng Nghĩa Binh, lực lượng Nghĩa Binh Cảnh Sát, cũng như thành lập Tòa Án Nhân Dân
”.

Đài phát thanh Hà Nội loan tin trên hơi muộn màng. Bởi vì Lực Lượng Liên Minh Dân Tộc, Dân Chủ và Hòa Bình, cũng như Ủy Ban Nhân Dân Cách Mạng Tỉnh Thừa Thiên và Thị Xã Huế đã được đẻ ra trước tết Mậu Thân vào thời điểm tháng 12/1967 trong một kế hoạch đã được soạn thảo họp tới họp lui của Bác Đảng, và khi mà “ấu chúa” Lê Văn Hảo ở Huế đã được cân nhắc chọn lựa bởi đảng Cộng sản mãi tận Hà Nội, rồi được Hoàng Kim Loan đưa lên mật khu để được chăm sóc giáo dục, trước khi được sắc phong và nhận chỉ thị thi hành của cơ quan Khu Ủy Trị Thiên và Thành Ủy Huế. Do đó khi từ mật khu trở lại Huế thì y đã là “quan đầu tỉnh” với hai chức chủ tịch rồi!

Khi mở miệng chối tội làm Cộng sản trên đài RFA, tôi xin được hỏi ông Tiến Sĩ Lê Văn Hảo, thử xét lại có ai được đặt trong các chức vụ lớn nhỏ của Cộng sản mà tay không hề được từ chi bộ đảng đến trung ương đảng duyệt xét? Huống hồ gì trong giai đoạn chiến tranh thì những con bài chủ lực bắt buộc phải là những kẻ tay chân thân tín đồng bọn với chúng. Còn chuyện chúng vắt chanh bỏ vỏ sau này lại là chuyện khác, không thể dùng chuyện chúng nó không xài ông nữa để chứng minh là ông không hoạt động Cộng sản. Ông Lê Văn Hảo có chối rằng ông đi chơi lang thang rồi bị Cộng sản bắt giữ rồi cho làm chủ tịch trên cả chục cái đài phát thanh hải ngoại thì cũng vô ích mà thôi! Có biết bao nhiêu người dân đi lang thang đây đó sao chúng không bắt làm chủ tịch mà Cộng sản lại lựa bắt ông Tiến Sĩ, bạn bè với Hoàng Phủ Ngọc Tường tên Cộng sản sắt máu, về làm chủ tịch? Những hoạt động móc nối của đám Cộng sản tại Pháp với nhóm trí thức ăn cơm quốc gia thờ ma Cộng sản không ai mà không biết ông thưa ông. Không ai bắt ông làm chủ tịch Ủy Ban Nhân Dân Tỉnh Thị Xã, cũng chẳng ai ép ông làm chủ tịch Lực Lượng Liên Minh Dân Tộc Dân Chủ Hòa Bình, mà phải nói là đây là một vinh dự Bác Đảng đã ban cho ông mà ông đã từng rất hãnh diện, thưa ông Tiến Sĩ Nhân Chủng Học Lê Văn Hảo!

Tóm lại Lực Lượng Liên Minh Dân Tộc Dân Chủ Hòa Bình, các đoàn Nghĩa Binh Cảnh Sát, Nghĩa Binh Quân Nhân v.v. mà Việt cộng trình làng trong Tết Mậu Thân 1968 tại Huế có hai mục đích rõ rệt:

1- Dùng những lực lượng này để lôi cuốn quần chúng Huế tham gia vào cuộc tổng nổi dậy, một hình thức như năm 1966 khi bọn Cộng sản kết hợp với Thích Trí Quang, Thích Đôn Hậu, Thích Thiện Siêu gây ra vụ Phản Loạn Miền Trung. Bọn chúng thành lập Chiến Đoàn Quân Nhân Phật Tử Nguyễn Đại Thức, Lực Lượng Cảnh Sát Phật Tử, Lực Lượng Sinh Viên Học Sinh Phật Tử Quyết Tử của Nguyễn Đắc Xuân v.v. và v.v. Nay mùa xuân Mậu Thân 1968 khi Hà Nội xua mười ngàn quân tấn công chiếm Huế, Hồ Chí Minh và Chính Trị Bộ đảng Cộng sản Việt Nam lại bổn cũ soạn lại, khai sinh một mặt trận chính trị mới, đó là Lực Lượng Liên Minh Dân Tộc Dân Chủ Hòa Bình và các tổ chức Nghĩa Binh, Nghĩa Binh Cảnh Sát, đội An Ninh và Bảo Vệ Khu Phố. Thật là bình mới rượu cũ, bình mới chỉ là cái tên mới còn rượu cũ không ai khác hơn chính là bọn Việt cộng Nằm Vùng năm xưa, cũng tuyên truyền là dân chúng “tự ý nổi dậy”. Kịch bản muôn đời của Cộng sản vẫn vậy!

2- Đánh lừa dư luận quốc nội và quốc tế rằng tại Huế có “Tổng Nổi Dậy”, rằng dân chúng Huế đã tự phát thành lập các lực lượng rất “quần chúng” để nổi dậy. Từ dân chúng đến quân đội, cảnh sát, trí thức sinh viên, Phật Giáo, đồng loạt đứng lên chống chính phủ VNCH, chống trung ương Sài Gòn, chống đế quốc Mỹ xâm lược!

Thế nhưng, Bộ Chính Trị đảng Cộng sản Việt Nam và tên Hồ Chí Minh đã ước tính hết sức sai lầm. Đúng ra chúng đã hoang tưởng nên chuốc lấy thảm bại nặng nề trong màn kịch này. Dân chúng Miền Nam cũng như chính phủ quốc tế biết rõ trò hề của Cộng sản Bắc Việt: toàn bộ các lực lượng này nọ chỉ là sự đội lốt trá hình láo lừa của bọn Cộng sản Hà Nội và bọn Việt cộng nằm vùng. Huế trong Tết Mậu Thân 1968 chẳng hề có cuộc tổng nổi dậy nào của quần chúng nhân dân mà chỉ có sự giết người man rợ của cán binh Bắc Việt và đám đồ tể nằm trong lực lượng Liên Minh Dân Tộc Dân Chủ Hòa Bình.

Lực lượng Quân đội Nhân Dân, Quân Giải phóng của Hồ chí Minh đến vùng nào, chiếm vùng nào, thì dân Huế kinh hãi bỏ trốn khỏi vùng đó bằng mọi giá. Viết đến đây thì tôi bỗng nhớ lại lời nói của phó chủ tịch Thích Đôn Hậu nói với dân biểu Nguyễn Lý Tưởng rằng “Quân Đội Giải Phóng Miền Nam đi đến đâu cũng không làm rơi rụng một ngọn lá khoai!”

Đúng, bọn Việt cộng không làm rơi rụng một ngọn lá khoai nào cả mà chỉ làm rơi rụng thây người xuống các hố chôn tập thể trong khắp thành phố, thôn làng, núi đồi Thừa Thiên-Huế!

Thất bại chua cay vì không phát động được cuộc tổng nổi dậy tại Huế, Hồ Chí Minh và bộ chính trị đảng Cộng sản Việt Nam cho lệnh Tướng VC Trần văn Quang Tư lệnh mặt trận Trị Thiên và Lê Chưởng, Chính Ủy quân khu Trị Thiên áp dụng biện pháp “Bạo Lực Cách Mạng” hay “Bạo Lực Đỏ” để răn đe và trừng trị dân chúng Huế.

Trách nhiệm thi hành Bạo Lực Cách Mạng được giao phó cho 3 tổ chức: lực lượng an ninh Khu Ủy Trị Thiên của Tống Hoàng Nguyên, Lực lượng Công An Thừa Thiên-Huế của Đại tá Nguyễn Đình Bảy tự Bảy Lanh, và quan trọng hơn cả là lực lượng An Ninh và Bảo vệ Khu Phố của tên đồ tể Nguyễn Đắc Xuân.

Sau này, theo lời tường trình của hầu hết thân nhân nạn nhân bị Việt cộng sát hại, thì hầu như có đến 80% những nạn nhân bị bắn tại chỗ, hoặc bị bắt đi, đều do Nguyễn Đắc Xuân và những tên đồ tể trong lực lượng của Nguyễn Đắc Xuân thực hiện.

Điều nguy hiểm và kinh hoàng nhất của dân Huế trong 22 ngày Việt cộng tàn sát đồng bào Huế chính là lực lượng An Ninh và Bảo Vệ Khu Phố của Nguyễn Đắc Xuân, vì các thành viên trong lực lượng này một trăm phần trăm là những thành phần địa phương trong lực lượng tranh đấu phản loạn của Thích Trí Quang, Thích Đôn Hậu vào năm 1966 nên chúng biết rất rành rẽ nhân sự và địa lý của Huế, do đó bạo lực cách mạng đã được bọn chúng “phát huy” một cách vô cùng hiệu quả: chiến lợi phẩm và thành quả cách mạng của bọn Nguyễn Đắc Xuân đó là xác chết và mồ chôn tập thể tràn ngập xứ Huế. Bọn này vào năm 1966 thoát ly lên mật khu, nay xuống núi trở lại Huế với lòng hận thù ngút trời, hăng say chém giết sát hại đồng bào. Vì là người địa phương nên bọn chúng nắm chắc chắn rõ ràng địa chỉ lý lịch những đối tượng mà bọn chúng muốn thanh toán.

Vì bọn sát nhân này quá đông, nên tôi chỉ có thể nêu điển hình một số ít nhân vật quan trọng chủ chốt trong lực lượng Vũ Trang Thanh Niên của Nguyễn Đắc Xuân:

- Tôn Thất Dương Tiềm, Giáo sư

- Hoàng văn Giàu, phụ khảo Giáo sư Đại Học Huế

- Nguyễn Đóa, nguyên giám thị trường Quốc Học, Giáo sư Bồ Đề

- Nguyễn Thị Đoan Trinh, sinh viên Dược Khoa Đại Học Sài Gòn

- Hoàng Phủ Ngọc Tường, Giáo sư Quốc Học

- Hoàng Phủ Ngọc Phan, Sinh viên Y Khoa

- Lê Hữu Dũng, sinh viên Đại Học Sài Gòn, con trai tên cán bộ nằm vùng Lê Hữu Tý

- Nguyễn Thúc Tuân, Giáo sư, nguyên nhân viên Pharmacy Trường Tiền

- Nguyễn Tròn, bồi bàn tiệm ăn Quốc Tế

- Diệu Linh, thầy bói

- Nguyễn Bé, thợ nề

- Tên Gù, tiệm bán thuốc lá Cẩm Lệ ở đường Trần Hưng Đạo

- Thiên Tường, chủ tiệm thuốc bắc tại đường Duy Tân, An Cựu, Huế

- Hai con trai của Thiên Tường là cán bộ Tỉnh Đoàn Xây Dựng Nông Thôn tại Tỉnh Thừa Thiên

- Nguyễn Hữu Vấn, Giáo sư Âm nhạc, Chủ tịch Ủy Ban Nhân Dân Cách Mạng Quận I

- Nguyễn Thiết, Chủ Tịch Ủy Ban Nhân Dân Cách Mạng Quận II

- Lê Minh Trường.

Và quá nhiều... tôi không thể nhớ hết!

Sáng sớm Mùng 2 Tết, sau khi lá cờ của lực lượng Liên Minh Dân Tộc Dân Chủ Hòa Bình được treo trên Kỳ Đài Phú Văn Lâu và chính quyền cách mạng Tỉnh Thừa Thiên, Thị Xã Huế, Chính Quyền Cách Mạng Quận I, Quận II đã thành lập xong, Lê Chưởng Chính Ủy Khu Ủy Trị Thiên, Tống Hoàng Nguyên Trưởng ban An Ninh Khu Ủy Trị Thiên, các thành ủy viên Thành Ủy Huế như: Hoàng Kim Loan, Phan Nam, Hoàng Lanh, Trưởng Ty Công An VC Thừa Thiên-Huế Đại tá Nguyễn Đình Bảy tự Bảy Lanh và Nguyễn Đắc Xuân kẻ chỉ huy lực lượng An Ninh và bảo vệ Khu Phố của 3 quận Thị xã Huế bắt đầu khởi động cuộc tổng nổi dậy hay danh từ mà bọn Cộng sản đã gọi là “tổng khởi nghĩa” cướp chính quyền.

Từ sáng sớm ngày mùng 2 Tết và những ngày kế tiếp, Nguyễn Đắc Xuân với lực lượng cơ hữu của hắn là các đoàn viên trong tổ chức An Ninh và Bảo Vệ Khu Phố đi khắp ba quận thị xã Huế Quận I, Quận II, Quận III, kêu gọi đồng bào “hãy treo cờ của Ôn lên (Ôn Đôn Hậu), nếu không có thì treo cờ Phật Giáo lên!” (lời này chính Nguyễn Đắc Xuân đã xác nhận trong cuốn hồi ký của y). Kế tiếp bọn chúng lục soát từng nhà, chận hỏi dân chúng chạy giặc, tìm kiếm bắt giữ và hạ sát ngay tại chỗ bọn “Ngụy ác ôn”.

Ngoài ra Nguyễn Đắc Xuân và đồng bọn đã cố gắng kêu gọi thúc giục đồng bào tham gia các cuộc biểu tình do bọn chúng tổ chức để gọi là “tổng nổi dậy”, “tổng khởi nghĩa” tại ba quận trong thành phố Huế.

Thế nhưng mọi sự đã ngoài ước tính của bọn chúng, đám tử thần Nguyễn Đắc Xuân và đồng bọn đi đến đâu thì dân Huế hốt hoảng kinh hoàng chạy đến đó. Họ chạy để tránh xa tử thần tránh xa Việt cộng, chạy nói theo kiểu người Huế là “chúi mũi chúi lái, chạy vắt chân lên cổ, chạy không dám nhìn lui”, thì thử hỏi dân chúng Huế, tổng nổi dậy ở đâu? Tổng khởi nghĩa ở đâu? Tổng bỏ chạy, tổng tàn sát thì có!

Vậy mà ngày mùng 3 Tết Mậu Thân 1968, đài phát thanh Hà Nội loan tin: “Dân chúng Cố Đô Huế đã tổng nổi dậy cướp chính quyền”! Quả thật Hồ Chí Minh, đảng Cộng sản Việt Nam và đồng bọn tay sai thật là một bọn nói láo không biết ngượng miệng.

Tức giận và mất mặt vì dân Huế không theo bọn chúng như ước tính, cộng quân và đám tay sai không thể tổ chức được cuộc tổng nổi dậy tại Huế, Hồ Chí Minh, Lê Duẩn và đám Bộ Chính Trị đảng Cộng sản Việt Nam liền quyết định áp đụng biện pháp mạnh là “Bạo Lực Cách Mạng, Bạo Lực Đỏ” để áp lực, để răn đe khủng bố và trả thù dân chúng Huế.

Máu của dân Huế đã nhuộm đỏ dòng sông Hương, xương của dân Huế đã chất cao quá núi Ngự Bình trong cuộc thảm sát ghê rợn và kinh hoàng suốt 624 giờ, của Hồ Chí Minh và đảng Cộng sản Việt Nam, và đám tay sai nằm vùng.


Liên Thành
http://ubtttadcsvn.blogspot.com/2014/01/bai-5-le-van-hao-thich-on-hau-hoang-phu.html

==//==
  

Bấm vào đây để in ra giấy (Print)

oOo

Bảng hướng dẫn: Lời giới thiệu | Bài 1 | Bài 2 | Bài 3 | Bài 4 | Bài 5 | Bài 6 | Bài 7 | Bài 8 | Bài 9 | Phim TSMT-68 | Bài viết MT68 | Đầu trang

 

 

 

 

 

 

 

Bài 6
HUẾ NỢ AI! VÀ AI NỢ HUẾ!
Liên Thành
(trích sách Huế Thảm Sát Mậu Thân 68 - Tác giả Liên Thành)

Bảng hướng dẫn: Lời giới thiệu | Bài 1 | Bài 2 | Bài 3 | Bài 4 | Bài 5 | Bài 6 | Bài 7 | Bài 8 | Bài 9 | Phim TSMT-68 | Bài viết MT68 | Đầu trang

Với tôi, thường thì nợ tiền nợ bạc dễ trả, nhưng nợ ân tình, nợ ân nghĩa, làm sao trả được đây?

Trong cuộc thảm sát Tết Mậu Thân 1968, Huế đã nợ ai? Và ai đã nợ Huế?

Hai mươi sáu ngày Huế sống trong hãi hùng ghê rợn xác chết sình thối vương vãi đầu đường cuối xóm, đến tận chốn ruộng đồng khe rạch, đâu đâu cũng xác người. Huế bị đày đọa khốn khổ điêu linh, bị tàn sát bởi kẻ thù phương bắc và bọn quỷ đỏ địa phương. Bọn nằm vùng tại Huế, chúng sinh ra và lớn lên bên cạnh dòng sông Hương dịu dàng thơ mộng, với núi Ngự Bình với đồi Vọng Cảnh lãng đãng sương mù và những thôn xóm “vườn ai mướt quá xanh như ngọc” của Hàn Mặc Tử, và với nếp giáo dục của một cố đô lễ nghĩa khuôn phép đạo đức. Thế nhưng tất cả những tinh hoa của vùng địa linh này đã không thể uốn nắn giáo dục được bọn cộng sản nằm vùng. Bởi vì có lẽ chúng là những con quỷ đầu thai làm người ở xứ Huế. Những con quỷ đó là ai? Là những kẻ đã sử dụng tôn giáo làm bình phong che đậy cho bộ mặt cộng sản thứ thiệt như Đôn Hậu, Trí Quang, Thiện Siêu, Chánh Trực, Như Ý; là những tên như Hoàng Phủ Ngọc Tường, Hoàng Phủ Ngọc Phan, Nguyễn Đắc Xuân, Lê Văn Hảo, Nguyễn thị Đoan Trinh v.v.

Đặc biệt, nếu không được che đậy bằng bộ mặt tôn giáo thì có lẽ dân Huế đã không bị phỉnh gạt nặng đến như vậy. Cái gì thầy nói cũng đều là chân lý mà tín đồ không cần phải suy nghĩ thêm. Thầy nói thầy không là cộng sản, thầy chỉ chống độc tài Mỹ-Diệm-Thiệu-Kỳ đàn áp tôn giáo, thì tín đồ sẽ tin Mỹ Diệm Thiệu là những tên độc tài và không bao giờ tin thầy là cộng sản, và còn tin rằng tôn giáo mình đã bị đàn áp bởi bè lũ cầm quyền!

Nhưng tín đồ có biết đâu, trong đêm tối, trong những lúc cửa đóng then cài thầy đã rước cộng sản vào chùa, giấu vũ khí trong chùa lừa gạt tín đồ. Không có các thầy và những tên tay sai đắc lực của thầy thì dân Huế không thể chết nhiều như thế. Huế kêu trời, trời ngoảnh mặt. Huế kêu đất, đất lặng yên. Huế kêu gọi thần linh, Huế cầu khẩn Phật, Chúa ai cũng quay lưng. Dân Huế chết oan chết ức, dân Huế chết mà chẳng biết đã làm gì nên tội mà phải chết. Huế đang tuyệt vọng, Huế kêu cứu. Cuối cùng tiếng kêu cứu đau thương đó đã đến tận trái tim của những chàng trai Miền Nam anh dũng đến từ khắp bốn vùng chiến thuật. Những anh lính Việt Nam Cộng Hòa, những thiên thần của xứ Huế!

Họ là người lính Nhảy Dù. Họ là Thủy Quân Lục Chiến. Họ là Biệt Động Quân. Họ là Sư Đoàn I Bộ Binh. Họ là Đại Đội Trinh Sát của Đại úy Nguyễn Tri Tấn. Họ là Đại Đội Hắc Báo của sư đoàn I Bộ Binh tinh nhuệ. Họ là Không Quân. Họ là Hải Quân. Họ là Lực Lượng Đặc Biệt trong đêm khuya đã được nhảy từng toán một vào vùng địch tại Kim Long, Liễu Cốc. Họ là Địa Phương Quân. Họ là Nghĩa Quân. Họ là những đoàn Xây Dựng Nông Thôn. Họ là Cảnh Sát Quốc Gia. Tất cả họ là người Lính Việt Nam Cộng Hòa, từ chính quy đến bán chính quy. Tất cả đã lăn xả vào trận chiến, đem xương trắng máu đào bảo vệ đồng bào bảo vệ Huế, phản công đẩy lui Cộng quân ra khỏi thành phố Huế, cho dù máu đổ xương rơi vẫn quyết một lòng làm trọn nhiệm vụ mà quốc gia dân tộc đã giao phó cho họ. Họ đã hãnh diện hy sinh mạng sống cho tổ quốc điêu linh và cho đồng bào đang khốn khổ bởi hành động tàn bạo của cộng quân.

Ôi những người lính Việt Nam Cộng Hòa đã hy sinh mạng sống mình cho dân chúng Huế được sống Tết Mậu Thân 1968. Các anh xứng đáng nhận được sự kính trọng muôn đời của đồng bào Huế với các anh, những anh hùng liệt sĩ Việt Nam Cộng Hòa đã Vị Quốc Vong Thân:

Xin nhận những nén nhang và ba lạy ơn nghĩa ơn tình của biết bao đồng bào Huế đã luôn khấn nguyện vong linh các anh cứ mỗi độ xuân về: Người Lính Việt Nam Cộng Hòa, anh hùng muôn đời của lịch sử.

Đặc biệt tri ơn những ân nhân đã khuất bóng:

1- Cố Trung tướng Ngô Quang Trưởng

- Tư lệnh Sư Đoàn I Bộ Binh.
- Tư Lệnh Quân Đoàn I/Quân Khu I.

Đã 3 lần trong đời binh ngiệp của ông xả thân cứu Huế.

- Năm 1966, Miền Trung nổi loạn, Sư đoàn I Bộ binh gần như rã ngũ, Đại tá Ngô Quang Trưởng đã cùng lực lượng Chính Phủ Trung Ương đến Huế ổn định tình hình, tái tổ chức lại Sư đoàn I Bộ Binh.

- Mậu Thân 1968, Chuẩn tướng Ngô Quang Trưởng là Tư lệnh chiến trường Trị Thiên, phản công đánh tan gần 10 ngàn quân cộng sản, đẩy bọn chúng ra khỏi Thành phố Huế.

- Mùa hè đỏ lửa tháng 5/1972, cộng quân xua 10 ngàn quân, lần này có cả xe tăng tấn công Trị Thiên-Huế, Trung tướng Ngô Quang Trưởng, Tư lệnh chiến trường Trị Thiên-Huế, phản công tái chiếm Quảng Trị, và lại một lần nữa cứu Huế khỏi rơi vào tay cộng sản.

2- Cố Thiếu tướng Phạm Văn Phú

Tư Lệnh Phó Sư Đoàn I Bộ Binh
Tư Lệnh Sư Đoàn I Bộ Binh

Tháng 5/1972 sau khi chiếm xong thị xã Đồng Hà và tỉnh Quảng Trị, cộng quân xua 10 ngàn quân, mưu toan tấn công chiếm Huế. Là Tư Lệnh Sư đoàn I BB, một trong những sư đoàn thiện chiến nhất của quân lực VNCH, Thiếu tướng Phạm Văn Phú thật đã không hổ danh là Tư Lệnh của một sư đoàn tinh nhuệ và thiện chiến trấn giữ vùng giới tuyến.

Còn nhớ trong những ngày mùa hè đỏ lửa tại Huế, cộng quân pháo hàng loạt hằng giờ loại hỏa tiễn 122 ly, 130 ly vào các mục tiêu trong thành phố Huế một cách khá chính xác vì bọn chúng đã chiếm cao điểm Baston, một cao điểm chiến lược nằm về phía tây thành phố Huế. Tại cao điểm này bọn chúng có thể quan sát Thành phố Huế và những mục tiêu trong thành phố mà bọn chúng muốn pháo kích.

Cao điểm này nếu Sư đoàn I không chế ngự được thì Huế sẽ còn bị cộng quân pháo kích và số thiệt hại về nhân mạng và tài sản của đồng bào Huế sẽ lên rất cao. Trong nhiều ngày Thiếu tướng Phạm Văn Phú đã tung nhiều đợt tấn công, nhưng vẫn không chiếm được cao điểm Baston, địch vẫn tiếp tục pháo kích vào thành phố Huế. Cuối cùng ông đã đưa ra một quyết định thật táo bạo đó là cho lực luợng nhảy ngay trên đầu địch và đánh bật ra, hay nói theo danh từ quân sự là “nở hoa trong lòng địch”.

Một đơn vị tinh nhuệ của Sư Đoàn I/BB đã được Thiếu tướng Phạm Văn Phú giao phó trách nhiệm lịch sử này, đó là Đại Đội Hắc Báo. Chỉ một trung đội của đại đội Hắc Báo sau đợt oanh kích yểm trợ của Không Quân VNCH vào mục tiêu Baston, trung đội Hắc Báo do Thiếu úy Tuấn chỉ huy đã từ trực thăng vận nhảy xuống đánh bật cộng quân ra khỏi cao điểm Baston. Kể từ ngày giờ đó Huế không còn bị pháo của cộng quân nữa.

Thiếu úy Tuấn và trung đội Hắc Báo của anh đã quả cảm hoàn thành một sứ mạng lịch sử oai hùng, cứu được bao nhiêu sinh mạng cũng như tài sản của chính phủ và đồng bào Thừa Thiên, cũng như đem lại sự ổn định an ninh cho Huế. Trung đội Hắc Báo và Thiếu úy Tuấn quả là những anh hùng tuyệt vời của trang quân sử Việt Nam Cộng Hòa.

Ngày 30 tháng 4 năm 1975, Thiếu tướng Phạm Văn Phú đã tự tử tại nhà. Trang quân sử Việt Nam muôn đời khắc ghi tấm gương oanh liệt của Thiếu tướng.

3- Cố Thiếu tướng Nguyễn Ngọc Loan

Tư Lệnh Cảnh Sát Quốc Gia, Cục Trưởng An Ninh Quân Đội, Giám Đốc Phủ Đặc Ủy Trung Ương Tình Báo.

Không có ông, phong trào Bàn Thờ Phật Xuống Đường sẽ là một hiểm họa đưa đến mất Huế/Trị Thiên vào tay cộng sản năm 1966. Với bản tính mạnh mẽ và một khả năng lãnh đạo thiên phú, ông đã làm được điều mà 4 Tướng Nguyễn Chánh Thi, Nguyễn Văn Chuân, Tôn Thất Đính, Huỳnh Văn Cao, đã không thể làm được.

Mậu Thân tại Sài Gòn ông là vị tướng duy nhất xả thân cầm súng chiến đấu bên cạnh các chiến sĩ Cảnh Sát Dã Chiến và Cảnh Sát Quốc Gia trên khắp các nẻo đường Sài Gòn. Với thiên tài về quân sự, ông đã chế ngự được bọn cộng sản một cách dễ dàng, không có Thiếu tướng Nguyễn Ngọc Loan, Sài Gòn có thể đã trở thành một biển máu như Huế.

Sau khi ổn định Sài Gòn, ông liền lập tức bay ra ổn định Huế. Với một tình yêu bao la dành cho xứ Huế, nơi ông đã sinh ra và lớn lên, chính ông đi xin đất xin tôn xin gạch để làm nhà và chính tay ông đã cầm búa cầm đinh miệt mài hối hả làm việc như một ông thợ nề, một đốc công xây cất, để nhanh chóng hoàn tất nơi trú ẩn cho đồng bào không còn nhà cửa sau cuộc thảm sát. Trại tỵ nạn Tình Thương cho dân Huế sau thảm sát Mậu Thân và việc ông cấp lương cảnh sát cho khoảng 150 cô nhi quả phụ Cảnh Sát Quốc Gia sau thảm sát Mậu Thân để nuôi dưỡng các cháu thơ nên người là một chứng tích của tấm lòng nhân hậu thương dân như con của ông. Trung Tâm Phượng Hoàng đầu tiên của Huế do chính bàn tay ông cầm búa đóng đinh xây dựng nên, và những bài học về tình báo trong chiến dịch Phượng Hoàng thao thao bất tuyệt một thầy một trò của ông dạy cho tôi, cũng là tất cả tình yêu và tâm huyết của ông dành cho đất nước Việt Nam và xứ Huế. Từ việc dẹp phong trào Bàn Thờ Phật Xuống Đường, bắt Thích Trí Quang, đến việc lăn xả trong lửa đạn tết Mậu Thân tại Sài Gòn, tổ chức chương trình Phượng Hoàng v.v. tất cả đều xuất phát từ tấm lòng yêu nước, quyết tâm tận diệt tai họa cộng sản, bất chấp cá nhân mình phải lãnh những hậu quả nào.

Thiếu tướng Nguyễn Ngọc Loan, một vị tướng tài ba lỗi lạc liêm khiết, một tấm gương can đảm thẳng thắn hiếm có, một nhân cách quân tử cao vời, một người con hiếu thảo phụng dưỡng mẹ già đến hơi thở cuối cùng. Ông là niềm hãnh diện của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa và của quốc gia, ân nhân lớn của Sài Gòn và Huế. Miền Nam Việt Nam mãi mãi tiếc thương và nhớ ơn Thiếu tướng.

(Xin đọc bài Thiếu tướng Nguyễn Ngọc Loan và Huế)

4- Cố Đại tá Phan Văn Khoa

Tỉnh Trưởng Tỉnh Thừa Thiên, Thị trưởng Thị xã Huế 1965-1968.

Tháng 2/1966 khi Thích Trí Quang và Thích Đôn Hậu lợi dụng Phật Giáo và Phật tử phát động cuộc phản loạn tại miền trung. Trong tình thế hỗn loạn nhiễu nhương tại Miền Trung và đặc biệt là Thừa Thiên-Huế từ tháng 3/1966 trở đi, Tỉnh Trưởng tỉnh Thừa Thiên, Thị Trưởng Thị xã Huế, Trung tá Phan Văn Khoa là vị tỉnh trưởng duy nhất, trung thành với chính nghĩa quốc gia, dám đứng ra chống đối phong trào làm loạn của ông Trí Quang và Đôn Hậu, không đi theo phe phản loạn của Tướng Nguyễn Chánh Thi và Trí Quang.

Tư gia ông bị nhóm phản loạn đốt cháy, văn phòng và Tòa Hành Chánh Tỉnh bị đám phản loạn chế ngự, đài phát thanh Huế và các công ốc của chính phủ trong thành phố cũng bị bọn chúng chiếm cứ, Trung tá Tỉnh Trưởng Phan Văn Khoa phải di tản toàn bộ Chỉ huy của ông ra khỏi thành phố Huế về trú đóng tại Bộ Chỉ Huy Chi Khu Hương Thủy đợi viện binh của chính phủ trung ương từ Sài Gòn ra tiếp ứng.

Phải nói rằng sự thành công của Đại tá Nguyễn Ngọc Loan trong vụ dẹp đám phản loạn miền trung Trí Quang, Đôn Hậu tại Huế đã có một phần lớn sự đóng góp tích cực của Trung tá Phan Văn Khoa Tỉnh Trưởng Tỉnh Thừa Thiên, Thị Trưởng Thị Xã Huế.

Trong biến cố Mậu Thân 1968 Trung tá Tỉnh Trưởng đã mắc phải lỗi lầm lớn đó là quá chủ quan, nên đã không có kế hoạch phòng thủ Huế và cũng không có mặt tại Bộ Chỉ Huy. Thế nhưng sau khi được cứu thoát, kể từ ngày mùng bảy Tết cho đến ngày 26 tháng 2/1968 ông đã chu toàn trách nhiệm của mình đối với đồng bào Huế. Cho dù bị cách chức trả về quân đội vì lỗi lầm lớn này, nhưng ông thật sự là một vị tỉnh trưởng đáng kính, một vị tỉnh trưởng biết đặt vận mệnh quốc gia lên trên quyền lợi cá nhân ông, vững vàng không nao núng trước áp lực của các chùa, đại đức thượng tọa. Ông đã trả giá cho sự chủ quan của mình trong biến cố Mậu Thân, đời sống có ai không lầm lỗi? Thế nhưng công lao của ông trong vụ biến động miền trung dẹp Bàn Thờ Phật Xuống Đường tái lập an ninh và đời sống bình thường cho dân chúng là một công ơn của ông đối với Huế.

Đối với cá nhân tôi, ông là một cấp chỉ huy đáng kính, một sĩ quan có tài, đức.

5- Cố Chuẩn tướng Lê Văn Thân

Đại tá Lê Văn Thân, Tỉnh Trưởng Tỉnh Thừa Thiên, Thị trưởng Thị xã Huế 1968-1971. Từ Bộ Tổng Tham Mưu ra thay thế Trung tá Phan văn Khoa bị cách chức trả về quân đội sau Mậu Thân.

Xin đặc biệt cảm tạ Đại tá Lê Văn Thân trong công tác truy tìm nạn nhân và các mồ chôn tập thể tại Huế. Ông lệnh cho tôi dẫn tên Hồ Tỵ bí danh Sơn Lâm, Huyện Ủy Viên huyện Hương Thủy đặc trách an ninh, mà chúng tôi đã bắt được sau Mậu Thân, đến gặp ông mỗi ngày. Ròng rã suốt 3 tháng trời, từ sáng đến chiều ông đã cùng tôi và tên Sơn Lâm dùng phương tiện máy bay trực thăng bay liên tục trên vòm trời Huế để tên Sơn Lâm chỉ những vùng có mồ chôn tập thể mà hắn biết được, vì hắn là người đã từng hoặc thi hành lệnh, hoặc tự ý đã ra lệnh cho thuộc cấp của hắn chôn sống hằng trăm đồng bào tại các quận Phú Vang, Phú Thứ, Hương Thủy.

Ngoài việc truy tầm các mồ chôn tập thể, Đại tá Tỉnh Trưởng Lê Văn Thân còn dùng mọi phương tiện của chính quyền tỉnh thị xã lo lắng chu toàn trong việc cải táng cho các đồng bào bất hạnh có nơi yên nghỉ tại nghĩa trang tập thể Ba Đồn.

Lỗi lầm của ông là quá nuông chiều và sợ các áp lực từ các tu sĩ Phật Giáo nên đã ngó lơ hoặc rất nương tay với các phần tử nằm vùng khoác áo Thượng Tọa Đại Đức làm gì thì làm.

Dẫu vậy, ông cũng đã hết lòng lo lắng cho việc truy tìm nạn nhân thảm sát Huế Mậu Thân. Xin chân thành cảm tạ Chuẩn tướng Lê Văn Thân.

6- Đại tá Tôn Thất Khiên

Tỉnh trưởng tỉnh Thừa Thiên, thị trưởng thị xã Huế, tháng 10/1971-11/1974.

Xuất thân và đã từng giữ những chức vụ cao cấp trong Sư Đoàn I Bộ Binh, và sau đó ông trở thành chuyên viên “hành nghề” Tỉnh Trưởng như tỉnh trưởng tỉnh Quảng Ngãi, rồi tỉnh Trưởng tỉnh Quảng Trị trước khi đảm nhận chức Tỉnh Trưởng Tỉnh Thừa Thiên, Thị trưởng Thị xã Huế, thay thế Đại tá Lê Văn Thân bị thuyên chuyển vì không chu toàn nhiệm vụ trong vụ bầu cử Tổng Thống nhiệm kỳ II vào ngày 1 tháng 10 năm 1971.

Là một người Huế chính gốc Hoàng Tộc nên ông có những tình cảm thiết tha mặn nồng với Cố Đô.

Tháng 5/1972 mùa hè đỏ lửa mà cộng quân tung 10 ngàn quân tấn công và chiếm Huế bằng chiến thuật cũ, đó là tạo một cuộc “tổng nổi dậy” lần thứ ba. Cuộc “tổng nổi dậy” đầu tiên được lãnh đạo bởi Thích Trí Quang có tên là “bàn thờ Phật xuống đường”, cuộc tổng nổi dậy lần thứ 2 chính là cuộc thảm sát Mậu Thân. Để phá vỡ âm mưu cuộc tổng nổi dậy lần 3 này, bộ chỉ huy CSQG Thừa Thiên/Huế đã ra tay trước, mở cuộc hành quân mang tên Bình Minh hốt sạch trọn ổ bọn cơ sở nội thành chủ chốt tại Huế để ngăn chận cuộc tổng nổi dậy do cơ quan Thành Ủy Việt cộng sắp đặt. Trong cương vị Tỉnh Trưởng tỉnh Thừa Thiên, thị trưởng thị xã Huế, ông đã hỗ trợ tối đa cho lượng Cảnh Sát Quốc Gia Thừa Thiên Huế thi hành luật pháp. Nhờ thế dân Huế đã thoát được cuộc tổng nổi dậy lần thứ III của quân cộng sản, xin ghi ơn sự đóng góp thật lớn lao này của ông đối với Huế. Ngoài ra cá nhân tôi và toàn thể bộ chỉ huy CSQG Thừa Thiên/Huế cũng nợ ông một món nợ ân tình. Đó là chính ông đã đứng ra đỡ đòn cho lực lượng CSQG Thừa Thiên Huế và nhất là cá nhân tôi. Không có ông chúng tôi khó lòng hoàn thành nhiệm vụ. Còn nhớ trong chiến dịch Bình Minh, chúng tôi đã bắt khoảng 1500 cơ sở nằm vùng trong đó cả các viên chức chính quyền cao cấp của tỉnh và có cả “quân nhân” QLVNCH làm nội tuyến, có cả thành phần cao cấp trong các đảng phái chính trị, các thành phần lãnh đạo Phật Giáo cũng nội tuyến, do đó áp lực đã đè rất nặng lên lực lượng CSQG Thừa Thiên Huế. Phía các đảng phái chính trị, phía Phật Giáo Ấn Quang đã vận động 4 dân biểu hạ viện quốc hội từ Sài Gòn, trong đó có bà Kiều Mộng Thu và một ông dân biểu Huế (xin tạm không nêu tên ở đây) buộc chúng tôi phải thả cơ sở cộng sản nằm vùng, lấy cớ khơi khơi rằng chúng tôi là bắt bớ dân lành vô tội! Không có Đại tá Tôn Thất Khiên, anh em CSQG chúng tôi khó mà yên thân với các chùa, các đảng phái và các vị “dân biểu” VNCH này.

Nhiều năm tù tội trong các trại tù cộng sản sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, giờ đây Đại tá Tôn Thất Khiên và gia đình đang định cư tại Hoa Kỳ. Ngoài tình bà con trong Hoàng Tộc, tôi và ông còn có tình thầy trò. Ông đã hết lòng hỗ trợ chúng tôi trong chiến dịch Bình Minh, làm ngơ cho chúng tôi đàn áp phong trào biểu tình chống tham nhũng tại Huế của linh mục Trần Hữu Thanh để cuối cùng ông bị cách chức tỉnh trưởng.

Đại tá Tôn Thất Khiên là một vị chỉ huy đứng về phía lẽ phải, sẵn sàng hy sinh quyền lợi cá nhân để bảo vệ lý tưởng quốc gia và quyết tâm diệt cộng.

Trong cả hai tình nghĩa đó, Liên Thành và anh em lực lượng CSQG Thừa Thiên-Huế xin ghi lòng tạc dạ ân tình của ông và gởi đến Đại tá lời cảm ơn chân thành từ đáy lòng...

7- Thiếu tá Nguyễn Văn Tố

Mậu Thân 1968, Thiếu tá Nguyễn Văn Tố là Tham Mưu Trưởng Tiểu Khu Thừa Thiên.

Trong suốt thời gian 26 ngày cộng quân chiếm Huế, tại khu vực quận III danh từ của VNCH, và là khu vực cánh Nam của mặt trận Huế, danh từ của cộng quân, Thiếu tá Nguyễn Văn Tố là địch thủ của Tư Lệnh Cánh Nam mặt trận Huế, Đại tá Việt cộng Thân Trọng Một. Bởi lẽ tại khu vực mặt trận cánh nam ngay giờ phút đầu của cuộc tấn công, vị Tỉnh Trưởng kiêm Tiểu Khu Trưởng Trung tá Phan Văn Khoa bị kẹt tại tư thất không thể có mặt tại nhiệm sở để chỉ huy và điều động cuộc phản công, vị Tiểu Khu Phó kiêm Quân Trấn Trưởng Quân Trấn Huế Thiếu tá Bảo bị thương trầm trọng, bộ chỉ huy Tiểu Khu Thừa Thiên còn lại một giới chức độc nhất đó là Thiếu tá Nguyễn Văn Tố, Tham Mưu Trưởng. Ông đã chỉ huy lực lượng bố phòng, đẩy lui mọi cuộc tấn công của cộng quân vào BCH/Tiểu Khu, ông đã xuất sắc đối đầu với Thân Trọng Một và sau đó ròng rã suốt 26 ngày ông phối hợp điều động lực lượng cơ hữu của Tiểu Khu và lực lượng Cảnh Sát Quốc Gia Thừa Thiên-Huế hành quân phối hợp với quân đội Hoa Kỳ đẩy lui cộng quân ra khỏi quận III, gây tổn thất nặng nề cho bọn chúng.

Ngoài ra cũng phải cần nói đến tấm lòng của ông đối với đồng bào Huế: Trong những ngày ly loạn Tết Mậu Thân, tại các trại tỵ nạn ngay trong Quận III Thành phố Huế, đồng bào đã quá cơ cực vì cộng quân pháo kích tấn công vào các trại tỵ nạn, họ còn phải chịu cơn lạnh cắt da của mùa đông xứ Huế và đói run người. Tôi đã trình với ông cảnh kiệt quệ này và may thay quyết định của ông đã cứu được hằng ngàn đồng bào tỵ nạn khỏi cơn đói lạnh.

- “Liên Thành! Lập tức phong tỏa lập biên bản tịch thu một kho gạo, cấp phát cho đồng bào. Chính quyền tỉnh sẽ trả tiền lại cho chủ nhân sau khi tình hình Huế ổn định.”

Tôi đã gặp bác Võ Văn Quế, Trung úy CSQG, chủ đại bài gạo tại ngã ba Lê Lợi-Đội Cung. Bác Quế rất vui vẻ mở cửa kho gạo để lực lượng cảnh sát chúng tôi phân phối gạo cứu giúp đồng bào bị đói tại các trại tỵ nạn và tư gia.

Giờ đây là thời điểm năm 2011, những người bị đói lạnh năm xưa trong các trại tỵ nạn tại Huế vào Mậu Thân 1968 có kẻ vẫn còn trên cõi đời, nhưng cũng đã có người khuất bóng, có người lưu lạc tha phương, có kẻ còn lại quê nhà, không cách nào hơn, tôi xin được đại diện cho lực lượng CSQG Thừa Thiên/Huế và cho số đồng bào đã nhận được số gạo cứu trợ này gởi lời chân thành đến hai ân nhân Thiếu tá Nguyễn Văn Tố và Trung úy Võ Văn Quế:

Miếng khi đói bằng đọi khi no.
Của tuy tơ tóc, nghĩa so ngàn trùng.


Xin muôn vàn cảm tạ Thiếu tá Nguyễn Văn Tố và cố Trung úy Cảnh Sát Võ Văn Quế.

Chiến cuộc chấm dứt vào ngày 26 tháng 2 năm 1968, Thiếu tá Nguyễn Văn Tố đã được vinh thăng Trung tá tại mặt trận cùng với Bảo Quốc Huân Chương Đệ Tứ Đẳng, kèm Anh Dũng Bội Tinh Nhành Dương Liễu.

Trước ngày 30 tháng 4/1975 Đại tá Nguyễn Văn Tố là Tỉnh Trưởng tỉnh Phú Yên.

Trong thời gian bị cộng sản cầm tù sau ngày 30/4/1975, đã có lần bọn chúng đem ông và một người bạn của ông ra xử bắn, nhưng chẳng hiểu tại sao bọn chúng lại ngưng.

Hiện tại ông và gia đình đang định cư tại nam California, USA.

8- Trung tá Nguyễn Văn Tăng

Quận Trưởng, Chi Khu Trưởng Chi Khu Hương Thủy.

Nếu tin vào mạng số thì có lẽ mạng số của ông đã phải gắn liền với số mạng của Huế. Trong những lần Huế bị nạn, Thiếu tá Nguyễn Văn Tăng đều có mặt, kề vai vào chống đỡ nỗi khổ đau, điêu linh, thăng trầm của Huế.

Năm 1966, quận Hương Thủy của Thiếu tá Tăng, và chính ông cùng một ít sĩ quan đứng ra chống lại cuộc bạo loạn miền trung của nhóm cộng sản khoác áo tăng lữ trong Phật Giáo Ấn Quang như Trí Quang, Đôn Hậu v.v. Quận đường Hương Thủy và Chi Khu Hương Thủy của Thiếu tá Tăng là căn cứ địa an toàn cho lực lượng địa phương và chính phủ trung ương làm đầu cầu và tuyến xuất phát để tái chiếm Huế trong tay bọn tranh đấu.

Ngày mùng 6 Tết Mậu Thân 1968, Thiếu tá Nguyễn Văn Tăng chỉ huy hai đại đội Địa Phương Quân Cơ hữu, vượt đoạn đường gian truân trắc trở và đầy hiểm nguy từ Dạ Lê đem quân vào Quận III tiếp cứu Huế, tiếp cứu Tiểu Khu Thừa Thiên, nơi mà người bạn thân của ông, Thiếu tá Nguyễn Văn Tố đang là người hùng cô đơn chống trả các đợt tấn công của cộng quân với lực lượng quá chênh lệch 1 người lính VNCH chống 30 tên cán binh Bắc Việt.

Có thể nói đơn vị đầu tiên của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa tiếp cứu Quận III thị xã Huế là hai đại đội Địa Phương Quân của Thiếu tá Nguyễn Văn Tăng do chính ông chỉ huy.

Mùa Hè đỏ Lửa Tháng 5/1972, Trung tá Nguyễn Văn Tăng Tham Mưu Trưởng Tiểu Khu Quảng Trị lui binh vào Huế. Ông đến Bộ Chỉ Huy Cảnh Sát thăm tôi, tuy gian lao mệt nhọc, nhưng dáng dấp vẫn như xưa, khoan thai, chậm rãi, đầy nghị lực.

Sau nhiều năm trong tù cộng sản, hiện ông và gia đình đang định cư tại nam California, USA.

9- Nghị Viên Võ Văn Bằng

Ông là Nghị Viên Hội Đồng Tỉnh Thừa Thiên, và cũng là một trong những đệ tử ruột của ông Thích Trí Quang, nhưng ông khác người ở chỗ là đã “ngộ” rất sớm khi thấy những việc làm sai trái của một số tăng lữ lợi dụng Phật Giáo hoạt động cho cộng sản. Là một Phật Tử chân chính, phân biệt rõ ràng giữa Phật và Thầy, giữa đạo và đời, thật hiếm có những tín đồ như ông trong giới Phật Tử tại Thừa Thiên Huế.

Sau Mậu Thân 1968, ông được Đại tá Lê Văn Thân, Tỉnh Trưởng Tỉnh Thừa Thiên Huế, mời làm Trưởng Ban Truy Tầm và Cải Táng Nạn Nhân Tết Mậu Thân. Với sự hỗ trợ giúp đỡ tích cực của đồng bào, của chính quyền Thừa Thiên-Huế và Đại tá Tỉnh Trưởng Lê Văn Thân, nghị viên Võ Văn Bằng cùng với thân nhân của 5327 nạn nhân đã lo liệu đem thi hài các nạn nhân chôn cất tươm tất, an nghỉ tại nghĩa trang tập thể Ba Đồn.

Tôi nghĩ, đại đức, tăng ni tu trọn khiếp người chưa chắc đã đạt được tấm lòng đạo đức nhân hậu như Nghị Viên Võ Văn Bằng, và nếu cõi đời sau có Niết Bàn thì nơi đó chính là nơi dành cho ông nghị viên đạo đức này.

Trên đây là những vị ân nhân của Huế mà tôi nhớ được.

Bản chất của dân tộc Việt Nam nhất là những người miền nam Việt Nam, luôn nghĩ đến mang ơn phải trả, mang nghĩa phải đền. Mậu Thân 1968 là một tai ương, một thảm họa của dân tộc, của xứ Huế. Những ai được sống sót sau thảm họa này đều mang ân nghĩa quá nặng với những tất cả các chiến sĩ VNCH và những vị ân nhân đã xả thân cứu Huế và đồng bào Huế, món nợ này trọn kiếp không trả nổi, chỉ xin nói nhiều lần trong đời người:

Xin Cám ơn... xin cám ơn... Xin cám ơn quý anh hùng tử sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa... Quý ân nhân đã xả thân cứu Huế cứu đồng bào Huế. Chúng tôi mãi mãi không quên ơn nghĩa này!

***

SƯ ĐOÀN KỴ BINH KHÔNG VẬN HOA KỲ và BCH/CSQG/THỪA THIÊN-HUẾ.

Như tôi đã trình bày ở phần trước, những ngày cận Tết Mậu Thân 1968, tình hình an ninh mỗi ngày mỗi nguy ngập. Lực lượng Hoa Kỳ trú đóng tại căn cứ Phú Bài là 2/3 Sư đoàn Thủy Quân Lục Chiến(USMC) thuộc Quân Đoàn 24, Tướng 4 sao Westmoreland, Tư Lệnh quân đội Hoa Kỳ tại Việt Nam tăng cường cho Thừa Thiên-Huế Sư Đoàn 101 Nhảy Dù và Sư Đoàn Kỵ Binh Không Vận Hoa Kỳ.

Sư Đoàn Kỵ Binh Không Vận Hoa Kỳ đến Thừa Thiên-Huế trước Tết Mậu Thân 1968 và họ đã bố trí theo một tuyến dài phía tây bắc thành phố Huế, dọc vùng núi tỉnh Thừa Thiên. Trận chiến phản công tái chiếm thành phố Huế, ngoài quân lực Việt Nam Cộng Hòa, đơn vị đồng minh chiến đấu sát cạnh là Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ (USMC), tôi không nhớ rõ có đơn vị 101 Nhảy Dù tham dự hay không, nhưng chắc chắn là Sư Đoàn 1 Kỵ Binh Không Vận Hoa Kỳ họ đã dàn quân bố trí dọc phía tây bắc thành phố Huế, vùng núi thuộc tỉnh Thừa Thiên. Vào đêm 24, 25/2/1968, cộng quân tháo chạy khỏi thành phố Huế về phía vùng núi tây bắc, bọn chúng đã đụng đầu ngay với Sư Đoàn Kỵ Binh Không Vận Hoa Kỳ và kết quả là cộng quân đã thiệt hại nặng về nhân mạng vũ khi đến hơn 90%.

Còn nhớ vào khoảng đầu năm 1969, Thừa Thiên-Huế có một trận lụt khá lớn, BCH/CSQG/Thừa Thiên-Huế khám phá Tiểu Đoàn K-4 thuộc Công Trường 4 Việt cộng đang ẩn trốn tại vùng quận Vinh Lộc, vì lụt lớn bọn chúng không thể vượt đầm Cầu Hai để trở lại mật khu. Sau khi họp bàn với viên Cố Vấn Cảnh Sát Đặc Biệt, hai chúng tôi đi gặp và yêu cầu Chuẩn tướng Tư Lệnh Sư Đoàn Kỵ Binh Không Vận Hoa Kỳ mở cuộc hành quân phối hợp truy lùng Tiểu Đoàn K-4 cộng sản tại quận Vinh Lộc, Tỉnh Thừa Thiên.

Sau phần trình bày tin tức của tôi, Tướng Tư Lệnh Sư Đoàn Kỵ Binh chấp nhận và đề nghị phối hợp hành quân như sau:

Sư Đoàn Kỵ Binh Không Vận Hoa Kỳ làm lực lượng bao vây và lục soát. Lực lượng CSQG/Thừa Thiên-Huế phối hợp lục soát và nhiệm vụ chính là thanh lọc đồng bào trong vùng.

Lực Lượng CSQG/Thừa Thiên đã sử dụng khoảng hơn 1 ngàn nhân viên Cảnh Sát vào cuộc hành quân phối hợp này, gồm CSDC, CSĐB, Cảnh Sát Sắc Phục, và toàn bộ Ủy Ban Phượng Hoàng Tỉnh.

Ngày N, giờ G, Sư Đoàn Kỵ Binh Không Vận Hoa Kỳ bao vây 3 mặt quận Vinh Lộc, phía mặt biển và phá Tam Giang, đầm Cầu Hai do Hải Quân Hoa Kỳ đảm trách.

Cán binh VC thuộc tiểu đoàn K-4 biết đã bị quân đội Hoa Kỳ bao vây, nên bọn chúng chôn dấu vũ khí trà trộn vào dân chúng, mong tìm đường tẩu thoát. Nhưng bọn chúng không thể thực hiện mưu kế này vì chúng tôi đã thành lập Trung Tâm Thanh Lọc. Phòng Tâm Lý Chiến của Sư Đoàn Kỵ Binh đã hỗ trợ đưa một toán y tế gồm các bác sĩ y tá đến vùng hành quân ngay tại Trung Tâm Thanh Lọc mà BCH/CSQG/Thừa Thiên-Huế thiết lập. Toán y tế của Sư Đoàn Kỵ Binh Không Vận Hoa Kỳ khám bệnh, phát thuốc, và phát thực phẩm cho đồng bào. Chúng tôi, dùng các hồi chánh viên của Tiểu Đoàn K-4 làm chỉ điểm. Kết quả có khoảng hơn 100 cán binh của K-4 bị bắt giữ.

Sau cuộc hành quân này, tôi, viên Cố Vấn Trưởng của Bộ Chỉ Huy CSQG/Thừa Thiên-Huế, và viên Cố Vấn Trưởng Tình Báo, chúng tôi đi thăm và cám ơn Tướng Tư Lệnh Sư Đoàn Kỵ Binh Không Vận Hoa Kỳ, về việc hai đơn đã phối hợp hành quân tại Quận Vinh Lộc. Vị Tư lệnh Sư Đoàn Kỵ Binh đã nhã nhặn hỏi chúng tôi đơn vị Kỵ Binh Không Vận cùa ông ta có thể giúp gì cho Bộ Chỉ Huy CSQG/Thừa Thiên-Huế. Tôi và viên Cố Vấn Trưởng của tôi trình bày với tướng Tư Lệnh Kỵ Binh Không Vận Hoa Kỳ rằng theo kế hoạch của Chính Phủ VNCH và Bộ Tư Lệnh CSQG tại Sài Gòn, chúng tôi đã thành lập 73 đơn vị Cảnh Sát Xã, gọi là Cuộc Cảnh Sát, chúng tôi đang lúng túng vì họ chưa có văn phòng làm việc.

Nghe chúng tôi trình bày xong, Tướng Tư Lệnh Sư Đoàn Kỵ Binh Không Vận Hoa Kỳ đã nhanh chóng giúp đỡ các vật dụng như tôn, ci-ment, ván ép, gỗ, cho BCH/CSQG/Thừa Thiên-Huế xây cất 73 trụ sở cuộc (Xã) cảnh sát tại 73 xã thuộc tỉnh Thừa Thiên. Với sự giúp đỡ đó, chúng tôi đã xây xong 73 cuộc cảnh sát Xã trong thời gian kỷ lục, và mỗi lần khánh thành trụ sở nào chúng tôi lại mời tướng Tư Lệnh Sư Đoàn Kỵ Binh tham dự. Chúng tôi đã tiết kiệm được một số ngân khoản khá lớn cho BTL/CSQG, vì nếu BTL/CSQG bỏ tiền ra xây cất 73 trụ sở Cảnh Sát Xã cho chúng tôi, thì số ngân khoản xây cất không phải là nhỏ. Lẽ dĩ nhiên, so với ngân sách của một quốc gia hay một đại đơn vị, thì số tiền này chẳng đáng gì, nhưng nó đã nói lên tình đồng minh, giữa hai đơn vị của hai đất nước, thể hiện qua hành động trực tiếp của vị chỉ huy một đơn vị trực tiếp hoạt động chung với chúng tôi.

(*) Cuộc Cảnh Sát là danh từ chỉ một đơn vị nhỏ của cảnh sát ở cấp xã.

Trong niềm cảm xúc riêng tư, tôi và dân chúng Huế vô cùng cảm kích tấm chân tình của Chuẩn tướng Tư Lệnh Sư Đoàn Kỵ Binh Không Vận Hoa Kỳ, vì những giúp đỡ cả về tinh thần lẫn vật chất mà ông và đơn vị dưới quyền đã dành cho dân chúng Thừa Thiên-Huế.

* Hiệu đính và bổ túc thêm tên và chức vụ trong phần chú thích cho bức hình: Louis Spalla, Cố Vấn Trưởng Bộ Chỉ Huy CSQG/TT-Huế.


Liên Thành
http://ubtttadcsvn.blogspot.com/2014/02/bai-6-hue-no-ai.html

==//==
  

Bấm vào đây để in ra giấy (Print)

oOo

Bảng hướng dẫn: Lời giới thiệu | Bài 1 | Bài 2 | Bài 3 | Bài 4 | Bài 5 | Bài 6 | Bài 7 | Bài 8 | Bài 9 | Phim TSMT-68 | Bài viết MT68 | Đầu trang

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Bài 7
AI NỢ HUẾ?
Liên Thành
(trích sách Huế Thảm Sát Mậu Thân 68 - Tác giả Liên Thành)

Bảng hướng dẫn: Lời giới thiệu | Bài 1 | Bài 2 | Bài 3 | Bài 4 | Bài 5 | Bài 6 | Bài 7 | Bài 8 | Bài 9 | Phim TSMT-68 | Bài viết MT68 | Đầu trang

Đồng bào Huế biểu tình, đòi Hồ Chí Minh, đảng Cộng sản Việt Nam và đám Việt Gian trả lại chồng, con, thân nhân bị thảm sát, mất tích, trong biến cố Mậu Thân 1968, qua Ủy Ban Liên Hợp Quân Sự Việt cộng đóng tại Bãi Dâu thuộc Quận II Thành phố Huế vào tháng 2/1973, sau ngày Hòa Đàm Paris được ký kết (Ngày 27/1/1973).

Hơn bốn mươi hai năm đã trôi qua, nói về Việt cộng là nói đến vụ thảm sát đẫm máu tại Huế vào Tết Mậu Thân 1968. Ai là thủ phạm? Ai nợ Huế? Chính Hồ Chí Minh, Lê Duẩn, Đảng Cộng sản Việt Nam, và những kẻ tội phạm như: Trần Văn Quang, Trung tướng VC Tư Lệnh Mặt Trận Trị Thiên-Huế, Lê Tư Minh, Đại tá VC Tư Lệnh Mặt Trận Huế, Thân Trọng Một, Đại tá VC Chỉ huy mặt trận cánh Nam (Vùng Quận III và phụ cận).

Lê Trọng Đấu, Trung tá VC Chỉ Huy Mặt Trận Cánh Bắc (Quận I, II).

Nguyễn Đình Bảy, Đại tá VC Trưởng Ty Công An.

Tống Hoàng Nguyên, Trưởng Ban An Ninh Khu Ủy Trị Thiên. Hoàng Lanh.

Hoàng Kim Loan, Trung tá Điệp viên Cộng sản, kiến trúc sư của toàn bộ màng lưới nằm vùng tại Huế.

Phan Nam, Thành Ủy Viên và... quá nhiều.

Và bè lũ đám Việt Gian nằm vùng lợi dụng núp bóng trong Phật Giáo như: Trí Quang, Đôn Hậu, Thiện Siêu, Chánh Trực, Như Ý.

Việt Gian trong giới trí thức, sinh viên tại Huế như:

Giới tiến sĩ, giáo sư có: Lê Văn Hảo, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Tôn Thất Dương Tiềm, Nguyễn Đóa, Tôn Thất Dương Kỵ.

Đám sinh viên có: Nguyễn Đắc Xuân, Hoàng Phủ Ngọc Phan, Nguyễn Thị Đoan Trinh, Lê Hữu Dũng, Lê Xuân Trường, Nguyễn Thiết, Nguyễn Hữu Vấn.

Và còn vô số những tên cơ sở nằm vùng của Việt cộng tham gia trong vụ tàn sát đồng bào Huế là những kẻ mang nợ Huế.

Những kẻ tội phạm đó hiện có kẻ đã chết, có người vẫn còn sống. Thế nhưng, dù đã chết hay còn sống chúng vẫn là những kẻ đã mắc nợ dân Huế, và chúng phải bị lịch sử kể tên. Món nợ này bọn Cộng sản thường gọi là “nợ máu nhân dân”, thế nhưng người quốc gia Miền Nam Việt Nam chúng tôi với bản chất nhân đạo, hiền hòa, tuân thủ luật pháp, chúng tôi gọi là nợ “công bằng và công lý”.

Và họ đã đòi món nợ “công bằng và công lý” lần thứ nhất vào ngày 2 tháng 2/1973 qua phái đoàn quân sự của Hà Nội và Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam gọi là Ủy Ban Quân Sự 4, phe trú đóng tại Bãi Dâu Thuộc Quận II Thành phố Huế sau ngày 27/1/1973 ngày ký hòa đàm tại Paris.

Vậy Liên Hợp Quân Sự 4 bên là gì?

Sau Mậu Thân 1968, vào ngày 26 tháng 6 năm 1968 lần đầu tiên Hoa Kỳ và Cộng sản Bắc Việt gặp nhau để thăm dò cho cuộc hòa đàm trong tương lai nhằm để cho Hoa Kỳ rút ra khỏi cuộc chiến, mặc cho Bắc Việt và Trung cộng và khối Cộng sản Đông Âu muốn làm gì thì làm.

Địa điểm gặp nhau là một ngôi nhà riêng của phía Cộng sản Bắc việt tại Vertry-sur-Seine, tại Pháp.

- Phái đoàn Việt Nam Cộng sản có Hà Văn Lâu và Nguyễn Minh Vỹ.

- Phái đoàn Mỹ có Cycrus Vance và Philippe Habib.

Vào ngày 28 tháng 9 năm 1968, phái đoàn Mỹ có Harriman, Vance, và Philippe Habib. Phía Cộng sản Bắc Việt có Lê Đức Thọ, Xuân Thủy, Hà Văn Lâu và thông dịch viên Nguyễn Đình Phương chính thức gặp gỡ và bắt đầu bàn thảo cũng tại Vertry-Sur-Seine, Pháp.

Sau đó Hoa Kỳ mới mời Chính Phủ Việt Nam Cộng Hòa vào tham dự hòa đàm. Phía Cộng sản Hà Nội đưa phái đoàn Mặt trận Giải Phóng Miền Nam vào phái đoàn của họ. Kể từ đó hòa đàm tại Paris có bốn phái đoàn tất cả:

- Việt Nam Cộng Hòa

- Hoa Kỳ

- Cộng sản Bắc Việt

- Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam

Và đây là toàn bộ nội dung rất đau đớn của Hiệp Định Paris:

Hiệp Định Paris Nhằm Chấm Dứt Chiến Tranh và Lập Lại Hòa Bình Tại Việt Nam.”

Chấm dứt chiến tranh có nghĩa là phía Hoa Kỳ không viện trợ không tham chiến nữa để mặc Miền Nam đối phó với cả khối Cộng sản Phương Bắc và Đông Âu.

Lập lại hòa bình có nghĩa là để cho Cộng sản Bắc Việt cai trị toàn bộ lãnh thổ Việt Nam thì sẽ không còn chiến tranh nữa. Đó là thứ Hòa Bình mà bọn phản chiến quốc tế và các chính trị gia bất lương Hoa Kỳ mong muốn.

Và cũng là thứ hòa bình mà bọn phản chiến phản bội tại Miền Nam mơ ước, chẳng hạn như Trịnh Công Sơn, Dương Quỳnh Hoa, Tôn Thất Lập, Trương Như Tảng, Đoàn Văn Toại, Huỳnh Tấn Mẫm, Ngô Bá Thành, Lý Quý Chung, Ngô Công Đức, Ni sư Huỳnh Liên, Thích Trí Quang, Thích Quảng Độ (một công dân Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa chính hiệu đã xâm nhập vào miền Nam năm 1958 và ngay lập tức hoạt động chống VNCH quyết liệt cho đến 1975), Võ Văn Ái, Thích Đôn Hậu, Thích Quảng Liên, Thích Nhất Hạnh, Phan Khắc Từ, Huỳnh Công Minh, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Hoàng Phủ Ngọc Phan, Nguyễn Đắc Xuân v.v.

Tóm lại, Hòa Đàm Paris là một bất hạnh cho Miền Nam nói riêng và cho cả đất nước nói chung. Đây là một vở kịch được phía Mỹ và Cộng sản Bắc Việt đi đêm với nhau và đạo diễn từ đầu, mà VNCH hoàn toàn không được hỏi ý và không còn lựa chọn nào cả. Chính vì điều đó mà Tổng Thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu đã chống lại hiệp định Paris tới cùng. Ông chống đến nỗi TT Nixon đã đe dọa “cắt đầu” ông. Ông biết hiệp định này hoàn toàn bất lợi cho chúng ta và ông đã làm tất cả mà ông có thể làm. Chúng ta là nước nhận viện trợ từ phía Hoa Kỳ để chống lại toàn bộ khối Cộng sản khổng lồ. Chúng ta đành phải chấp nhận thân phận lệ thuộc. Khi chính trường Hoa Kỳ diễn tiến bất lợi theo ý muốn của bọn báo chí phản chiến mà đã bị Cộng sản Hà Nội mua chuộc chẳng hạn như Jane Fonda, Tom Hayden, David Halberstam, Neil Sheehan, New York Times... các chính trị gia Hoa Kỳ vì quyền lợi cá nhân đã phản bội đồng minh VNCH, phản bội lại lý tưởng tự do của đất nước Hoa Kỳ để ngồi xuống thương lượng với bọn lưu manh lừa đảo và man rợ Cộng sản Bắc Việt. Nỗi đau này không riêng gì cho toàn thể quân dân cán chính Miền Nam Việt Nam mà cho cả các cựu chiến binh Hoa Kỳ đã từng tham chiến tại Việt Nam và 58 ngàn nam nữ thanh niên Hoa Kỳ đã nằm xuống để bảo vệ lý tưởng tự do cho Việt Nam, như các thế hệ thanh niên khác của Hoa Kỳ đã làm trong thế chiến thứ II.

Cuộc thương lượng kéo dài từ tháng 9 năm 1968 mãi đến ngày 27 tháng 1 năm 1973 mới kết thúc với bản thỏa hiệp được ký kết bởi đại diện 4 bên nhằm chấm dứt cuộc chiến tại Việt Nam gọi là:

Hiệp Định Paris Nhằm Chấm Dứt Chiến Tranh và Lập Lại Hòa Bình Tại Việt Nam.”

Ngày ký Hiệp Định là ngày 27 tháng 1 năm 1973.

Ngày có hiệu lực và ngưng bắn là: Đúng 7 giờ sáng ngày 28 tháng 1 năm 1973.

Đại diện bốn phe ký vào nghị định thư gồm có:

1- Việt Nam Cộng Hòa: Tổng trưởng Ngoại giao Trần Văn Lắm.

2- Chính phủ Hoa Kỳ: Bộ trưởng Ngoại Giao William P. Roger.

3- Chính phủ Cộng sản Bắc Việt: Bộ trưởng Ngoại Giao Nguyễn Duy Trinh.

4- Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam: Bộ Trưởng Ngoại Giao Nguyễn Thị Bình.

Hai cơ cấu quan trọng nhất trong nghị định thư Hòa Đàm Paris là:

1- Ủy Ban Liên Hợp Quân Sự 4 bên.

Các thành viên của ủy ban này gồm có:

- Việt Nam Cộng Hòa

- Hoa Kỳ

- Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam

- Bắc Việt

Nhiệm vụ của Ủy Ban Liên Hợp Quân Sự

Theo điều 16 của Hiệp Định thư thì:

- Thực hiện việc ngưng bắn trên toàn lãnh thổ miền nam Việt Nam, bao gồm tất cả các bên ở Miền Nam Việt Nam.

- Phối hợp, theo dõi kiểm tra 4 bên trong việc thực hiện các điều khoản của hiệp định.

- Ngăn ngừa vi phạm và phát hiện vi phạm hiệp định ngưng bắn v.v.

- Ban Liên Hợp Quân Sự 4 bên sẽ bắt đầu hoạt động ngay sau khi ký hiệp định này, và sẽ chấm dứt hoạt động trong thời hạn sáu mươi ngày.

Mỗi bên chỉ định một đoàn đại biểu quân sự là 16 người tại khu vực địa phương, và do một sĩ quan cấp bậc Trung tá chỉ huy.

Ủy Ban Liên Hợp Quân Sự tại trung ương (đóng tại Camp David, Phi Trường Tân Sơn Nhất) mỗi bên có 56 người và do một sĩ quan cấp tướng chỉ huy.

2- Ủy Ban Quốc Tế kiểm soát và giám sát đình chiến.

Ủy ban này gồm các thành viên đại diện của 4 nước:

- Ba Lan

- Canada

- Hunggary

- Indonesia

Các thành viên của ủy ban quốc tế này sẽ luân phiên làm chủ tịch trong từng thời gian do ủy ban quốc tế quy định.

Điều 11 của Hiệp Định Paris quy định sẽ có 7 Ủy Ban Liên Hợp quân sự khu vực đóng tại vùng ghi trong bản đồ kèm theo và đóng tại các địa đểm sau đây:

Khu vực I: Huế

Khu Vực II: Đà Nẵng

Khu vực III: Pleiku

Khu vực IV: Phan Thiết

Khu vực V: Biên Hòa

Khu vực VI: Mỹ Tho

Khu vực VII: Cần Thơ

Như vậy sẽ có một phái đoàn quân sự của Cộng sản Bắc Việt và Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam gồm khoảng 32 người lính và sĩ quan của bọn chúng đến trú đóng tại Thành phố Huế ngay sau khi Hiệp định thư được 4 phe ký kết tại Paris vào ngày 27 tháng 1 năm 1973 và ngày có hiệu lực ngưng bắn là 7 giờ sáng ngày 28 tháng 1 năm 1973.

Chúng tôi đã nhận được lệnh của Bộ Tư Lệnh Cảnh Sát Quốc Gia tại Sài Gòn là chuẩn bị đón phái đoàn Việt cộng (MTGPMN) và Bắc Việt sẽ từ Hà Nội đến Huế bằng máy (Phi Trường Phú Bài), ngày, giờ, số phi vụ v.v. Chúng tôi sẽ phải hộ tống chúng lên căn cứ tại Bãi Dâu, thuộc Quận II Thị Xã Huế. Căn cứ này do Hoa Kỳ xây cất cho phái đoàn Cộng sản và chúng tôi cũng phải đảm nhiệm bảo vệ an ninh và hộ tống bọn chúng trong suốt thời gian 60 ngày bọn chúng đóng tại Huế theo đúng thời gian Nghị Định Thư ấn định. Ngoài ra Bộ Tư Lệnh cũng lưu ý chúng tôi rằng bọn Cộng sản này được hưởng quy chế ngoại giao.

Cộng quân mưu toan chiếm vùng đất phía tây bắc Huế trước giờ ngưng chiến.

Ngày đình chiến có hiệu lực là 7 giờ sáng ngày 28 tháng 1 năm 1973. Thế nhưng vào khuya ngày 27/1/1973 rạng ngày 28/1/1973, cộng quân bất chấp Nghị Định Thư tái lập hòa bình mà bọn chúng vừa ký chưa ráo mực vào ngày 27/1/1973. Bọn chúng xua quân tràn ngập vùng tây bắc thành phố Huế, chỉ cách thành phố Huế chưa đầy 20Km. Đó là vùng xã Phong An thuộc quận Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên nằm phía trên Quốc lộ I.

Ý định của địch là chiếm xã này trước giờ ngưng bắn có hiệu lực, tức 7 giờ sáng ngày 28/1/1973. Như vậy chúng đặt chính phủ VNCH vào chuyện đã rồi, không thể xua quân tái chiếm được nữa. Vì nếu xua quân tái chiếm là vi phạm lệnh ngưng chiến.

Thế nhưng bọn chúng đã lầm, lầm lớn...

Tôi còn nhớ vào khoảng hơn 12 giờ khuya ngày 27/1/1973, Đại úy Trần Văn Trinh, Trung Tâm Trưởng Trung Tâm Hành Quân Cảnh Lực, hớt hải chạy sang phòng làm việc của tôi:

- Thiếu tá, Trung úy Cuộc Trưởng Cuộc Phong An xin gặp Thiếu tá trên hệ thống gấp lắm.

Tôi theo chân Đại úy Trinh sang Phòng Hành Quân. Nắm ống liên hợp của máy truyền tin Motorola tôi nói ngay:

- Tôi thẩm quyền Tango đây, anh nói đi.

Tôi nghe tiếng phát âm trong loa khuếch đại rất nhỏ:

- Em Trung úy... Trưởng Cuộc Phong An đây Thẩm Quyền. Thẩm Quyền cứu bọn em. Việt cộng đã tràn ngập, trụ sở xã và Cuộc Cảnh Sát bị bọn chúng vây rồi.

- Tôi đây, anh bình tĩnh. Thiệt hại anh em như thế nào rồi? Có ai bị thương, tử thương không? Bọn chúng đông không?

- Trình Thẩm Quyền có 2 anh em bị thương nặng, máu ra nhiều quá. Không có ai tử thương. Bọn chúng đông lắm Thẩm Quyền.

- Cố gắng kiếm cách cầm máu cho 2 anh em bị thương. Có băng cá nhân không?

- Có Thẩm Quyền.

- Hiện tại anh em có bao nhiêu người và cán bộ xã có bao nhiêu?

- Anh em hiện diện 14 người, xã có 6 và một trung đội Nghĩa Quân.

- Tôi sẽ cố gắng ra với các anh càng nhanh càng tốt. Bằng mọi cách giữ vững tinh thần, giữ liên lạc với Trung Tâm Hành Quân và tôi.

- Cám ơn Thẩm Quyền, ông ra gấp với chúng tôi.

- Bắt buộc. Tôi sẽ ra với các anh, rất sớm.

- Tôi dứt, các anh đợi tôi.


Tôi xoay qua nói với Đại úy Trinh:

- Anh gọi Đại úy Tý, nói Tý lệnh của tôi, cho Đại Đội Phó Bác Sĩ Chung Châu Hồ sang ngay Trung Tâm Hành quân hướng dẫn cho anh em ngoài đó, săn sóc cho hai anh em bị thương. Nhớ cứ năm mười phút liên lạc với họ cho họ lên tinh thần.

Tôi dùng điện thoại tại trung tâm hành quân liên lạc trình Đại tá Tỉnh Trưởng kiêm Tiểu Khu Trưởng Tiểu Khu Thừa Thiên, Đại tá Tôn Thất Khiên:

- Trình Đại tá, Cuộc Trưởng Cảnh Sát xã Phong An vừa báo cho biết cộng quân đã tràn ngập xã Phong An, và hiện trụ sở xã và cuộc Cảnh Sát đang bị chúng bao vây. Họ xin tiếp cứu giải vây, trình Đại tá.

Đầu dây bên kia Đại tá Khiên trả lời tôi:

- Hiện tại Tiểu khu không còn lực lượng trừ bị nữa. Lệnh ngưng bắn có hiệu lực đúng 7 giờ sáng ngày mai. Mọi đơn vị Địa Phương Quân đã bố trí đâu ở đó giữ đất giữ dân, không còn lực lượng nào nữa. Cảnh Sát Dã Chiến của anh hiện tại có bao nhiêu?

- Trình Đại tá hiện tại tôi có 500. Vì ngày mai ngưng bắn, tôi sợ thành phố có biến động chính trị, nên tôi đã rút nguyên Đại đội CSDC về thành phố ứng trực trấn áp bạo động.

- Tốt, anh để lại 200 trừ bị giữ thành phố, số còn lại sáng sớm ngày mai anh đích thân chỉ huy giải tỏa xã Phong An.

- Dạ Đại tá, Đại tá còn chỉ thị gì nữa không?

- Không.

- Vậy tôi sửa soạn vì cũng đã gần sáng rồi.

- Tôi dứt, Đại tá.

- Liên Thành, cẩn thận, nhớ vào tần số với Trung tâm hành quân Tiểu khu có gì xin họ yểm trợ.

- Dạ, cám ơn Đại tá.


Tôi gác điện thoại, nhìn đồng hồ cũng đã gần 2 giờ sáng. Đại úy Trinh đang đứng cạnh tôi, tôi nói với Trinh:

- Trinh ơi, cận giờ quá rồi, mình không còn nhiều giờ đâu, anh gọi Vinh, Ân, Tý, Hồ 10 phút sau họp tại phòng hội.

Vì ngày mai ngưng bắn, nên đơn vị trong tình trạng cấm trại 100%. Chỉ 10 phút sau chúng tôi đã có mặt tại phòng hội. Mọi người đã đông đủ, tôi cho anh em biết ngay tình hình xấu tại xã Phong An, địch đã tràn ngập và bao vây trụ sở xã, và cuộc Cảnh Sát Phong An. Tôi đã trình Đại tá Tỉnh Trưởng, ông không còn đơn vị Địa Phương Quân nào nữa để giải tỏa, vì vậy ông giao chuyện này cho anh em mình. Mặc dầu nhiệm vụ này quá nặng đối với CSQG, nhưng lệnh thì phải thi hành, chúng ta cố gắng.

Theo lệnh Đại tá Tỉnh trưởng mình sẽ giải tỏa áp lực địch tại xã Phong An, và cứu anh em mình ra khỏi vòng vây của bọn chúng.

Chúng ta hiện có 500 Cảnh Sát Dã Chiến đang ứng trực. Tôi sẽ lấy 300, cùng với Đại úy Tý đi tiếp cứu anh em và giải tỏa xã Phong An. Số còn lại để lại thành phố làm lực lượng trừ bị, sẵn sàng trấn áp bạo động nếu xảy ra mọi biến động chính trị ngày mai.
Phân chia trách nhiệm chỉ huy như sau:

- Thiếu tá Trương Văn Vinh chịu trách nhiệm chỉ huy điều động, phản ứng cấp thời, mọi tình huống vào sáng mai tại thành phố Huế. Phụ tá là Thiếu tá Trương Công Ân phụ tá ngành CSĐB.

- Đại úy Chung Châu Hồ, Đại đội phó CSDC với 200 CSDC, sẵn sàng hành động theo lệnh Thiếu tá Chỉ Huy Phó.

- Đại úy Trần Văn Trinh, Trung Tâm Trưởng Trung Tâm Hành Quân Cảnh Lực, theo sát tình hình ngưng bắn tại 13 quận và 73 xã, báo cáo tức thời với Đại tá Tỉnh Trưởng, Bộ Chỉ Huy CSQG/Vùng I và Bộ Tư Lệnh Tại Sài Gòn.

- Làm Lệnh Hành quân trình Đại tá Tỉnh Trưởng ký với tư cách là chủ Tịch Ủy ban Phượng Hoàng tỉnh để hợp thức hóa cuộc hành quân của lực lượng CSQG/Thừa Thiên-Huế vào ngày mai tại Phong An.

Anh em có gì thắc mắc xin hỏi, còn bằng không chúng ta giải tán.


Tôi nói với Đại úy Tý:

Anh về chuẩn bị. Lần này đi đánh giặc chứ không phải đi giải tán biểu tình. Lựa những trung đội trưởng cứng cựa và có kinh nghiệm tác chiến. Đúng 5 giờ 30 sáng, tôi sang anh và chúng ta xuất phát.

Đúng 5:30 sáng ngày 28/1/1973 chúng tôi xuất phát từ doanh trại Đại Đội CSDC 102, ra khỏi thành phố đi về hướng bắc, trực chỉ xã Phong An, quận Phong Điền.

Trời chưa sáng, lại có sương mù, ngồi trên xe mà lòng ngổn ngang trăm mối lo lắng. Lực luợng địch là thành phần nào mình cũng chưa biết, Chính quy? Du kích địa phương? Chúng nó bao nhiêu?

Nào là anh em bị địch vây hãm, chỉ nghe câu nói của Trung úy Cuộc Trưởng xã Phong An “Thẩm Quyền cứu bọn em” mà lòng dạ xót xa. Cho dù có chết cũng phải liều mạng sống để cứu anh em. Rồi thì trách nhiệm quá nặng trong vụ này. Lực lượng CSDC không chuyên nghiệp trong nhiệm vụ tác chiến với địch. Mang đi 300 anh em CSDC tức là mang theo 300 gia đình vợ con của họ. Lỡ mà đụng nặng với địch bị tổn thất thì ăn làm sao nói làm sao với vợ con họ.

Trời vẫn còn tối, đoàn xe chạy trong sương mù. Tôi đã thức suốt đêm rồi mà sao chẳng thấy buồn ngủ mà chỉ thấy lòng lo lắng vì trách nhiệm quá nặng đang đè trên vai. Bỗng Trung Sĩ Trương Văn Diệp ngồi sau cất tiếng:

- Ôn ơi, uống tí café cho tỉnh đi.

Miệng nói anh ta đưa cho tôi ly café. Tôi chợt nhớ chuyện hết sức quan trọng vội chụp máy gọi Trung Tâm Hành Quân Cảnh Lực Đại úy Trinh:

- Trinh Tango gọi.
- Tôi nghe Thẩm Quyền.
- Anh đã liên lạc với Chi Khu Phong Điền chưa?

- Rồi Tango, có tần số của Chi Khu rồi. Tôi chuyển cho ông, ông liên lạc ngang với họ đi.

- Nhận rõ.


Khoảng hơn 6 giờ sáng chúng tôi đã tiếp cận mục tiêu. Sương mù chưa tan, cảnh vật chưa rõ ràng, tầm quan sát rất hạn chế. Đoàn xe dừng lại ngay trên quốc lộ I. Tôi cho lệnh Tý đổ quân và bố trí hàng ngang dọc theo bên trên Quốc lộ I. Các trung đội đã vào vị trí sẵn sàng và đợi lệnh. Đại úy Tý đã đến sát gần tôi:

- Xong rồi anh, chúng tôi đợi lệnh anh.
- Anh đợi, tôi liên lạc với Trưởng Cuộc.


Trung sĩ Nguyễn Đình Ánh đã liên lạc được với Trung úy Trưởng Cuộc Phong An. Ánh giao ống liên hợp cho tôi:

- Tango đây, tôi và đơn vị đã đến gần với anh rồi đó, yên tâm đi. Hai anh em bị thương ra sao rồi? Từ khuya đến giờ có bị thêm ai nữa không? Chúng tôi đang bố trí ngay quốc lộ, cách anh khoảng 300 mét mà thôi. Anh có thể cho tôi biết tình hình địch chung quanh như thế nào trước khi chúng tôi xông vào đưa các anh ra.

- Trình Thẩm Quyền, không hiểu sao từ khuya đến giờ bọn chúng không tấn công vào xã nữa mà án binh bất động. Bọn chúng bố trí một tổ trong căn nhà trước mặt xã. Xa hơn nữa không quan sát được nên không biết bọn chúng đông hay ít. Ngay trên đường mòn từ quốc lộ đi vào xã, bọn chúng đã bố trí một chốt ở đó. Thẩm Quyền và anh em cẩn thận.

- Tôi nhận anh rõ, lệnh cho mọi người sẵn sàng chúng tôi ào vào là rút ra ngay, hai anh em bị thương chúng tôi đã có đem theo hai băng-ca rồi, mình sẽ di chuyển họ ra trước. Anh đợi tôi, tôi dứt.


Đại úy Tý nghe rất rõ cuộc điện đàm của tôi và Trung úy Truởng Cuộc. Tý hỏi tôi:

- Mình bắt đầu?
- Đợi tí, để tôi chỉ rõ ràng cho anh đã.


Miệng nói tay tôi chỉ phía trước:

- Sương mù chưa tan. Tầm quan sát rất hạn chế. Chúng ta có thể lợi dụng lúc này, đang lúc tranh tối tranh sáng, chúng khó phát giác. Anh đồng ý không?

- Đồng ý.

- Mình đã đến trụ sở xã này nhiều lần rồi, anh nhớ không? Sau bờ làng chỉ khoảng một, hai trăm thước là trụ sở xã.

Anh thấy đó, địa thế và mục tiêu rất khó để tấn công, vì từ một khoảng trống, đến bìa làng và mục tiêu nằm sau bìa làng. Bây giờ mình chia đôi lực lượng. Anh 4 trung đội, tôi 4 trung đội. Mình áp dụng đội hình hàng ngang tấn công chiếm mục tiêu. Tuyến xuất phát tại đây. Bốn trung đội của tôi dàn hàng ngang chạy thật nhanh chiếm bìa làng. Tôi chiếm được bìa làng rồi, làm đầu cầu an ninh, đến phiên 4 trung đội của anh nhập vào với tôi tại bìa làng, và rồi từ đó anh cánh trái, tôi cánh mặt xông thẳng vào trụ sở xã. Anh bảo vệ cạnh sườn phía trái cho tôi. Sau đó, 4 trung đội của tôi giữ mặt trước, anh mặt sau đưa anh em bị thương, và cán bộ xã, nghĩa quân rút ra quốc lộ ngay. Chúng tôi rút sau, bắn chận cho anh rút lui nếu bọn chúng nổ súng.

Mục đích của chúng ta là cứu anh em ra. Chiếm lại đất, giữ dân là trách nhiệm của quân đội trong giờ phút đình chiến này chứ không phải của chúng ta.

Anh hiểu rõ ý định điều quân của tôi chưa?

- Hiểu rõ.

- Còn một điều nữa, lỡ tôi có bị thương, hay tử thương thì đừng quan tâm, tính sau. Anh thay tôi chỉ huy và phải cố gắng cứu anh em mình ra ngay. Ngược lại nếu anh có bị thương hay tử thương thì cũng vậy. Hành động dứt khoát, lưỡng lự chậm trễ là chết cả đám. Hy vọng là với sương mù như thế này bọn chúng không thấy mình.

- Tôi nhận rõ.

- OK anh giao cho tôi 4 trung đội.


Bốn trung đội hàng ngang ở tuyến xuất phát. Sau khi đã nói rõ ý định của tôi và dặn dò anh em kỹ lưỡng, tôi nói với Thiếu úy Sắc, một trong những trung đội trưởng rất giỏi của Đại Đội:

- Tôi bị gì anh thay tôi.

- Dạ.


Xoay qua bốn trung đội tôi nói:

- Anh em thấy đó, từ đây đến bìa làng chỉ khoảng tối đa là 200 mét. Khi tôi đếm một hai ba, chạy... là chúng ta chạy thật nhanh đến bìa làng. Nếu bọn chúng phát giác, chúng nổ súng thì chúng ta nổ súng bắn trả ngay, đồng loạt và xông thẳng vào bọn chúng, còn nếu chạy lui là chết hết không còn một ai. Anh em nghe rõ chưa?

- Nghe rõ.

- Chiếm được bìa làng, chúng ta nằm lại, giữ chặt bìa làng làm đầu cầu an ninh cho 4 trung đội của Đại úy Tý nhập vào với chúng ta.


- Tất cả sẵn sàng... một, hai, ba, chạy...

Chỉ một hai phút sau chúng tôi đã chiếm được bìa làng mà địch không biết. Bốn trung đội của Tý khoảng ba phút sau cũng đã đến bìa làng nhập chung với chúng tôi.

Giai đoạn I đã xong, bây giờ đến giai đoạn II. Từ bìa làng đến mặt sau của trụ sở xã cũng chỉ khoảng dưới 200 mét. Để tránh ngộ nhận, tôi nói Tý đợi, để tôi liên lạc với Cuộc Trưởng trước khi xông vào xã, bằng không họ bắn mình tan xác vì tưởng mình là Việt cộng.

Trung Sĩ Nguyễn Đình Ánh giữ máy truyền tin đã liên lạc được với Cuộc Trưởng và Ánh giao ống liên hợp cho tôi:

- Tango đây, chúng tôi đã đến gần anh rồi, ngay bìa làng, một vài phút nữa chúng tôi sẽ đến bằng hướng sau của trụ sở xã, dặn anh em đừng bắn. Chúng tôi sẽ thanh toán mấy thằng Việt cộng nơi ngôi nhà tranh trước mặt anh, và sau đó mình bắt tay nhau, anh nhận rõ chưa?

- Tôi nhận rõ

- Tốt, tôi dứt.

Tôi nói nhỏ với Tý:

Khi 4 trung đội của tôi bắt đầu chạy chiếm phía mặt của trụ sở xã, anh cho lệnh bắn tập trung M-79 và đại liên vào toán Việt cộng đang chiếm ngôi nhà tranh trước mặt xã. Mấy trung đội kia trách nhiệm đưa mọi người trong xã rút ở hướng sau ra quốc lộ.

Hai ba phút sau Tý bắt đầu cho lệnh bắn tập trung vào ngôi nhà tranh trước mặt xã.

Trong cảnh sương mù mờ ảo, trong không gian im lặng và tĩnh mịch tại vùng xã Phong An vào buổi ban mai, tiếng nổ của M-79, đại liên M-60, và súng M-16 rền trời, vang dội, của lực lượng Cảnh Sát Quốc Gia Thừa Thiên-Huế. Địch đã bắn trả. Bên phía của Tý có 1 Cảnh Sát Dã Chiến bị tử thương và 2 bị thương.

Tôi yểm trợ cho Tý, và anh cùng 4 trung đội đã bắt tay được với anh em Cảnh Sát Xã và cán bộ xã Phong An, đã đưa họ ra vùng an toàn ngoài Quốc lộ I.

Tôi gọi máy về Trung Tâm Hành Quân Cảnh Lực:

- Trinh, Tango gọi.

- Tôi nghe thẩm quyền, ông và anh em ra sao rồi.

- Chúng tôi đã vào được Xã Phong An, đưa hết anh em mình và cán bộ xã ra vùng an toàn rồi. Chúng tôi có 1 CSDC tử thương và 2 CSDC bị thương. Anh gọi trình BCH/Khu I và Bộ Tư Lệnh.

Gọi Bác sĩ Chung Châu Hồ và ông Bảo, Trưởng ban Y tế ra gấp đưa anh em bị thương vào bệnh Viện. Hiện chúng tôi đang bố trí dọc Quốc lộ I đợi lệnh Đại tá Tỉnh Trưởng.

- Nhận rõ thẩm quyền.

Tôi xoay qua hệ thống C-25 liên lạc với Đại tá Tỉnh trưởng, Tiểu Khu Trưởng:

Trình thẩm quyền lực lượng chúng tôi đã vào được trụ sở xã Phong An và đã đưa hết anh em Cảnh Sát và cán bộ xã ra vùng an toàn rồi.

Chúng tôi 1 CSDC tử thương, 2 CSDC bị thương cộng với 2 Cảnh Sát Xã hồi đêm, tổng cộng 4 bị thương.

Địch phản ứng rất yếu, không hiểu tại sao. Theo tin tức của dân chúng trong vùng và của Cảnh Sát Đặc Biệt thì bọn chúng có khoảng 3 tiểu đoàn, nhưng đóng sâu vào trong, cách trụ sở xã khoảng hai, ba cây số.

Tôi và 300 Cảnh Sát Dã Chiến hiện đang bố trí dọc quốc lộ I, đợi lệnh Đại tá
.

Trong loa khuếch đại tiếng nói của Đại tá Tỉnh Trưởng Tôn Thất Khiên nghe rất rõ:

- Liên Thành, anh làm tốt lắm, cố gắng giữ đừng cho bọn chúng tràn qua quốc lộ I, tôi sẽ điều động lực lượng Địa Phương Quân đến thay anh. Tôi sẽ ra gặp anh bây giờ.

- Nhận rõ Thẩm Quyền.


Nhìn đồng hồ đã gần 9 giờ sáng, như vậy thời gian ngưng bắn đã qua gần 2 giờ rồi, và thế nào rồi bọn Việt cộng cũng tố cáo ngược chúng tôi, Lực Lượng Cảnh Sát Quốc Gia Thừa Thiên-Huế là đơn vị đầu tiên trong lãnh thổ tỉnh Thừa Thiên vi phạm lệnh ngưng bắn của Hiệp Định Hòa bình Paris. Tôi phải nghĩ câu trả lời, nếu báo chí hỏi đến. Tôi phải chứng minh rằng chúng tôi, Lực Lượng Cảnh Sát Quốc Gia Thừa Thiên-Huế, phải hành động như vậy vì bọn lưu manh Cộng sản đã xua quân chiếm dân, chiếm đất xã Phong An trước giờ hưu chiến trong mưu mô đặt chính phủ VNCH và chính quyền Thừa Thiên-Huế vào chuyện đã rồi, là không thể đưa quân đội phản công dành lại dân và lãnh thổ xã Phong An. Chúng nghĩ rằng nếu đánh trả dành lại Phong An thì chính VNCH sẽ không làm vì như vậy là chính phủ VNCH vi phạm lệnh ngưng bắn.

Nhưng bọn chúng đã lầm. Đại tá Tỉnh Trưởng kiêm Tiểu Khu Trưởng Tiểu Khu Thừa Thiên Huế Tôn Thất Khiên cũng như anh em CSQG Thừa Thiên Huế cũng như cá nhân Liên Thành không thể vì cái hiệp định cà chớn đó mà để cho bọn lưu manh Cộng sản muốn làm gì thì làm, còn lâu! Đại tá Tôn Thất Khiên và cá nhân tôi cũng như các anh em trong lực lượng CSQG Thừa Thiên-Huế cương quyết không để mất dân, mất đất trong lãnh thổ Thừa Thiên-Huế. Cho nên Đại tá Khiên đã ra lệnh cho lực lượng Cảnh Sát Quốc Gia Thừa Thiên-Huế với 300 Cảnh Sát Dã Chiến giải tỏa áp lực địch, giữ dân và giữ đất Xã Phong An của VNCH. Bọn ăn cướp Cộng sản Bắc Việt xông vào nhà cướp tài sản, cướp con cái của chủ nhà, vậy chủ nhà để yên cho chúng nó sao? Phải lấy súng bắn vào đầu chúng và đuổi chúng ra khỏi nhà. Có một trăm cái hiệp định thì cũng vậy thôi. Đó là lẽ công bằng.

Khoảng 9 giờ 45 sáng, Đại tá Tỉnh trưởng Tôn Thất Khiên có mặt ngay vị trí chúng tôi đang bố trí ở quốc lộ I, cách trụ sở xã Phong An không xa. Ông vừa bắt tay tôi vừa khen:

- Làm được lắm.

Tôi trình bày tình hình hiện tại và nêu thắc mắc của tôi: Cộng quân phản ứng rất yếu không hiểu tại sao? Có điều quan trọng nữa là Cảnh Sát Đặc Biệt vừa báo cho tôi biết, phái đoàn báo chí quốc tế tại khách sạn Hương Giang đang trên đường ra đây, thế nào bọn chúng cũng đề cập đến vấn đề chúng ta vi phạm lệnh ngưng bắn.

- Đại tá muốn chận họ lại không, hay để cho họ tự do đi vào vùng hành quân?

- Chận làm chi Liên Thành, cứ để cho tụi hắn vào. Việt cộng mưu toan chiếm đất, chiếm dân của mình, mình phải phản ứng đánh trả. Bọn nó không tôn trọng lệnh ngưng bắn thì tại sao phải bắt mình tôn trọng.


Hai đại đội Địa Phương Quân đang trên đường đến để thay cho anh. Anh về lo việc trong thành phố.

Mình đi vào trụ sở Xã.

Miệng nói chân ông bước, tôi hoảng hồn nói to:

- Đại tá, chậm một tí, để tôi cho đơn vị mở đường, phía trước chưa an ninh.

Ông và tôi đi chậm lại. Tý đưa một trung đội đi mở đường phía trước. Trung đội đi mở đường vừa đi vừa bắn hằng loạt vào các bụi cây rậm bên đường và vừa la lớn:

Đầu hàng đi... đầu hàng đi... dơ tay lên!... đôi súng xuống!...”

Có lẽ chỉ là tiếng la bâng quơ của anh em CSDC đi mở đường la cho vui, nhưng bỗng có tiếng trả lời rất lớn, giọng Bắc:

Đừng bắn... Đừng bắn... các anh đừng bắn... cho chúng em đầu hàng...”

Từ trong bụi rậm bên đường, phía bên trái cạnh bờ sông, ló ra 6 ôn lính Cộng sản con, mặt mày non choẹt, tuổi khoảng 13, 14. Hai tay họ giơ cao:

- Các anh đừng bắn, cho chúng em hàng.

Cảnh Sát Dã Chiến xông đến vây quanh còng tay từng người một.

Một cán binh trong đám họ có lẽ là tổ trưởng, hốt hoảng lên tiếng:

- Sao các anh lại trói chúng em? Chúng em được lệnh vào Nam tiếp thu mà. Sao lạ nhỉ?

Tôi nghe người lính nhỏ Bắc Việt chỉ khoảng 13 tuổi hỏi câu đó mà lòng xúc động, thấy thương họ quá. Ở tuổi này, những trẻ thơ của miền Nam đang quây quần bên cha mẹ chị em, bên học đường bạn bè, thì những trẻ thơ Miền Bắc lại bị bọn đầu sỏ Cộng sản Việt Nam phỉnh gạt, lùa những trẻ nhỏ vào chiến trường Miền Nam gọi là đi “tiếp thu” Miền Nam. Chúng lừa gạt trẻ thơ hy sinh mạng sống, đem xương trắng máu đào của thiếu niên xây đắp mộng bá đồ vương của đảng cộng sản.

Tôi hỏi 6 người lính trẻ Bắc Việt:

- Các anh thuộc đơn vị nào?

- Chúng em thuộc Công Trường 6 chính quy.

- Các anh đến vùng này bao lâu rồi?

- Chúng em mới xâm nhập vào tối hôm qua, khoảng 8 giờ tối.

- Với mục đích gì?

- Chúng em được lệnh đến tiếp thu.

- Tại sao hồi đêm chúng tôi tấn công vào xã, nhổ chốt của các anh trước mặt xã mà các anh không đánh trả?

- Chúng em chưa có lệnh. Hơn nữa chúng em rất sợ lính Dù Ngụy. Các anh là Lính Dù Ngụy?


- Không phải. Chúng tôi là Cảnh Sát Dã Chiến.

- Cảnh Sát Dã Chiến là gì cơ?

- Đại khái là lực lượng Công An Xung Phong, đặc công.

- À ra thế, sao lại mặc dồ Dù Ngụy nhỉ?


Thì ra bọn binh lính Việt cộng ngay cả đám chính quy, cũng phải nể sợ chiến sĩ Nhảy Dù của quân lực VNCH vì thế mà bọn chúng chưa dám nổ súng.

A Di Đà Phật... cứu khổ cứu nạn... Cám ơn Chúa...

Cũng nhờ oai phong của “lính Dù Ngụy” mà chúng tôi thoát được một tai ương lớn. Nếu không, với sức lực của CSDC làm sao chúng tôi đương đầu nổi với Công Truờng 6, chính quy Bắc Việt.

Đại tá Tỉnh Trưởng hỏi một cán binh Cộng sản đang dứng gần Ông:

- Em bao nhiêu tuổi?

- Dạ em 15 tuổi.

- Gia đình ở đâu?

- Chúng em ở ngoài Bắc.

- Các em có đói không?

- Dạ đói lắm.


Đại tá Tỉnh Trưởng xoay qua nói với tôi:

- Liên Thành, có chi cho họ ăn đi.

- Có bánh mì và nước ngọt trong Bộ Chỉ Huy mới tiếp tế ra.


Và tôi đề nghị với Đại tá:

- Sáu người này là lính Bắc Việt, là tù binh, tôi xin chuyển giao cho Phòng 2 Tiểu khu khai thác.

- Anh liên lạc với Trung Tâm Hành Quân Tiểu Khu. Nói với họ lệnh của tôi, cho người ra nhận 6 tù binh.


Tôi nói với anh em CSDC:

- Mở còng cho họ, đem họ ra ngoài quốc lộ cho họ ăn uống đàng hoàng.

Toán lục soát tịch thu một súng B-41, và 5 AK-47 của 6 cán binh Bắc Việt. Đó là chiến lợi phẩm của CSDC/Thừa Thiên-Huế.

Tôi gọi trung tâm Hành Quân Cảnh Lực:

- Trinh, Tango gọi.

- Tôi nghe Thẩm Quyền.

- Mình bắt được 6 tù binh, tịch thu 1 súng B-41, 5 AK-47. Theo lời khai, bọn họ thuộc đơn vị Công Trường 6, chính quy Bắc Việt. Tôi đã hỏi xong, anh liên lạc với Trung Tâm Hành Quân Tiểu Khu, nói với họ liên lạc với Phòng 2, cho người ra nhận 6 tù binh này vào khai thác thêm tin tức. Đó là lệnh Đại tá Tiểu Khu Trưởng.

- Nhận rõ Thẩm Quyền. Tôi báo Khu I, Bộ Tư Lệnh và liên lạc Tiểu Khu ngay.


Gần 11giờ trưa, hai Đại Đội Địa Phương Quân đổ quân. Cấp chỉ huy của hai đại đội đó gặp Đại tá Tỉnh Trưởng nhận lệnh, và họ dàn quân xông thẳng vào khu vực xã Phong An.

Chỉ 15 phút sau, súng nổ rền trời, súng nhỏ súng lớn, tiếng lựu đạn, tiếng B-40, tiếng nổ của M-72, M-79 trộn lẫn nhau. Trên hệ thống truyền tin C-25, tôi nghe cấp chỉ huy của hai đại đội đang ra lệnh. Họ đang đụng lớn. Họ đang đụng với Công Trường 6 chính quy Bắc Việt. Công Trường 6 phản ứng mạnh. Hai đại đội Địa Phương Quân bị bật ngược trở lại. Họ bố trí tại bìa làng đợi lệnh chứ không thể tiến sâu vào bên trong.

Khoảng gần 12 giờ trưa, một máy bay trực thăng bay vòng sát trên đầu chúng tôi và đáp ngay giữa đường nhựa. Chuẩn tướng Lê Văn Thân, Tư Lệnh Sư Đoàn I/BB (Cựu Tỉnh Trưởng Tỉnh Thừa Thiên) đến quan sát trận địa. Đại tá Tôn Thất Khiên và tôi đón Chuẩn tướng Thân. Đại tá Khiên thuyết trình tình hình với Chuẩn tướng Thân, và sau đó là lúc Sư Đoàn I/BB ra tay.

Khoảng 1:30 chiều, một đơn vị Sư Đoàn I/BB đổ quân. Súng nổ liên hồi, pháo binh từ cây số 17 bắn yểm trợ hằng loạt. Công Trường 6 chính quy Bắc Việt phản ứng mạnh. Đơn vị của Sư Đoàn I lùi dần, bố trí tại bìa làng.

Khoảng gần 3 giờ chiều, Trung tướng Lâm Quang Thi, Tư Lệnh Tiền Phương Quân Đoàn I, cùng với Chiến Đoàn Trưởng Chiến Đoàn Nhảy Dù và ban tham mưu hành quân của ông có mặt tại mặt trận Phong An. Họ bàn thảo cùng với Chuẩn tướng Lê Văn Thân và Đại tá Tôn Thất Khiên.

Gần 4 giờ chiều, 2 tiểu đoàn của Chiến Đoàn Dù đổ quân. Có thể nói đây là một trong những màn tuyệt đẹp như trong phim chiến tranh.

Lính Nhảy Dù VNCH giăng hàng ngang, chạy từ tuyến xuất phát vào làng, không một ai cúi đầu, không một ai khom lưng, họ vừa chạy vừa bắn. Công Trường 6 Chính quy Bắc Việt phản công mạnh, nhưng gặp sức tấn công như vũ bão của 2 Tiểu đoàn Nhảy Dù VNCH, bọn lính Bắc Việt đuối sức dần, tiếng súng nổ mỗi lúc mỗi nghe xa dần quốc lộ I.

Đến hơn 6 giờ chiều thì tiếng súng đã im. Hai Tiểu đoàn Nhảy Dù của Quân Lực VNCH đã đánh tan Công Trường 6 chính quy Bắc Việt, đẩy bọn chúng vào tận chân núi xa. Bọn chúng tháo chạy, mang theo giấc mộng không thành chiếm đất dành dân trong giờ ngưng bắn.

Xin ngàn lần cám ơn người lính Việt Nam Cộng Hòa hào hùng, đặc biệt là Hai Tiểu Đoàn Nhảy Dù.

Cũng cần nói thêm trong thời gian chiến trận Phong An đang diễn tiến thì số ký giả ngoại quốc thuộc nhóm phản chiến tràn đến xã Phong An chụp hình, quay phim, ghi nhận những sự việc mà bọn họ cho là VNCH vi phạm ngưng bắn, để cung cấp cho Cộng sản dùng làm cớ khiếu nại, tuyên truyền xuyên tạc VNCH.

Tôi cho ngăn chận đám ký giả đó, không cho bọn họ chụp hình, tịch thu hết các phim trong máy ảnh và máy quay phim của bọn họ.

Thế nhưng khoảng 2 tuần sau, cũng trong thời gian tháng 2/1973, viên cố vấn đặc biệt của tôi gọi điện thoại mời tôi lên văn phòng của ông ta có chuyện cần bàn.

Tại văn phòng, ông ta rút trong hộc bàn ra tờ tuần báo Mỹ, số đặc biệt về ngày ngưng bắn tại Việt Nam, thì than ôi... Hình bìa của tờ tuần báo này là hình của tôi đang rút phim trong máy ảnh của ký giả tờ báo. Viên cố vấn nhìn tôi vừa cười, vừa nói:

- Tôi tặng anh tờ báo này làm kỷ niệm. Cũng may người chụp hình và viết bài là phe ta.

Tôi ngạc nhiên và hỏi viên cố vấn:

- Làm sao hắn chụp được tấm hình này, vì hắn có hai cái máy ảnh đeo lủng lẳng, tòn ten nơi ngực, bị tôi lấy, mở cả hai máy ảnh đó hủy cả 2 cuốn phim rồi mà.

- Hắn chụp ảnh anh bằng chiếc máy ảnh là cái búp nịt to trước bụng, hắn bấm lia lịa mà anh không hay.


Tôi cười và nói với viên cố vấn:

- Ông ơi tôi chịu thua.

Bây giờ ở xứ sở văn minh này, nhớ lại viết ra đây để thấy mình hơi... thiếu văn minh. Nhưng quả thật cho dù thiếu văn minh hơn nữa thì tôi cũng phải làm bởi vì những thước phim và hình ảnh này không thể làm đề tài cho bọn Tây cộng và Việt cộng lợi dụng. Quân tử với bọn Cộng sản thì chỉ có thiệt vào thân. Ngu sao để quý vị quay phim chụp hình?


Liên Thành
http://ubtttadcsvn.blogspot.com/2014/02/bai-7-ai-no-hue-lien-thanh.html

==//==
  

Bấm vào đây để in ra giấy (Print)

oOo

Bảng hướng dẫn: Lời giới thiệu | Bài 1 | Bài 2 | Bài 3 | Bài 4 | Bài 5 | Bài 6 | Bài 7 | Bài 8 | Bài 9 | Phim TSMT-68 | Bài viết MT68 | Đầu trang

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Bài 8
HUẾ ĐÒI NỢ?
Liên Thành
(trích sách Huế Thảm Sát Mậu Thân 68 - Tác giả Liên Thành)

Huy hiệu Đại Đội 102 Cảnh Sát Dã Chiến VNCH, Thừa Thiên-Huế

Bảng hướng dẫn: Lời giới thiệu | Bài 1 | Bài 2 | Bài 3 | Bài 4 | Bài 5 | Bài 6 | Bài 7 | Bài 8 | Bài 9 | Phim TSMT-68 | Bài viết MT68 | Đầu trang

Phái Đoàn quân sự Quân Đội Nhân Dân Bắc Việt và quân Giải Phóng Miền Nam đến Huế ngày 30-1-1973, Chỉ Huy Trưởng CSQG/Thừa Thiên-Huế, Thiếu tá Liên Thành và Lực lượng CSQG/Thừa Thiên-Huế, hộ tống và giữ an ninh cho Việt cộng!

Trở lại câu chuyện Huế đòi nợ, nếu tôi nhớ không lầm, theo lịch trình do phái đoàn quân sự của VNCH cung cấp và của viên Đại tá Mỹ giao cho tôi, thì đúng vào 12 giờ khuya ngày 30 tháng 1 năm 1973 một máy bay C-130 của Không quân Hoa Kỳ sẽ từ Hà Nội chở 45 thành viên quân sự của cộng sản Bắc Việt và Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam đáp xuống phi trường Phú Bài-Huế.

Bổn phận của Lực Lượng Cảnh Sát Quốc Gia Thừa Thiên-Huế là tiếp nhận phái đoàn, đóng dấu nhập cảnh vào thông hành của bọn chúng, bảo vệ an ninh, và hộ tống bọn chúng lên căn cứ tại Bãi Dâu.

Tôi nhận lệnh thượng cấp đương nhiên là phải thi hành, nhưng trong lòng cay đắng uất hận và quá buồn cho nghịch cảnh trớ trêu. Bao nhiêu Anh hùng tử sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa hy sinh mạng sống của họ cho ai? Trên 6 ngàn dân Huế bị bọn đồ tể này tàn sát, cỏ chưa kịp xanh trên những ngôi mộ tập thể tại Ba Đồn vậy mà tôi và lực lượng CSQG Thừa Thiên-Huế phải đón và bảo vệ an ninh cho chính bọn sát nhân này sao? Tôi và chiến hữu Cảnh Sát Quốc Gia của tôi trực diện chiến đấu chống quân cộng sản hằng bao nhiêu năm nay chưa bao giờ lùi bước thì tại sao ngày hôm nay, nơi thành phố đã bị chúng tàn phá giết sạch này, chúng tôi phải hộ tống những con quỷ đỏ cộng sản vào giữa lòng thành phố Huế. Nơi đây 4 năm về trước, Tết Mậu Thân 1968, lũ quỷ đỏ này đã đập đầu chôn sống biết bao dân lành? Đồng bọn tại địa phương của chúng như Nguyễn Thị Đoan Trinh, Nguyễn Đắc Xuân, và Hoàng Phủ Ngọc Phan đã thẳng tay hành quyết, bắn xối xả vào đồng bào ruột thịt của chúng. Sao bổn phận gì trớ trêu trái khuấy đến vậy?

Theo lịch trình đúng 12 giờ đêm, máy bay quân sự Mỹ chở bọn chúng hạ cánh tại phi trường Phú Bài. Lực lượng chúng tôi đã có mặt tại phi trường Phú Bài vào khoảng 11 giờ khuya, trước bọn chúng một giờ. Lực lượng tôi mang theo để hộ tống đám này gồm có:

- Thiếu tá Trương Văn Vinh, Chỉ Huy Phó BCH/CSQG Thừa Thiên-Huế.
- Thiếu tá Trương Công Ân, Phụ tá ngành Cảnh Sát Đặc Biệt.
- Thiếu úy Dương Văn Sỏ, Trưởng Cơ Quan G-2.
- Trung úy Nam (xin lỗi đã quên họ) trưởng ban ngoại kiều.
- 10 anh em Cảnh Sát Đặc Biệt.
- 2 Trung Đội Cảnh Sát Dã Chiến.
- 1 xe Tuần Cảnh dẫn đầu.

Trách nhiệm chính của Thiếu tá Chỉ Huy Phó Trương Văn Vinh và Trung úy Nam Trưởng Ban Ngoại Kiều là kiểm soát thông hành bọn chúng, đóng dấu và ký vào thông hành của bọn chúng cho phép bọn chúng nhập cảnh vào Việt Nam Cộng Hòa trong thời gian 60 ngày (thi hành lệnh của Bộ Tư Lệnh Cảnh Sát Quốc Gia tại Sài Gòn). Sau đó cho phép bọn chúng đặt chân vào lãnh thổ miền Nam Việt Nam-Huế.

Khoảng 11:30 khuya thì phái đoàn Liên Hợp Quân Sự Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng Hòa đến. Trưởng phái đoàn Hoa Kỳ là một viên Đại tá, nếu tôi nhớ không lầm thì ông chính là Đại tá Cố Vấn cho Đại tá Tỉnh Trưởng Tôn Thất Khiên. Về phía Việt Nam Cộng Hòa là Trung tá... (xin lỗi đã cố gắng hết sức nhưng không còn nhớ nổi tên họ của ông).

Chúng tôi chờ đợi chưa quá 30 phút thì từ hướng đông của phi trường Phú Bài, phi cơ đã xuất hiện với ánh đèn chớp đỏ, đang ở độ thấp dần và sửa soạn đáp xuống phi đạo. Phải thành thật mà nói rằng cá nhân tôi tự nhiên một chút xao động và cay đắng trong lòng. Chinh chiến đã trải dài qua ba thế hệ ông, cha, và anh em chúng tôi. Dân, quân, cán, chính bao nhiêu người đã nằm xuống, bao nhiêu anh hùng tử sĩ đã vị quốc vong thân để bảo vệ mảnh đất Việt Nam, để ngày hôm nay phải gánh chịu một loại hòa bình bệnh hoạn què quặt do ngoại bang ép đặt, rồi quê hương đất nước sẽ đi về đâu hỡi trời!

Đau thương Mậu Thân 1968 còn in vết sâu đậm trong lòng dân Huế, Mậu Thân 1968. “Hòa bình” 1973, thời gian mới chỉ là 4 năm, vết thương còn chảy máu, thì giờ đây chính chúng tôi phải đón tiếp và bảo vệ những tên sát nhân. Bọn chúng lại được chính thức đi vào Huế bằng tư cách ngoại giao, còn nỗi căm phẫn nào hơn?

Uất hận nhất là bọn chúng lại trú ngụ ngay tại Bãi Dâu, vùng đất của những mồ chôn tập thể những nạn nhân do chính bọn chúng và Bác Đảng của chúng ra lệnh sát hại vào Tết Mậu Thân 1968. Người bạn “đồng minh thân thiết Hoa Kỳ của VNCH” tại sao lại chọn Bãi Dâu để xây căn cứ cho bọn sát nhân này? Tại sao?

Rất nhanh trong đầu tôi một ý nghĩ chợt đến... Dứt khoát tôi sẽ không để chúng ăn yên ở yên trên vùng đất bất hạnh này. Những nấm mồ của dân Huế tôi phải được kính trọng. Hãy để cho những linh hồn vô tội được an nghỉ.

Đang suy nghĩ mông lung, “ngổn ngang trăm mối tơ vò” thì Thiếu tá Trương Văn Vinh chỉ huy phó nói lớn:

- Tango, máy bay ngừng rồi, mình đến đi.
- Ừ thì đi.


Chỉ khoảng 3 phút sau chúng tôi đến đứng sát cạnh máy bay phía sau đuôi, vì bọn chúng sẽ xuống máy bay bằng cửa “há mồm” phía sau. Khoảng gần 10 người đứng trước cửa sau đón bọn chúng. Phía phái đoàn quân sự Việt Nam Cộng Hòa có Trung tá Trưởng Phái Đoàn và 2 sĩ quan cấp úy. Phía quân sự Hoa Kỳ ngoài Đại tá Cố Vấn Trưởng của Tỉnh Thừa Thiên-Huế còn 2 sĩ quan cấp úy. Cảnh Sát Quốc Gia Thừa Thiên-Huế lực lượng chính lo an ninh cho bọn chúng và an ninh lộ trình gồm có tôi, Thiếu tá Vinh, Thiếu tá Ân, Thiếu úy Sỏ, và Trung úy Nam, Trưởng Ban Ngoại Kiều.

Cửa sau của máy bay vừa mở hạ thấp đụng đất, thì đã thấy xuất hiện một tên Việt cộng mặc đồ đại cán, miệng vừa nói chân vừa buớc xuống đất:

Tôi là Thượng tá Hoàng Anh Tuấn, Trưởng Phái Đoàn Quân sự của chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa thân ái chào mừng đồng bào Cố Đô Huế!”

Vừa nhìn thấy tên Việt cộng này và nó bước thêm một bước định tiến về phía chúng tôi lập tức người tôi nóng ran, lửa bốc lên tận đầu, đốt cả lý trí, chỉ còn lại bản năng và lòng hận thù, máu sôi lên, người nóng bừng. Tôi bỗng chốc trở thành một kẻ vũ phu thô lỗ và không còn kiểm soát được. Phản ứng của tôi lúc đó hoàn toàn là một phản xạ rất bất ngờ, tôi thét rất lớn:

Đứng lại, đồ mọi rợ!

Chẳng có đồng bào Huế nào hiện diện tại đây để cho đám sát nhân Mậu Thân chào mừng cả. Tôi là Thiếu tá Liên Thành Chỉ Huy Trưởng Cảnh Sát Quốc Gia Tỉnh Thừa Thiên-Huế cấm ông không được bước lên lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa khi chưa có lệnh chúng tôi. Ông chỉ được phép rời khỏi máy bay khi nào chúng tôi kiểm soát xong giấy thông hành, cấp chiếu khán cho các ông nhập cảnh, chừng đó các ông mới được ra khỏi máy bay. Đây là lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa, hiểu rõ chưa?

Tôi xoay qua Vinh nói thật lớn:

- Thiếu tá Vinh, đẩy thằng đó lên lại máy bay ngay!

Vinh xấn tới và tôi cũng xấn tới. Vinh lấy đèn pin rọi thẳng vào mắt tên Hoàng Anh Tuấn làm hắn lóa mắt, chới với vài giây rồi lấy hai tay che mắt lại, người loạng choạng. Cả hai chúng tôi đẩy ngược thằng Thượng tá Việt cộng xấc láo này lên lại máy bay. Viên Đại tá Mỹ lập tức tiến đến can thiệp “Chief Thanh, Chief Thanh!” nhưng đã muộn. Tên Thượng tá Việt cộng Hoàng Anh Tuấn đã trở lại và đứng vào nơi cửa máy bay. Dưới ánh đèn tại cửa máy bay, tôi thấy da mặt y màu xanh, không hiểu vì giận hay vì sợ, nào ai biết! Nhưng nó biết hành động của tôi và Thiếu tá Vinh lúc đó là không ai có thể can gián được, lạng quạng là nó bị mập mình như chơi.

Sau đó Thiếu tá Trương Văn Vinh, Chỉ Huy Phó, lấy bản danh sách đã có sẵn gọi tên từng người. Chúng lần lượt ra khỏi phi cơ xuất trình thông hành. Rồi Trung úy Nam, Trưởng Ban Ngoại Kiều, làm thủ tục nhập cảnh vào Việt Nam Cộng Hòa-Huế cho bọn khốn nạn.
Mọi người đã lên xe, và tôi sắp xếp đoàn xe như sau:

Xe Jeep tuần cảnh dẫn đầu.
Kế tiếp là xe của Thiếu tá Trương Văn Vinh.
Xe của 1 trung đội Cảnh Sát Dã Chiến.

Đoàn xe của Phái Đoàn Quân Sự Bắc Việt và cái gọi là Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam.

Xe của Phái Đoàn Quân sự Hoa Kỳ.
Xe của Phái Đoàn Quân Sự VNCH.
Xe của 1 Trung Đội Cảnh Sát Dã Chiến.
Và cuối cùng xe của tôi bít đường phía sau.

Tôi sắp sửa cho lệnh khởi hành thì viên Đại tá Trưởng Phái Đoàn Quân Sự Hoa Kỳ đi đến gặp tôi và nói:

- Chief Thành, Trưởng Phái Đoàn Quân Sự Bắc Việt Trung tá Hoàng Anh Tuấn muốn trên đường về căn cứ Bãi Dâu, ông vui lòng cho đoàn xe chạy vào Thành phố Huế cho họ xem thành phố được không?

À hả! Tên Việt cộng này quả là mặt chai mày đá. Nó chưa thấm được cú đẩy ngược nó lên máy bay hay sao nhỉ? Hay là nó muốn trả thù tôi chuyện đó? Tên Hoàng Anh Tuấn này hắn muốn nhân cơ hội tuyên truyền, phô trương, và chơi khăm chúng tôi. Rất nhã nhặn tôi nói với viên Đại tá Trưởng Phái Đoàn Quân Sự Hoa Kỳ:

- Xin lỗi Đại tá, tôi không thể thỏa mãn yêu cầu của Trưởng Phái Đoàn Quân Sự Bắc Việt được vì lý do an ninh:

1- Lộ trình di chuyển đã được sắp đặt kỹ rồi, không thể thay đổi.

2- Dân chúng Huế sẽ vô cùng tức giận khi thấy đám Việt cộng này xuất hiện tại Thành phố Huế. Mậu Thân 1968 bọn chúng và đám Việt Gian đã sát hại dã man đồng bào Huế quá nhiều. Mặc dầu đã khuya, nhưng lỡ mà đồng bào họ thấy được, họ ùa ra chận đoàn xe lại, tôi e rằng không còn một tên Việt cộng nào trong phái đoàn quân sự Bắc Việt và Giải Phóng Miền Nam về đến căn cứ Bãi Dâu
.

Viên Đại tá Mỹ ngây thơ và hơi tẽn tò gật đầu:

- Ok Chief Thành. Tôi hiểu rồi. Chúng ta đi.

Đoàn xe rời phi trường Phú Bài lên Huế, di chuyển theo vòng đai Thành phố Huế để về Bãi Dâu chứ không được ngang nhiên băng ngang trung tâm thành phố.

Mặc dầu tin tức đã được giữ kín, nhưng cũng bị lộ ra ngoài dân, vì báo chí đài phát thanh đài truyền hình tại Sài Gòn loan tin Phái Đoàn Việt cộng trong Ủy Ban Liên Hợp Quân Sự 4 Bên đã có mặt tại Huế. Dân chúng Huế xôn xao bàn tán. Nhiều tin thất thiệt lan tràn trong thành phố, gây hoang mang không ít trong đồng bào. Vì thế mà ngay phiên họp sáng ngày hôm sau của Ủy Ban Liên Hợp Quân Sự 4 Bên vào 10 giờ sáng tại khách sạn Hương Giang thuộc Quận III Thị xã Huế, để xét trường hợp vi phạm lệnh ngưng bắn đầu tiên tại Xã Phong An, Quận Phong Điền, Tỉnh Thừa Thiên, bởi Lực Lượng Cảnh Sát Quốc Gia Thừa Thiên-Huế, sau đó là Sư Đoàn I Bộ Binh và Lữ Đoàn Nhảy Dù Việt Nam Cộng Hòa vào 7 giờ 40 phút sáng ngày 28 tháng 1 năm 1973, đã có khoảng 30 đồng bào đứng biểu tình tại khuôn viên khách sạn Hương Giang chống đối sự hiện diện của bọn chúng. Một sự việc xảy ra là khi tên Thượng tá Hoàng Anh Tuấn vừa từ trong xe buớc ra định tiến vào khách sạn thì một thường dân đội mũ trùm xuống mang tai, có ý dấu mặt, đã xông đến hất vào người Thượng tá VC Hoàng Anh Tuấn một ly dầu diesel. Phái Đoàn Quân Sự Việt cộng hỗn loạn, phái đoàn Mỹ lập tức bọc bọn Việt cộng chạy vào trong khách sạn. Lực lượng an ninh của chúng tôi can thiệp bắt giữ người đàn ông đó ngay. Lấy chiếc mũ trên đầu của y ra, thì hỡi ôi!... Hắn là Trung Sĩ Cảnh Sát Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa Trương Văn Diệp, một đệ tử cận vệ của tôi. Tôi đắng họng, điếng người nói nhỏ với Thiếu tá Trương Công Ân:

- Dọng hắn lên xe, chở hắn chạy đi cho mau. Bọn Mỹ và Việt cộng biết được thì mìmh gặp rắc rối to!

Chiều đến, tôi gọi Trương Văn Diệp trình diện tôi, vừa thấy mặt anh ta tôi to tiếng ngay:

- Mẹ anh, ngu vừa thôi! Cái mặt lì lợm của anh ai mà không biết anh là cận vệ của tôi. Thấy anh là tụi Mỹ và Việt cộng nghĩ là tôi làm ngay, như thế tôi làm sao ăn nói với chúng? Từ từ tôi đang tính kế, làm như anh chỉ gãi ngứa bọn chúng mà thôi. Không chơi trò ni nữa nghe chưa, nghe rõ chưa?

Trương Văn Diệp nói với tôi:

- Thưa Ôn, gia đình tui ở dưới làng bị tụi hắn giết hết. Thấy bọn chúng là tui muốn nổ súng ngay. Ly dầu tui tạt vào thằng đó là mới cảnh cáo thôi.

Anh Trương Văn Diệp và gia đình hiện đang định cư tại Thành phố Denver, Tiểu Bang Colorado, Hoa Kỳ.

Ngay tối hôm đó, tôi gọi:

Thiếu tá Trương Văn Vinh, Chỉ Huy Phó.
Thiếu tá Trương Công Ân, Phụ tá ngành Đặc Biệt.
Đại úy Trần Văn Tý, Đại Đội Trưởng Đại Đội 102 CSDC.
Đại úy Lê Khắc Vấn, Chỉ Huy Trưởng Quận I.
Đại úy Ngô Trọng Thành, Chỉ Huy Trưởng Quận II.
Trung úy Phạm Cần, Chỉ Huy Trưởng Quận III.
Đại úy Trần Văn Trinh, Trung Tâm Trưởng Trung Tâm Hành Quân Cảnh Lực.

Tất cả gặp tôi tại phòng hội của Trung Tâm Hành Quân Cảnh Lực, và tôi đưa ý kiến của tôi như sau:

- Tôi có ý định là mình sẽ bí mật hỗ trợ một cuộc biểu tình thật lớn, huy động đồng bào Huế và thân nhân nạn nhân Mậu Thân với khăn tang áo chế kéo đến căn cứ Bãi Dâu gặp bọn Việt cộng đòi nợ chồng con, thân nhân bị giết, bị mất tích trong Tết Mậu Thân, và nhân cơ hội này tràn vào cho bọn chúng một trận nên thân và phá tan căn cứ này luôn.

Chúng ta và dân chúng Huế chẳng một ai chấp nhận bọn chúng hiện diện tại Huế cả. Chúng ta không bí mật làm chuyện này thì ai dám làm, anh em nghĩ sao? Nếu anh em đồng ý thì chúng ta bàn kế hoạch chi tiết
.

Không một ai phản đối. Tất cả biểu đồng tình ý kiến của tôi. Thiếu tá Trương Văn Vinh vừa nói, vừa cười:

- Tango lúc nào cũng bạo. Cẩn thận kẻo Bộ Tư Lệnh biết được đi tù cả đám.

- Sợ chi rứa Vinh? Từ từ mà run. Mình có trên năm ngàn vong linh đồng bào Huế chết oan chết ức phù hộ cho anh em mình, đừng lo.

Anh em chúng tôi bàn thảo kế hoạch gần ba tiếng đồng hồ, tóm tắt như sau:

1- Mục tiêu: Phái Đoàn Cộng Sản Bắc Việt và đám Giải Phóng Miền Nam trong Phái Đoàn Liên Hợp Quân Sự 4 Bên đóng tại Bãi Dâu thuộc Quận II Thành phố Huế.

2- Mục đích: Hỗ trợ đồng bào Huế và thân nhân các nạn nhân trong Mậu Thân 1968 kéo đến gặp phái đoàn cộng sản đòi nợ, nợ chồng, nợ con, nợ thân nhân mà bọn chúng đã giết đã bắt đi mất tích từ năm Mậu Thân 1968.

3- Nhân cơ hội đó hướng dẫn đồng bào tràn ngập căn cứ Bãi Dâu, để mặc đồng bào tha hồ phá tan căn cứ của bọn chúng và bề hội đồng bọn chúng một trận nên thân.

4- Đuổi bọn chúng ra khỏi căn cứ, ra khỏi Thành phố Huế.

5- Lực lượng biểu tham dự biểu tình:

- Thành phần chủ lực là dân chúng Huế: Tiểu thương chợ Đông Ba, chợ An Cựu, chợ Bến Ngự, những thành phần có chồng, con, thân nhân bị Việt cộng sát hại. Thành phần học sinh, sinh viên cô nhi tử sĩ.

- Thành phần hỗ trợ là Biệt Đội Thiên Nga, nữ nhân viên CSQG thuộc BCH, ngụy trang với khăn tang áo chế làm nòng cốt của cuộc biểu tình.

- 100 nhân viên Cảnh Sát Dã Chiến mặc thường phục.

- 100 nhân viên Cảnh Sát Đặc Biệt.

Hai trăm người này là lực lượng xung kích bạo động khi có lệnh.

- Chỉ Huy Trưởng ba quận Cảnh Sát I, II, III chịu trách nhiệm kêu gọi, hướng dẫn dân chúng trong quận đến địa điểm biểu tình.

Rỉ tai với đồng bào là có cộng sản đến ở tại Bãi Dâu đến đó đòi nợ và cho chúng nó một trận, có cảnh sát mình hỗ trợ, không sao mô.

- Thiếu tá Trương Công Ân, chỉ định một nữ sĩ quan trong Biệt Đội Thiên Nga ngụy trang khăn tang áo chế hướng dẫn đoàn biểu tình đến Bãi Dâu đưa kiến nghị đòi chồng, đòi con, đòi thân nhân.

- Thiếu tá Chỉ Huy Phó chỉ thị cho Trung úy Tiến, Trưởng Ban Tâm Lý Chiến thảo một bức thư gởi cho Đảng Cộng Sản Việt Nam, Bộ Chính Trị Đảng Cộng Sản, đòi chồng con, thân nhân nạn nhân Mậu Thân 1968 gởi qua tên Việt cộng Hoàng Anh Tuấn. Nhớ cho tôi xem trước khi giao cho nữ sĩ quan Biệt Đội Thiên Nga.

6- Ngày giờ biểu tình: Ngày N và giờ G là 2 giờ chiều, đoàn biểu tình sẽ xuất phát đúng 2 giờ chiều trực chỉ Bãi Dâu. Ba Chỉ Huy Trưởng Quận bắt đầu cho nhân viên tuyên truyền rỉ tai kêu gọi đồng bào tham gia biểu tình.

7- Chỉ huy tổng quát cuộc biểu tình.

Giai Đoạn I Thiếu tá Liên Thành Chỉ Huy Trưởng. Phụ tá, Thiếu tá Trương Văn Vinh Chỉ Huy Phó.

Sau mười phút đòi gặp Thượng tá Hoàng Anh Tuấn giao thư đòi nợ chồng con, thân nhân bị mất tích, dù tên đó có ra tiếp nhận thư hay không, tôi vẫn cho lệnh đoàn biểu tình tràn ngập căn cứ Bãi Dâu. Tôi trực tiếp chỉ huy 200 anh mặc thường phục hành động trong Giai đoạn I.

Giai Đoạn II Thiếu tá Trương Văn Vinh thay tôi chỉ huy đoàn biểu tình. Thiếu tá Trương Công Ân phụ tá cho Thiếu tá Vinh.

Phần tôi sẽ lẻn ra ngoài mặc lại đồ sắc phục cùng với Đại úy Trần Văn Tý, Đại Đội Trưởng Đại Đội 102 CSDC, chỉ huy 3 trung đội xông vào tung lựu đạn cay giải tán đoàn biểu tình, cứu nguy và bảo vệ an ninh cho Phái Đoàn Quân Sự Bắc Việt và Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam đang bị dân chúng Huế bao vây tấn công đập phá, và hành hung bọn chúng.

Theo điều khoản quy định của hiệp định thư Paris, phái đoàn Quân Sự Bắc Việt và Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam được hưởng quy chế ngoại giao. Vì vậy lực lượng Cảnh Sát Quốc Gia Thừa Thiên-Huế phải tung quân trấn áp bạo động, bảo vệ an ninh cho phái đoàn quân sự Việt cộng. Như vậy là quá đẹp không ai chê trách Lực Lượng Cảnh Sát Quốc Gia Thừa Thiên-Huế vào đâu được!

8- Huấn thị đặc biệt.

- Không một ai trong đoàn biểu tình được mang vũ khí, nếu phát hiện ai mang vũ khí trong đoàn biểu tình phải bắt giữ ngay.

- Hành động không được quá đà. Khi có lệnh ngưng là phải ngưng ngay.

- Phái đoàn Quân Sự Hoa Kỳ không còn là “người bạn đồng minh thân thiết” của chúng ta nữa. Bây giờ họ là “người bạn thắm thiết của Bác và Đảng”. Chúng ta không còn trông cậy gì vào họ được nữa. Việc chúng ta chúng ta làm. Coi chừng họ sẽ công khai ra mặt bênh vực cho Phái Đoàn Quân Sự Bắc Việt và MTGPMN tạo khó khăn cho mình, cho nên phải cẩn thận.

HUẾ ĐÒI NỢ



Hai ngày sau, Ngày N và giờ G đã đến, nếu tôi nhớ không lầm đó là ngày 2 tháng 2 năm 1973.

- Từ 12 giờ trưa trong thành phố Huế đã có tin tức loan truyền, rỉ tai 2 giờ chiều ngày này đồng bào sẽ biểu tình tại Bãi Dâu gặp phái đoàn quân sự Việt cộng để đòi chồng, đòi con, đòi thân nhân bị giết, bị bắt mất tích trong Tết Mậu Thân 1968.

- 1 giờ trưa có lời tuyên truyền rỉ tai, kêu gọi đồng bào đình công bãi thị đi biểu tình tại Bãi Dâu. Tin tức loan truyền rất nhanh. Khu chợ Đông Ba, khu bến xe đò ngay cầu Gia Hội, khu Thượng Tứ, Trần Hưng Đạo, Phan Bội Châu, Chi Lăng, đâu đâu cũng nghe người ta gọi nhau ơi ới: “Đóng cửa dẹp tiệm đi bà con ơi, về Bãi Dâu biểu tình đòi nợ Việt cộng bà con ơi”.

Từng đoàn người lũ lượt kéo nhau về Bãi Dâu. Khoảng gần 2 giờ trưa có khoảng trên 5 ngàn đồng bào đã tràn ngập khu cổng chính của căn cứ Bãi Dâu. Một rừng người khăn tang áo chế, cùng một rừng cờ và biểu ngữ với nội dung yêu cầu Việt cộng trả lại chồng con, yêu cầu Việt cộng cho biết chồng con họ bị bắt trong Tết Mậu Thân hiện nay ở đâu? v.v.

Vào khoảng gần 2 giờ 30 cuộc biểu tình bắt đầu. Qua loa phóng thanh, lời của một người quả phụ có chồng bị Việt cộng bắt trong Tết Mậu Thân yêu cầu được gặp Thượng tá Việt cộng Hoàng Anh Tuấn trao thỉnh nguyện thư của thân nhân nạn nhân Tết Mậu Thân.

Bên trong căn cứ vẫn im lìm không một bóng người xuất hiện. Qua chiếc máy truyền tin nhỏ của hệ thống Cố Vấn Đặc Biệt Hoa Kỳ, họ bắt đầu gọi tôi khẩn cấp.

Tôi biết ngay là bọn Việt cộng trong căn cứ Bãi Dâu đã cầu cứu Phái Đoàn Quân Sự Mỹ. Phái đoàn này lại liên lạc với Phái Bộ Cố Vấn Đặc Biệt của BCH/CSQG Thừa Thiên để yêu cầu lực luợng chúng tôi can thiệp bảo vệ an ninh cho Phái Đoàn Quân Sự Bắc Việt và đám chầu rìa MTGPMN trong căn cứ.

Tiếng viên cố vấn của tôi trong máy truyền tin nhỏ:

- Nancy... Nancy... Nancy!
- Nancy tôi nghe anh rõ, nói đi
.

- Anh đang ở đâu? Phái Đoàn Quân Sự Bắc Việt và MTGPMN tại căn cứ Bãi Dâu đang gặp nguy hiểm vì có vài ngàn đồng bào đang biểu tình ngoài cổng căn cứ Bãi Dâu. Chúng tôi sợ rằng đoàn biểu tình sẽ tràn vào căn cứ. Chúng tôi yêu cầu anh can thiệp ngay đừng cho đồng bào vào bên trong, và cũng nhắc anh rõ, trách nhiệm bảo vệ an ninh cho phái đoàn là của lực lượng CSQG các anh.

- Tôi đã biết và hiện trên đường đến đó. Tôi sẽ can thiệp và chận đứng ngay, nếu đồng bào bạo động. [Xạo]!

Tôi hiểu rằng đã đến lúc không còn chậm trễ được nữa vì Phái Bộ Quân Sự Hoa kỳ sẽ can thiệp.

Tôi nói với Thiếu tá Vinh và Thiếu tá Ân đang đứng gần tôi:

- Chúng ta phải hành động ngay, bằng không bọn Mỹ sẽ can thiệp. Vinh, Ân, cho lệnh người của mình bắt đầu.

Vinh và Ân lủi vào đám đông. Chỉ khoảng 5 phút sau giọng nói của người quả phụ hướng dẫn đoàn biểu tình đã oang oang trên máy phóng thanh:

- Đả đảo cộng sản! Trả lại chồng con, thân nhân của chúng tôi cho chúng tôi!

Tiếng la to của đoàn biểu tình vang vọng cả khu vực Bãi Dâu:

Đả đảo cộng sản! Đả dảo cộng sản khát máu!”

Lại có tiếng của người quả phụ hướng dẫn đoàn biểu tình:

- Thưa đồng bào, chúng ta đến đây xin gặp ông Trưởng Phái Đoàn Việt cộng để trao thỉnh nguyện thư đòi chồng con, thân nhân mất tích trong Tết Mậu Thân. Chúng ta đã đợi ông ta gần cả tiếng đồng hồ vậy mà ông ta không chịu ra gặp chúng ta. Vậy thì thưa đồng bào chúng ta phải đi vào gặp ông ta. Chúng ta không đợi nữa. Đồng bào đồng ý không?

Tiếng đáp lại của đoàn biểu tình vang dậy cả một góc trời

Đồng ý, đồng ý, đả đảo cộng sản. Chúng ta vào đi”.

Cánh cửa bằng kẽm gai nơi cổng chính bị đạp tung. Một rừng người cùng cờ và biểu ngữ tràn vào căn cứ Bãi Dâu. Họ nhắm hướng các ngôi nhà tiền chế mà phái đoàn cộng sản đang trú ngụ chạy đến. Cảnh tượng thật đẹp mắt nhưng hỗn loạn cũng bắt đầu. Lực lượng chủ lực gồm 200 nhân viên của chúng tôi, cùng với đồng bào xông vào từng ngôi nhà tiền chế của bọn chúng để kiểm soát tình hình. Đồng bào hành hung và phá nát đồ đạt bàn ghế giường ngủ của bọn chúng. Tiếng la hét của đồng bào hòa lẫn với tiếng la hét của đám Việt cộng đang bị hành hung hòa lẫn với tiếng máy bay trực thăng của Phái Bộ Hoa Kỳ đang bay thật thấp sửa soạn đáp xuống tạo cảnh tượng giống như một đoạn phim chiến tranh ở một vùng nào đó.

Bốn chiếc trực thăng của Phái Bộ Quân Sự Hoa Kỳ đang tìm cách đáp xuống căn cứ Bãi Dâu. Tôi biết đã đến lúc tôi phải trao quyền chỉ huy vụ biểu tình này cho Thiếu tá Vinh Chỉ Huy Phó, lẻn ra ngoài thay đồ và trở vào với Đại úy Trần Văn Tý Đại Đội Trưởng cùng với 3 trung đội Cảnh Sát Dã Chiến đóng vai “người hùng cảnh sát dẹp loạn”.

Tôi nói rất nhanh với Thiếu tá Vinh:

- Giao lại cho anh, nhắc nhở anh em đừng quá đà. Khi tôi và 3 trung đội Cảnh Sát Dã Chiến dàn đội hình bắt đầu tung lựu đạn cay đàn áp biểu tình, anh cho lệnh anh em và đồng bào rút lui ngay. Tôi chừa cửa chính cho đồng bào chạy. Khéo khéo một tí kẻo bọn Mỹ phát giác ra được là nguy lắm đó nghe. Giao lại cho anh tôi đi đây.

Vinh trả lời: - Anh đi đi, để chỗ này cho tôi.

Chỉ khoảng gần 10 phút sau tôi trở lại. Xe tôi dẫn đầu, theo sau là Đại úy Tý, và đoàn xe chở 3 trung đội Cảnh Sát Dã Chiến. Đoàn xe vừa lọt vào trong căn cứ, tôi cho lệnh đổ quân và Đại úy Tý dàn đội hình, bắn phi tiễn tung lựu đạn cay về phía đồng bào ngay.

Hơi cay bay mù mịt đồng bào chạy tán loạn. Anh em hướng dẫn đồng bào chạy ra cửa chính thoát thân.

Đám phái đoàn Quân Sự Hoa Kỳ vừa trực thăng vận xuống giải cứu cho bọn Việt cộng cũng bị hít hơi cay.

Viên Đại tá Trưởng Phái Đoàn Quân Sự Hoa Kỳ cám ơn tôi rối rít, lại còn khen lực lượng CSQG/Thừa Thiên-Huế là number #1 vì đã phản ứng rất nhanh, can thiệp và giải cứu phái đoàn cộng sản kịp thời.

A Di Đà Phật, đồng chí đạo hữu Hoa Kỳ chưa “ngộ” không thì chúng em gặp rắc rối to!

Thế nhưng đồng chí Thượng tá Hoàng Anh Tuấn “ngộ”. Ngay chiều hôm đó hắn đã mở cuộc họp báo và tuyên bố:

Vụ biểu tình và đập phá căn cứ Bãi Dâu chiều hôm nay là do tên Trưởng Ty Công An du đãng Liên Thành tổ chức. Hắn quy tụ một số du đãng làm chuyện đó, chứ không phải “đồng bào ruột thịt” Thừa Thiên-Huế”.

A Di Đà Phật, Thiện tai... Thiện tai... Đồng chí Thượng tá Việt cộng Hoàng Anh Tuấn đã “ngộ”.

Sáng hôm sau tại Camp David nơi Phái Đoàn Quân Sự 4 Bên trung ương trú đóng, phái đoàn Bắc Việt và MTGPMN qua Võ Đông Giang và tên Tướng Việt cộng Trần Văn Trà đưa ra bản kháng thư phản đối và tuyên bố rằng:

1- Vụ đánh phá tại căn cứ Bãi Dâu là do VNCH chủ mưu qua tên Trưởng Ty du đãng Liên Thành thi hành, hắn ta đã dùng một số du đảng làm chuyện đó, chứ chẳng phải đồng bào ruột thịt Huế.

2- 45 Đoàn viên của chúng tôi đều bị chấn thương sọ não. Có giấy chứng nhận của y sĩ.

3- Chúng tôi sẽ rút Đoàn Quân Sự của chúng tôi tại Huế về Sài Gòn vì mạng sống của các đoàn viên của chúng tôi tại đó bị đe dọa.

Chiều ngày hôm đó tôi được lệnh tới gặp Đại tá Tỉnh Trưởng Tôn Thất Khiên. Vừa gõ cửa phòng bước vào thì ông nói giọng nhỏ nhỏ: -“Đóng cửa lại, đóng cửa lại!”

Tôi bước hẳn vào bên trong thì ông nói ngay: - “Đ. Mạ cậu! Cậu làm vừa vừa thôi chứ! Cậu làm dữ quá thằng cha Trung tướng Phạm Quốc Thuần mới gọi tôi chửi như chửi chó!”

Trung tướng Phạm Quốc Thuần, Trưởng Phái Đoàn Quân Sự Việt Nam Cộng Hòa tại trung ương Camp David, đã nổi giận vì hành động của tôi. Thế nhưng... A di Đà Phật... Lạy Chúa... tôi tai qua nạn khỏi cũng nhờ phúc đức Ôn, Mệ, và vong linh của 5327 thường dân vô tội bị Việt cộng thảm sát phù hộ.

Tội nghiệp mệ Tôn Thất Khiên, không biết vì tình bà con hay vì cũng đồng thanh tương ứng đồng khí tương cầu mà ông chỉ mắng tôi qua loa lấy lệ. Ông cũng thuộc loại nhỏ con nhưng khí phách không nhỏ, và rất quân tử, dám bao che cho đàn em. Ông cũng vì tôi mà bị mất chức Tỉnh Trưởng sau vụ đàn áp “phong trào chống tham nhũng” của cha Thanh cuối năm 1974. Lần mất chức Tỉnh Trưởng này ông không gọi tôi lên nói năng chi, phần nào cũng có lẽ ông đã thấy thằng bà con bất trị của ông đã hết thuốc chữa, ông có chửi hắn cũng bằng thừa chăng? Hay là ông cũng đồng sàng đồng mộng?

Lần cuối tôi gặp lại ông ở Sài Gòn, lúc đất nước trong những giờ lâm chung, hỏi ông “Đại tá muốn đi thì đến chỗ này...” Ông trả lời rằng ông chờ một người sui gia bên phía vợ của ông cùng đi. Nhưng sự đời thay đổi có nhiều chuyện chẳng ai ngờ. Ông và cả gia đình bị kẹt lại. Sau đó phu nhân của ông đã lo cho các con đi vượt biên, riêng bà ở lại chờ ông cho đến khi ông ra khỏi tù sau mười mấy năm ròng. Đi HO sang Mỹ, Đại tá Khiên gọi phone cho tôi nói:

Ở trong tù quên ai cũng có thể, nhưng với Liên Thành thì không cách chi quên được, cứ ngẫm nghĩ không biết hắn có thoát được không, nếu không thoát được chắc Việt cộng xẻ hắn ra từng miếng!”

Trở lại chuyện phái đoàn quân sự Việt cộng, cũng ngay chiều hôm đó tôi lên Đài Truyền Hình số 9 tại Huế trả đòn với Thượng tá Việt cộng Hoàng Anh Tuấn. Tôi cũng rất mồm loa mép giải như sau:

Ông Thượng tá Việt cộng Hoàng Anh Tuấn đã nói rằng: ‘Sự việc xảy ra ngày hôm qua tại căn cứ Bãi Dâu là do tôi, tên Trưởng Ty du đãng Liên Thành chủ mưu, và hắn đã dùng một số du đãng làm chuyện đó, chứ không phải đồng bào ruột thịt Thừa Thiên-Huế.’

- Thưa ông Thượng tá Việt cộng Hoàng Anh Tuấn, ông kết tội cho tôi là thủ phạm mà ông không đưa ra nổi bằng chứng nào để chứng minh. Ngược lại nhân viên công lực của chúng tôi vì thi hành luật pháp quốc gia, thi hành các điều khoản trong Nghị Định Thư của Hòa Đàm Paris đã xả thân bảo vệ các ông, và chính cá nhân tôi cũng bị đồng bào hành hung đánh trọng thương ở cánh tay mặt.”

Tôi vừa nói vừa đưa cánh tay mặt đang băng to tổ bố mà tôi vừa mới được Đại úy bác sĩ CSDQ Chung Châu Hồ ngụy trang để diễn tuồng.

Sáng ngày 5 tháng 2 năm 1973, phái đoàn quân sự của Bắc Việt và Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam rút khỏi căn cứ Bãi Dâu về Sài Gòn vì lý do Huế không bảo đảm an ninh cho họ.

Nếu đúng theo tinh thần của nghị định thư Hòa Đàm Paris thì phái đoàn quân sự của Bắc Việt và Giải Phóng Miền Nam trong Ủy Ban Quân Sự 4 Bên phải đóng ở Huế 60 ngày kể từ ngày 28 tháng 1 năm 1973. Nhưng mới chỉ được có 6 ngày, tức là ngày 3 tháng 2 năm 1973, bọn chúng đã phải bỏ chạy và căn cứ Bãi Dâu phải đóng cửa.

Lần này chỉ có phái đoàn Quân Sự Mỹ đơn ca bài “Lên xe tiễn em đi” đưa bọn Hoàng Anh Tuấn về Sài Gòn, có cả trực thăng hộ tống và phi cơ L-19 quan sát bao vùng rất hùng hậu vì sợ bị đồng bào phục kích chận xe các em.

Họ không yêu cầu lực lượng CSQG/Thừa Thiên-Huế hộ tống nữa vì có lẽ đã phát giác vụ Bãi Dâu thủ phạm không những là đồng bào Huế mà còn có khá đông anh chị em ty CSQG TT/Huế. Đặc biệt là sự chủ mưu khuyến khích của tên Trưởng Ty du đãng Liên Thành.

OK ông bạn “đồng minh thắm thiết Hoa Kỳ”, bây giờ ông đã là bạn của tên Hoàng Anh Tuấn. Ông bạn đã sang ngang. Thế thì “tình nghĩa đôi ta chỉ thế thôi, bận lòng chi nữa lúc chia phôi”. Cảm ơn, khỏi phải đưa tiễn đám giặc, khỏi thấy bọn khốn kiếp, đỡ chướng tai gai mắt.

Quả thật như vậy, dân chúng Huế và Lực Lượng Cảnh Sát Quốc Gia Thừa Thiên-Huế đỡ chướng tai gai mắt thấy bọn sát nhân đóng ngay trên những nấm mồ tập thể của người dân Huế. Riêng tôi lẩm bẩm “cho mày chừa!”.

Vụ đòi nợ Bãi Dâu là một sự bẽ mặt lớn cho bọn cộng sản. Đó cũng là nhờ phản ứng mạnh mẽ của đồng bào Huế trước sự hiện diện của bọn sát nhân thủ phạm thảm sát Mậu Thân.


Liên Thành
http://ubtttadcsvn.blogspot.com/2014/02/bai-8-hue-oi-no-lien-thanh.html
 

Bấm vào đây để in ra giấy (Print)

oOo

Bảng hướng dẫn: Lời giới thiệu | Bài 1 | Bài 2 | Bài 3 | Bài 4 | Bài 5 | Bài 6 | Bài 7 | Bài 8 | Bài 9 | Phim TSMT-68 | Bài viết MT68 | Đầu trang

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Bài 9
CỘNG SẢN NẰM VÙNG NHẠC SĨ TRỊNH CÔNG SƠN
Liên Thành
(trích sách Huế Thảm Sát Mậu Thân 68 - Tác giả Liên Thành)

Bảng hướng dẫn: Lời giới thiệu | Bài 1 | Bài 2 | Bài 3 | Bài 4 | Bài 5 | Bài 6 | Bài 7 | Bài 8 | Bài 9 | Phim TSMT-68 | Bài viết MT68 | Đầu trang

Cuối cùng thì giờ đã điểm. Qua bao nhiêu ca ngợi, bao nhiêu tranh cãi, lý luận, có lẽ, đã đến lúc Trịnh Công Sơn nên trở lại với những gì của Trịnh Công Sơn, đó là sự thật về con người Trịnh Công Sơn.

Giữ nhiệm vụ trưởng cơ quan an ninh tình báo Thừa Thiên-Huế từ 1966 đến đầu 1975, tôi có bổn phận phải chịu trách nhiệm chính về vấn đề gìn giữ an ninh trật tự, bảo vệ sinh mạng và tài sản cho đồng bào trong tỉnh. Và trên hết mọi chuyện, là đối phó với cục Tình Báo Chiến Lược Bắc Việt. Lồng vào đó là một mạng lưới CS nằm vùng tinh vi và dày đặc tại Huế. Thật không sai khi nói Huế là một ổ nằm vùng. Do vậy, có lẽ chúng tôi là người “may mắn” có bổn phận biết rất “kỹ” về Trịnh Công Sơn và toàn bộ những phần tử hoạt động cộng sản khác ở Huế giao hảo với y. Tôi biết Trịnh Công Sơn và nhóm người nối giáo cho giặc này dưới tất cả các khía cạnh khác nhau. Từ chuyện nhỏ đến chuyện lớn, từ thói quen đến phẩm hạnh, đến tiểu sử, đến gia đình, thậm chí, nếu cần, thì cả gia phả v.v. tôi có bổn phận phải biết. Và tôi sẽ lên tiếng một cách thẳng thắn về những sự việc, thông tin, dữ kiện mà chúng tôi có được về đương sự trong bài viết này. Hy vọng, sẽ cung cấp cho lịch sử, và cho những ai quan tâm đến vấn đề Trịnh Công Sơn, cũng như các hoạt động chung của đương sự với các phần tử nằm vùng khác tại Huế, mà dù thương, dù ghét, dù hận thù, dù ngưỡng mộ tôn sùng, dù căm phẫn... những thông tin chính xác và cần thiết, để quý vị có thể tự mình thẩm định lại một cách đúng đắn, về con người Trịnh Công Sơn. Bởi vì, mỗi người chúng ta, dù thế nào đi nữa, dù thương dù ghét, cũng không ai muốn mình [bị] bịp cả!

Trịnh Công Sơn bên nào: Bên này? Hay bên kia? Quốc gia? Cộng sản?

Lý lịch Trịnh Công Sơn: ghi nhận tại cơ quan CSQG Huế

Sinh ngày 28/2/1939.
Học lực: Tú tài I, tức lớp 11, chương trình Pháp.
Tốt nghiệp trường Sư Phạm Quy Nhơn.
Giáo viên tiểu học.
Nghiện rượu và thuốc lá nặng.
Sức khỏe trung bình.
Bản chất: Trầm lặng, kín đáo, khôn ngoan, giỏi che đậy ý nghĩ của mình.

Đã có quá nhiều tranh cãi về TCS, quá nhiều câu hỏi được đặt ra: “Trịnh Công Sơn bên mô? Bên ni? Bên tê?”

Trong chức vụ và trách nhiệm của một Phó Trưởng Ty CSĐB và sau đó là Chỉ Huy Truởng BCH/CSQG/Tỉnh Thừa Thiên và Thị xã Huế trong 9 năm, từ tháng 6/1966 đến đầu năm 1975, và là người đích thân, áp lực, móc nối và sau đó điều khiển Trịnh Công Sơn trong chiến dịch xâm nhập vào các bộ phận trí thức vận, tôn giáo vận, học sinh sinh viên Giải Phóng Thành Phố Huế, qua những phòng trào quần chúng đấu tranh tại đô thị của cộng sản, tôi có thể xác nhận rõ ràng và minh bạch về con người của Trịnh Công Sơn:

- Trịnh Công Sơn: Bên ni, quốc gia.
- Trịnh Công Sơn cũng là: Bên tê, cộng sản nằm vùng.
- Trịnh Công Sơn còn có khả năng là: Bên nớ, tình báo ngoại quốc.

Hay nói một cách thẳng thắn, theo danh từ chuyên môn của ngành tình báo, thì Trịnh Công Sơn là điệp viên hai mang 100% và có khả năng mang thứ ba là làm cho cơ quan tình báo ngoại quốc. Nhưng vấn đề được đặt ra là, mang nào là mang chính của Trịnh Công Sơn? Trái tim của Trịnh Công Sơn đặt ở bên nào trong cuộc chiến Quốc Cộng cay đắng này?

I- Trịnh Công Sơn: Bên ni.

Trịnh Công Sơn bên ni? Có phần đúng, vì chính tôi đã tổ chức Trịnh Công Sơn làm tình báo viên cho ngành Cảnh Sát Đặc Biệt thuộc Bộ Chỉ Huy Cảnh Sát Quốc Gia Tỉnh Thừa Thiên và Thị Xã Huế. Mặc dầu trong khoảng thời gian từ 1966 đến ngày 28 tháng 4 năm 1975 cũng có lúc gián đoạn tạm thời vì anh ta không ở Huế. Nhưng chung chung thì anh ta đã hợp tác với chúng tôi trong khoảng thời gian không phải là ngắn.

Có người sẽ đặt câu hỏi, cái gì đã làm cho Trịnh Công Sơn hợp tác với Liên Thành, hay nói thẳng ra là chấp nhận làm mật báo viên cho CSĐB/thuộc CH/CSQG/Thừa Thiên-Huế:

1- Vì có máu phiêu lưu ưa mạo hiểm muốn thành điệp viên?

Câu trả lời: Không phải.

2- Vì tình cảm cá nhân giữa Liên Thành và Trịnh Công Sơn? Vì hai người quen biết với nhau từ lâu?

Câu trả lời: Cũng không phải!

3- Vì tinh thần ái quốc, tinh thần trách nhiệm của người quốc gia, tinh thần trách nhiệm của một thanh niên đối với hiện tình đất nước vào thời điểm đó?

Câu trả lời: Lại càng không phải!

4- Vì quyền lợi bản thân, vì an ninh bản thân?

Câu trả lời: Đúng. Hoàn toàn đúng!

Khi tổ chức Trịnh Công Sơn, tôi đã dùng chiến thuật “cây gậy và củ rà rốt”:

Tôi đã đưa ra những bằng chứng rành rành hành động tiếp tay với giặc của Trịnh Công Sơn trong việc đào thoát của hai anh em Hoàng Phủ Ngọc Tường, Hoàng Phủ Ngọc Phan, do cơ quan B5 và Thành ủy Huế trực tiếp tổ chức. Rồi việc một số cơ sở nội thành Việt cộng trong giới trí thức sinh viên tiếp xúc thường xuyên với Trịnh Công Sơn, và nhất hạng là việc cán bộ Thành Ủy Việt cộng Huế Lê Khắc Cầm đã rất nhiều lần tiếp xúc với Trịnh Công Sơn.

Tôi đã nói với Trịnh Công Sơn:

Với chừng đó sự việc đủ cho tôi có thể ký lệnh bắt giữ anh, cho thẩm vấn, thiết lập hồ sơ, không đưa ra tòa mà trong quyền hạn và chức vụ của tôi. Ngoài Chỉ Huy Trưởng CSQG, Tổng Thư Ký điều hành Ủy Ban Phượng Hoàng Tỉnh tôi còn giữ chức vụ là Tổng Thư Ký Hội Đồng An Ninh Tỉnh, tôi có thể đề nghị vì tình hình an ninh, giữ anh hai năm tại Phú Quốc và sau hai năm lại tái xét. Cứ như vậy mỗi đợt 2 năm. Có bao nhiều lần hai năm tại đảo Phú Quốc trong đời người, anh có chịu nổi không?”

Đó là cây gậy mà tôi dùng làm áp lực với Trịnh Công Sơn.

Vậy còn củ cà rốt của Ty CSQG Thừa Thiên như thế nào?

Ngoài những giúp đỡ, phe lờ những việc không tiện nói ra, để gia đình Trịnh Công Sơn có thể kiếm sống, củ cà rốt rất ngọt là một Sự Vụ Lệnh đặc biệt đại khái:

Họ và tên...

Người mang giấy này là viên chức Đặc Biệt thuộc BCH/CSQG Thừa Thiên-Huế. Yêu cầu các cơ quan Quân, Dân, Chính giúp đỡ, trong khi thừa hành phận sự.

Huế, ngày....

Chỉ Huy Truởng CSQG TT-Huế

Kiêm Tổng Thứ ký Ủy Ban Phượng Hoàng Tỉnh.

Thiếu Tá Liên Thành
”.

Bề mặt và bề trái của tấm giấy này chỉ để bảo vệ cho Trịnh Công Sơn trốn lính.

Để đổi lại, Trịnh Công Sơn cung cấp những tin tức của địch mà chúng tôi cần. Tỷ như danh tánh tổ chức, cá nhân các cơ sở nội thành Việt cộng trong các tổ chức trí vận, dân vận, tôn giáo vận của Thành Ủy Việt cộng, các đường dây các trạm liên lạc nội thành của bọn chúng, kế hoạch hành động của bọn chúng v.v. Tóm lại những gì mà Trịnh Công Sơn biết được.

Nhưng những gì áp lực, những gì gượng ép bắt buộc, thường kết quả không như mình mong muốn. Những gì Trịnh Công Sơn cung cấp cho chúng tôi chỉ là 1/10 những sự việc mà Trịnh Công Sơn biết được. Có nhiều việc rất quan trọng mà Trịnh Công Sơn đã tham gia, biết rõ ràng tường tận, nhưng y vẫn giữ im lặng không hề báo cáo. Trong khi đó thì một đường dây nội tuyến khác của chúng tôi đã phúc trình sự việc lại cho chúng tôi. Xin đơn cử một vài trường hợp sau đây:

1- Tại bờ sông Hương thuộc vùng Gia Hội, đoạn đối diện với rạp Ciné Châu Tinh có một bến đò, thường xuyên có một chiếc đò neo tại đó của một cặp vợ chồng nghèo, bán chè cháo độ nhật trên sông Hương về đêm. Người chồng là cơ sở nội thành của Việt cộng, nhưng thật ra lại là người của chúng tôi. Chiếc đò đó chúng tôi đã bỏ tiền ra mua và giao cho cơ sở sử dụng làm trạm liên lạc gặp mặt của cán bộ nội thành Việt cộng. Rất nhiều cán bộ, cơ sở Việt cộng trong tổ chức học sinh, sinh viên giải phóng Thành phố Huế đến đó để hội họp như: Ngô Kha, Trần Hoài, Hoàng thị Thọ, Phạm thị Xuân Quế... và ngay cả đương sự là Trịnh Công Sơn cũng đã đến đó hội họp một đôi lần, nhưng tuyệt đối không bao giờ TCS cho chúng tôi biết trạm liên lạc này.

2- Cũng như vậy, trạm thứ hai là một quán café gần nhà Thượng nghị sĩ Trần Điền. Đây cũng là trạm liên lạc hội họp nội thành của bọn chúng. Chính Trịnh Công Sơn đã đi cùng Ngô Kha đến đây nhiều lần, nhưng đương sự vẫn tuyệt đối không báo cáo lên.

Chúng tôi cũng phát hiện rất nhiều thư từ, tài liệu Việt cộng từ nội thành Huế chuyển vào Sài Gòn do Trịnh Công Sơn giao cho Nguyễn Hữu Đống chuyển đi. Lợi dụng những chuyến bay quân sự của một số bạn bè Không Quân nên không bị ai soát hỏi. Việc hiện nay Lê Khắc Cầm xác nhận Trịnh Công Sơn chính là chủ nhân của cái gọi là “Thư Gởi Ngô Kha” là hoàn toàn đúng 100%. Bởi vì người của chúng tôi đã theo dõi tất cả các thư từ mà Trịnh Công Sơn nhận chuyển đi bằng bất cứ phương tiện nào, kể cả các chuyến bay quân sự mà Trịnh Công Sơn cứ ngỡ là rất an toàn. Tất cả các thư từ và tin tức đó đều được chúng tôi đọc trước khi đến tay người nhận. Để đánh giá đầy đủ hơn về Trịnh Công Sơn, xin quý vị vào trang mạng http://www.damau.org, tìm đọc lại lá thư đầy tham vọng chính trị, nguyền rủa cuộc sống tại Miền Nam, ngợi ca và ao ước được sống trong thiên đường Cộng Sản của đương sự. Bút tích lá thư này đã được cơ quan CSĐB chúng tôi kiểm chứng 100% là của đương sự.

Quý vị hãy tự đánh giá về “thiên tài” Trịnh Công Sơn và đánh giá lại cái gọi là gia tài âm nhạc của y. Bởi vì sau khi đã chứng kiến cái chết thê thảm của 5327 đồng bào Huế, nhìn thấy Huế tràn ngập xác người mà chính Trịnh Công Sơn đã viết Hát Trên Những Xác Người:

chiều đi qua Bãi Dâu, hát trên những xác người,
tôi đã thấy trên con đường người cha già ôm con lạnh giá,...
tôi đã thấy những hố hầm đã chôn vùi thân xác anh em
...”

thì cho đến cuối cùng Trịnh Công Sơn vẫn ca ngợi cộng sản!

Mẹ vỗ tay reo mừng xác con,
mẹ vỗ tay reo mừng chiến tranh,
chị vỗ tay hoan hô hòa bình,
người vỗ tay cho thêm thù hận,
người vỗ tay xa dần ăn năn


rất sặc mùi phong trào sinh viên tranh đấu đòi hòa bình ngày không ăn đêm không ngủ của bọn cộng sản. Thế thì tâm hồn, trái tim và âm nhạc của Trịnh Công Sơn có phải là của một con người bình thường? Hay đó là “những giai điệu của quỷ”?

II- Trịnh Công Sơn: Bên tê?

Những ai đã nghĩ rằng Trịnh Công Sơn là cộng sản, hoạt động cho cộng sản điều đó đúng 100%. Tôi khẳng định như vậy.

Về câu hỏi Trịnh Công Sơn bên tê?

Câu trả lời của tôi: Chính xác! Trịnh Công Sơn bên tê. Y hoạt động cho cộng sản. Cán bộ điều khiển và chỉ đạo trực tiếp đương sự là: Lê Khắc Cầm.

Như đã biết trong một buổi họp mặt tại Tuyệt Tình Cốc của Hoàng Phủ Ngọc Tường, vào thời điểm cao trào Tranh Đấu Miền trung đang lên cao 1965-1966, trước sự hiện diện của Hoàng Phủ Ngọc Tường, Hoàng Phủ Ngọc Phan, Nguyễn Đắc Xuân, Đinh Cường, nữ văn sĩ Túy Hồng, Trần Vàng Sao, Trần Quang Long, những tay sinh viên tranh đấu gộc và cũng là đám cơ sở của Thành Ủy Huế, Trịnh Công Sơn đã hát một ca khúc mới. Ca khúc này nói lên nỗi bất hạnh của tuổi trẻ bị cuốn vào cơn bão của cuộc chiến, nhưng hoàn toàn không nói gì đến nguyên nhân của cuộc chiến, di hại của nó, cũng như cách giải quyết vấn đề như là nhạc của các nhạc sĩ Trần Thiện Thanh, Anh Bằng, Trầm Tử Thiêng v.v. Bài hát đó là bài”Vết Lăn Trầm”:

Bài ca dao trên cồn cát,
trên ngai vàng quê nhà một thời ngủ yên tuổi xanh...
rồi một hôm chợt thấy hoang vu quanh mình
...”

Đó là bài nhạc phản chiến đầu tiên của Trịnh Công Sơn. Tác phẩm này được thai nghén trong một cái lò của cộng sản nằm vùng, theo ý muốn của Hà Nội, thì dĩ nhiên nó là con đẻ của cộng sản. Hãy điểm lại tình hình đất nước lúc đó. Trong khi bao nhiêu thanh niên cùng trang lứa với Trịnh Công Sơn đang lăn xả vào cuộc chiến cầm súng chiến đấu chống lại hiểm họa cộng sản, thì Trịnh Công Sơn không làm gì cả, chỉ ăn xổi ở thì, rảnh rang quá sức đến nỗi chợt thấy hoang vu quanh mình nên đi làm cộng sản!

Sau này TCS viết nhạc nói về cuộc chiến theo nhu cầu đấu tranh tại đô thị của đám sinh viên, trí thức hoạt động nằm vùng. Nhu cầu đó là làm tê liệt tinh thần bất khuất truyền thống của người Việt Nam, không muốn chiến đấu, bi quan nhu nhược, ỷ lại cầu an. Nhiệm vụ của Trịnh Công Sơn là chế ra những loại thuốc độc như thế!

Cũng đã có một vài phúc trình nói rằng, có một vài bài nhạc phản chiến của Trịnh Công Sơn, tuy là nhạc của Trịnh Công Sơn, nhưng lời của Phan Duy Nhân. Phan Duy Nhân là một sinh viên, cán bộ cộng sản. Tôi nhớ không lầm thì y đã bị bắt và giam tại Côn Sơn từ sau Mậu Thân 1968.

Trịnh Công Sơn: Bên nớ? Tức cơ quan tình báo ngoại quốc.

Tôi không muốn trả lời là “yes” hay “no”. Không thể trả lời Yes vì chưa có thể công bố lúc này, nhưng cũng không thể nói “No” vì:

1- Có một số tin tức khá chính xác, cho rằng một số bài nhạc gọi là “phản chiến”, Trịnh Công Sơn đã viết theo đơn đặt hàng của tình báo ngoại quốc. Loại nhạc này được tung ra để tạo thêm chứng cớ là dân Miền Nam không muốn chiến tranh, muốn đầu hàng cộng sản. Bối cảnh phản chiến như thế rất thích hợp cho việc “đồng minh tháo chạy”.

2- Như Trịnh Cung (tức Nguyễn Văn Liễu) cũng đã viết:

Ngày 30 tháng 4 thì Sơn ở lại. Tôi nhớ buổi chiều đó Đỗ Ngọc Yến đến đón Sơn với một nhà báo Mỹ, đề nghị Sơn là đã có máy bay đưa gia đình Sơn đi Hoa Kỳ”.

Vì sao lại được đi Hoa Kỳ một cách đặc biệt như thế?

Những phân tích của CSQG Thừa Thiên-Huế và suy nghĩ, ý kiến của tôi về Trịnh Công Sơn:

Là một cán bộ điều khiển Trịnh Công Sơn trong chiến địch xâm nhập vào hàng ngũ các tổ chức cộng sản tại Huế, trong một thời gian khá dài, BCH CSQG Thừa Thiên-Huế và tôi có những nhận xét sau đây.

1- Mặc dầu hợp tác với cơ quan tình báo quốc gia nhưng trái tim của Trịnh Công Sơn đã dành cho cộng sản.

2- Những xáo trộn chính trị, những cuộc biểu tình đình công bãi thị, những ngày tuyệt thực, những đêm không ngủ, những màn văn nghệ đấu tranh phản chiến, đòi hòa bình, đòi người Mỹ rút quân của đám trí vận nội thành diễn ra triền miên tại Đại Học Huế, trên khắp các ngõ đường của cố đô, hoặc công khai hoặc bí mật, đều có công của Trịnh Công Sơn góp tay vào. Chúng đòi người Mỹ rút quân để cho cộng sản một mình tung hoành và hòa bình tức khắc có nghĩa là giao nộp đất nước này cho cộng sản thì sẽ hết chiến tranh thôi.

3- Nỗi sợ lớn nhất trong đời Trịnh Công Sơn là sợ đi lính. Vì thế, bằng mọi giá chấp nhận mọi điều kiện để y được bao che trốn lính. Ngoài ra, để chắc ăn, Trịnh Công Sơn còn quyết tâm ve vãn các ông lớn, các giới chức cao cấp của chính quyền VNCH thích nhạc của y, để cho y dễ dàng trốn lính. Quan hệ của Trịnh Công Sơn với Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ, Đại tá Lưu Kim Cương v.v. là một ví dụ. Trịnh Công Sơn đã trở thành con người luồn cúi hèn hạ thiếu tư cách.

Trịnh Cung nói: “Trịnh Công Sơn sai lầm với người Cộng sản như sau: Không ở trong đường dây của một tổ chức và chịu sự lãnh đạo của một tổ chức đó.”

Phát biểu của Trịnh Cung hoàn toàn dựa trên sự phán đoán chủ quan, không dựa trên sự kiện. Phát biểu này hoàn toàn sai sự thật. Sự thật là Trịnh Công Sơn đã chịu sự điều khiển của cộng sản qua đường dây của tên cán bộ nội thành đặc trách trí vận Lê Khắc Cầm.

Ông Trịnh Cung, theo ghi nhận của CSQG đã đổi tên từ Nguyễn Văn Liễu ra thành Trịnh Cung, không chỉ bởi tình bạn với Trịnh Công Sơn, mà còn bởi quan hệ tình cảm với cô em gái Trịnh Công Sơn là Trịnh Vĩnh Thúy. Có thể vì mối ràng buộc tình cảm nhiều mặt đã che mờ sự sáng suốt nên Trịnh Cung đã không biết rằng ông anh rể hụt đang hoạt động cộng sản.

Lần nữa, với tư cách là chỉ huy trưởng lực lượng CSQG Thừa Thiên-Huế tôi xin xác định: Trịnh Công Sơn nằm trong tổ chức trí vận của cơ quan Thành Ủy Việt Cộng Huế hẳn hoi. Và cán bộ lãnh đạo chỉ huy Trịnh Công Sơn là Lê Khắc Cầm.

Trịnh Công Sơn đã nằm trong tổ chức nằm vùng tại Huế. Từng nhúng tay phối hợp giải thoát Hoàng Phủ Ngọc Tường, Hoàng phủ Ngọc Phan, theo chỉ thị của B5 và Thành Ủy. Sau này, những tên đại ác đó trở thành đao phủ thủ Tết Mậu Thân. Trịnh Công Sơn nghĩ gì khi viết và hát: “Chiều đi qua bãi dâu, hát trên những xác người, tôi đã thấy, những hố hầm, đã chôn vùi thân xác anh em...”

Xin hỏi vong hồn Trịnh Công Sơn, ai chôn xác anh em? Ai đã đập đầu anh em? Và ai đã giúp giải cứu những tên đại đồ tể này, để rồi chúng trở về giết dân lành Huế tết Mậu Thân? Trịnh Công Sơn có trách nhiệm trong chuyện này hay không? Xin hỏi vong hồn ông?

Biết rất rõ ai gây ra chuyện thảm sát rùng rợn tại quê hương của chính mình, nhưng Trịnh Công Sơn sau đó vẫn tiếp tục hoạt động nằm vùng, như vậy Trịnh Công Sơn còn có trái tim không? Có tình người không? Rồi Trịnh Công Sơn vẫn viết nhạc phản chiến. Mục đích phản đối chiến tranh một chiều, phản đối cuộc chiến tranh tự vệ của bao thế hệ thanh niên tại Miền Nam đang hy sinh mạng sống để bảo vệ đất nước và dân chúng chống lại bọn cộng sản. Có bao giờ Trịnh Công Sơn viết nhạc để phản đối chiến tranh từ phía bắc vĩ tuyến 17? Chưa bao giờ!

Có nghĩa là TCS chỉ phản đối cuộc chiến đấu của người đang phải tự vệ. Còn thực tế thì Trịnh Công Sơn kín đáo ủng hộ và tiếp tay cho sự xâm lăng bằng vũ khí của cộng sản đối với người dân Miền Nam. Như vậy, thử hỏi Trịnh Công Sơn có lương thiện không? Những lời lẽ mang tính triết lý về thân phận con người trong nhạc Trịnh Công Sơn có thật sự từ trái tim anh ta? Hay chỉ là những giai điệu vay mượn dối trá, phục vụ cho ác quỷ?

Trịnh Công Sơn phối hợp thường xuyên với lực lượng “Sinh Viên Giải Phóng Thành Phố Huế” của trường Đại Học Huế, nhằm thi hành công tác dân vận, trí vận, qua những hội thảo, ca nhạc phản chiến. Tên tuổi đám Việt cộng nằm vùng có liên hệ chặt chẽ với y tôi đã viết ở phần trên.



Theo Trịnh Cung, Trịnh Công Sơn: “Không dám thoát ly theo MTGPMN”. Điều này hoàn toàn không đúng, bởi lẽ:

Vai trò và trách nhiệm của Trịnh Công Sơn rất quan trọng trong việc gây suy sụp tinh thần yêu nước của nhiều tầng lớp thanh niên Miền Nam Việt Nam. Qua những bản nhạc phản chiến, Trịnh Công Sơn đã tạo được một tình trạng tâm lý ươn hèn chủ bại cho một số người Miền Nam. Một số khác thì phản ứng mạnh chống chính quyền, gây bất lợi về mặt chính trị cho quốc gia. Như vậy, Trịnh Công Sơn đã và đang thực hiện thành công sứ mạng mà cộng sản rất cần thời bấy giờ.

Nếu Trịnh Công Sơn thoát ly, thì nhạc Trịnh Công Sơn sẽ bị chính quyền VNCH cấm, và như thế thì làm sao làm nhạc ca hát cho những buổi hội thảo chống chiến tranh? Làm sao Trịnh Công Sơn có thể đích thân tham dự phổ biến nhạc phản chiến? Làm sao trở thành thần tượng lôi cuốn đông đảo giới trẻ tham dự các buổi trình diễn này tại các trường Đại học Huế, Sài Gòn, Đà Lạt?

Và cuối cùng, nếu thoát ly lên mật khu với Việt cộng, liệu khi đối diện với cuộc sống kham khổ với bộ mặt thật của chế độ cộng sản và đám Bác Đảng thì Trịnh Công Sơn có còn được ăn xổi ở thì như ở Miền Nam để mà thai nghén ra những tác phẩm phản chiến? Hay là lúc đó Trịnh Công Sơn phải thoát thân xin hồi chánh và chấm dứt giấc mơ cộng sản, hết sáng tác nhạc phản chiến có lợi cho bọn cộng sản? Bọn Việt cộng phải phân tích về con người Trịnh Công Sơn và phải có bài toán về y ngay.

Về phương diện này ta thấy ngay, Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, tức là bọn cộng sản Hà Nội trá hình đã khôn ngoan để Trịnh Công Sơn ở lại hậu phương địch có lợi nhiều hơn là rút Trịnh Công Sơn ra mật khu. Hơn nữa nếu Trịnh Công Sơn thoát ly ra mật khu, thì không phải tự ý y quyết định được, mà do Thành Ủy Huế. Y không gặp nguy hiểm như Tường và Phan thì tại sao phải điều y ra mật khu? Trong khi nhu cầu hiện diện của y tại các đô thị để hỗ trợ cho các tầng lớp quần chúng đấu tranh rõ ràng có lợi cho Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam nhiều hơn.

Tóm lại, sự ở lại Miền Nam của Trịnh Công Sơn rất cần thiết trong cuộc chiến xâm lăng Miền Nam của cộng sản mà Trịnh Công Sơn thủ vai trò ru ngủ và làm bạc nhược các thế hệ thanh niên Miền Nam. Trịnh Công Sơn không cần cho công tác chiến tranh trực tiếp như bọn Hoàng Phủ, Nguyễn Đắc Xuân, Ngô Kha v.v.

Có một vài sự việc liên quan đến TCS tôi vẫn thường nghe trên một số báo chí, diễn đàn tranh cãi bàn luận:

1- Trịnh Cung và một vài người đã nói trong Mậu thân 1968 Trịnh Công Sơn bị công sản giết hụt.

Ai giết hụt Trịnh Công Sơn? Hoàng Phủ Ngọc Tường? Hoàng Phủ Ngọc Phan? Nguyễn Đắc Xuân? Giết hụt Trịnh Công Sơn? Nhân chứng? Chuyện khôi hài!

Ba tên ác quỷ này “vừa là đồng chí, vừa là anh em với Trịnh Công Sơn” mà! Tôi khi đó là phó Trưởng ty CSĐB, và là Quận trưởng Quận III, vùng Trịnh Công Sơn trú ngụ. Vì vậy tôi biết rõ chuyện này lắm, xin đừng bịa đặt.

2- Ngày 30/4/1975 Trịnh Công Sơn cùng gia đình đã vào phi trường Tân Sơn Nhất để đi cùng Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ, nhưng Trịnh Công Sơn và gia đình đã bị ông Kỳ bỏ rơi. Lại một chuyện bịa đặt nữa.

Ngày 28 tháng 4/1975 tôi gặp Trịnh Công Sơn tại một địa điểm đã hẹn trước, tại thành phố Sài Gòn. Tôi nói với Trịnh Công Sơn:

- “Tôi là người sẽ đưa anh đi. Đã có phương tiện cho anh và gia đình. Mỗi người chỉ mang một xách tay nhỏ mà thôi”.

Trịnh Công Sơn đã trả lời tôi:

- “Cám ơn Liên Thành, nhưng mình quyết định ở lại. Người cần đi là Liên Thành, nên đi gấp đi”.

Câu nói đó của Trịnh Công Sơn tôi không ngạc nhiên tí nào, tôi chỉ làm nhiệm vụ mà “người bạn” giao phó. “Người bạn” này đã lầm anh sở khanh Trịnh Công Sơn rồi! Nhưng BCH CSQG Thừa Thiên-Huế thì không lầm. Hắn ở lại để chia phần chia ghế chăng? Tôi lẩm bẩm! Tôi chia tay Trịnh Công Sơn khoảng 11 giờ trưa ngày 28 tháng 4 năm 1975. Sáng 30 tháng 4 năm 1975 khi tôi đang ở trên tàu ngoài vùng biển Vũng Tàu, thì Trịnh Công Sơn hát bài “Nối Vòng Tay Lớn” trên đài phát thanh Sài Gòn. Trịnh Công Sơn đón những người anh em đồng chí của Trịnh Công Sơn vào thành phố, để nối vòng tay lớn của quỷ, của lạc hậu, của nghèo đói và cơ cực. Người chở Trịnh Công Sơn đến đài phát thanh Sài Gòn sáng ngày 30 tháng 4 năm 1975, ngoài Nguyễn Hữu Đống ra còn có Nguyễn Hữu Thái. Nguyễn Hữu Thái là tên đặc công thuộc Thành Ủy T4 Sài Gòn, tên thủ phạm vụ tung lựu đạn giết chết giáo sư Nguyễn văn Bông Viện Trưởng Học Viện Quốc Gia Hành Chánh. Mục đích của vụ giết giáo sư Nguyễn Văn Bông là để đổ thừa cho Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu giết đối lập, gây mất lòng tin của đồng bào Miền Nam đối với vị Tổng Thống chống cộng triệt để này và gây bất ổn chính trị cho Miền Nam. Với sự hiện diện của hai tên đặc công nằm vùng ngay lập tức bên cạnh mình ngay giờ đầu khi Sài Gòn lọt vào tay cộng sản, thử hỏi Trịnh Công Sơn có phải là đồng bọn băng đảng với bọn nằm vùng hay không? Câu trả này một đứa trẻ con cũng có thể nói đúng được!

Cuộc chiến đã chấm dứt hơn 38 năm qua, nhưng vòng tay của quỷ mà Trịnh Công Sơn đã mơ uớc để “nối vòng tay lớn” vẫn còn siết chặt vận mệnh dân tộc. Hẳn Trịnh Công Sơn dưới suối vàng vẫn còn vui lắm, vì có nhiều người vẫn còn ngưỡng mộ bài hát “Nối Vòng Tay Lớn” này!

Chúng tôi đã thua vì không còn súng đạn để chống lại súng đạn của toàn bộ lực lượng cộng sản quốc tế đổ vào bàn tay cộng sản Hà Nội. Chúng tôi có lỗi, nhưng chúng tôi cũng đã tận lực.

Ai đã gây ra chuyện không còn súng đạn này? Truy nguyên câu hỏi, chúng ta phải nhận thấy rằng, cái đau của Miền Nam là đã có những kẻ thờ ma cộng sản, nối giáo cho giặc bằng nhiều cách, đã giúp tạo ra những biến động chính trị tại Sài Gòn và tại Miền Trung. Lửa của những cuộc xuống đường, tự thiêu, đấu tranh bạo động đã là nguyên nhân cho phong trào phản chiến quốc tế và tại Mỹ có cớ để cổ võ cho cái gọi là “dân chúng Miền Nam bất mãn chế độ Mỹ Ngụy”. Cuối cùng, một số kẻ phản chiến tại Mỹ trở thành những vị dân cử nghị sĩ, cờ đã vào tay, bọn phản chiến “Mỹ Cộng” này thẳng tay cắt viện trợ cho Miền Nam, một xu cũng chẳng! Kết quả, cộng sản đã đi bộ vào Miền Nam, ngồi xổm lên ngôi vị thống trị, gây bao tàn hại cho đất nước, bán đứng tiền đồ non sông cho Bắc Kinh.

Lỗi này tại ai?

Trong suốt chiều dài cuộc chiến, Quân Lực VNCH, lực lượng Cảnh Sát Quốc Gia, đã chế ngự được cái sai, bóp nát được cái ác, bảo vệ được bờ cõi, bảo vệ được sinh mạng và tài sản của đồng bào. Thế nhưng, bên cạnh đó là một số những kẻ lãnh đạo quân sự cũng như hành chánh, các vị gọi là “chính trị gia”, đã ươn hèn xu nịnh, đã bợ đỡ những thế lực tôn giáo đen tối để được vinh thân và yên thân. Họ nhắm mắt làm ngơ, mặc đầu biết rõ rằng những kẻ lãnh đạo tôn giáo mà họ đang dựa vào, là những tên Việt cộng nằm vùng, chẳng hạn như Trí Quang, Thiện Siêu, Đôn Hậu, Chánh Trực, Như Ý v.v. Họ không dám chống lại hoặc cưỡng lại bọn chúng. Vì chống lại những nhân vật lãnh đạo tôn giáo có nghĩa là họ đặt sinh mạng chính trị vào ván bài định mạng may ít rủi nhiều. Cái gương của Tổng Thống Ngô Đình Diệm còn đó. Cái gương của những nhân viên dưới quyền trong chính phủ Đệ Nhất Cộng Hòa bị sa thải, bị tù tội, thậm chí bị tử hình còn đó. Hầu hết những chính trị gia của chúng ta chỉ vì phiếu bầu, chứ không vì quyền lợi quốc gia dân tộc. Mà phiếu bầu thì dễ kiếm nhất từ các nhà thờ các chùa, các vị tu sĩ tôn giáo. Những chiếc ghế cao trong chính quyền cũng dễ bị lung lay hoặc bị bứng bởi những chiếc áo tu hành đầy quyền năng này. Từ đó đẻ ra một hệ quả là họ thuần phục Trí Quang, Đôn Hậu, Thiện Siêu, Chánh Trực như thuần phục thần linh, sẵn sàng để các chiếc áo cà sa này vo tròn bóp méo.

Ngoài những tên cộng sản đội lốt tu hành mà tôi vừa kể trên, còn có một đám trí thức khoa bảng, sinh viên, đã được ông bà cha mẹ của bọn chúng dùng tiền bạc, dùng lúa gạo, dùng thực phẩm, dùng tinh hoa lễ nghĩa đạo đức của miền nam nuôi nấng dạy dỗ chúng thành người có bằng cấp, để rồi một sớm một chiều, chúng quay lại phản bội ông bà, cha mẹ, anh em, bạn bè, đi theo cộng sản. Chúng đem AK về thành phố bắn phá, sát hại đồng bào. Bọn này là ai? Bọn chúng là đám Việt cộng nằm vùng, là đám thành phần thứ ba, là đám giáo sư và sinh viên tại Huế mà tôi đã nêu tên họ nhiều lần ở phần trên. Và tôi sẽ lập đi lập lại những cái tên này cho đến mãn đời tôi. Điển hình là: Lê Văn Hảo, Đào Thị Xuân Yến, Lê Khắc Quyến, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Hoàng Phủ Ngọc Phan, Nguyễn Thị Đoan Trinh, Nguyễn Đóa, Ngô Kha, Trịnh Công Sơn, Nguyễn Đắc Xuân, Phan Duy Nhân, Phạm thị Xuân Quế, Lê Khắc Cầm, Lê Khắc Phò, Hoàng thị Ngọ, Thái Kim Lan... và quá nhiều....

Từ sau 1963 đến 1972, đám Việt cộng đội lốt tu hành phối hợp với đám trí thức sinh viên cơ sở nội thành Việt cộng đã phá nát Miền Nam, đặt biệt là Huế. Hậu quả của những vụ tranh đấu của Thích Trí Quang 1966, vụ tàn sát đồng bào Huế trong Mậu Thân 1968, vụ mưu toan tổng nổi dậy tại Huế vào 5/1972 để chiếm Huế làm thủ đô cho Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, trước khi ký hòa đàm Paris 1973, tất cả chính là con đường dẫn tới hậu quả đau thương của ngày 30/4/1975.

Sau 30/4, Trịnh Công Sơn đã không được sử dụng. Cộng sản có nghi ngờ Trịnh Cộng Sơn hai lòng nửa nạc nửa mỡ không? Dĩ nhiên là có. Tình trạng này là chung cho tất cả nhóm chính trị thuộc cái gọi là Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, chứ không riêng gì cá nhân Trịnh Công Sơn. Cũng may cho Trịnh Công Sơn, sau này gặp “quý nhân phò trợ” là bà Phan Lương Cầm, vợ thứ hai của Võ Văn Kiệt. Trịnh Công Sơn có số nhờ vả ông lớn bà lớn. Ngày xưa thì nhờ vả ông bà Nguyễn Cao Kỳ, Lưu Kim Cương. Nay cộng sản vào thì nhờ Bà Phan Lương Cầm, vợ Võ Văn Kiệt, con nuôi của Thiếu úy Phan Tử Lăng trong quân đội Pháp tại Huế. Sau này Phan Tử Lăng trở thành Đại tá trong quân đội nhân dân của Võ Nguyên Giáp. Bà Cầm say mê nhạc Trịnh Công Sơn, nhờ đó, Trịnh Công Sơn được Sáu Dân, tức Võ Văn Kiệt cứu vớt. Đời Trịnh Công Sơn bắt đầu bước sang một trang mới. Cất cánh giàu sang phú quí, Trịnh Công Sơn quay lại hất hủi đám Trịnh Cung, Nguyễn Hữu Đống và đám bạn bè tranh đấu cũ tại Huế mà đã một thời tận sức, tận lòng giúp đõ Trịnh Công Sơn và gia đình y.

Giấc mộng cuối đời của Trịnh Công Sơn là mong muốn trở thành đảng viên đảng Cộng Sản Việt Nam. Đúng như như Trịnh Cung đã viết trong bài “Trịnh Công Sơn và tham vọng chính trị”. Khi giấc mộng vàng này bị Hoàng Hiệp, chính trị viên của Hội Âm Nhạc Thành Phố HCM, và cũng là cán bộ trách nhiệm quản lý Trịnh Công Sơn ngăn chận bóp nát, thì Trịnh Công Sơn tức giận, phản ứng bằng những lời lẽ tục tĩu mà tôi không dám lập lại. Có nhiều người vì quá thần tượng Trịnh Công Sơn nên cho rằng Trịnh Cung nói láo. Riêng tôi, tôi không hề ngạc nhiên là Trịnh Công Sơn đã nói như vậy. Chuyện đó quá bình thường đối với Trịnh Công Sơn, bởi tôi biết rõ bản chất thượng đội hạ đạp của Trịnh Công Sơn từ lâu lắm rồi, vào đảng là miếng đỉnh chung rất lớn, đâu dễ cho Trịnh Công Sơn chối từ. Xin đọc bài của Trịnh Cung để biết Trịnh Công Sơn đã nói gì với Hoàng Hiệp:

Ba mươi bốn năm đã trôi qua, nhiều tranh luận về “thiên tài” Trịnh Công Sơn, hắn là ai? Là quốc gia hay cộng sản?

Là một người, vì lý do nghề nghiệp, cùng thế hệ, tuổi đời suýt soát nhau, Trịnh Công Sơn là bạn của anh tôi, thành phố Huế lại nhỏ, cho nên tôi biết rất rõ và rất sâu về Trịnh Công Sơn, nhưng tôi vẫn im lặng. Không phải vì “sợ” khi đụng đến “thiên tài” Trịnh Công Sơn của một số không nhỏ những người đã và đang hết lòng xuýt xoa ngưỡng mộ y, mà thật tình vì trong lòng xem thường Trịnh Công Sơn.

Bất hạnh thay quê hương xứ Huế và đất nước Việt Nam lại có “thiên tài” kiểu này, đã vậy vào khoảng tháng hai/2011 cộng sản đã đặt tên đường Trịnh Công Sơn tại Huế. Phải nhấn mạnh với quý độc giả rằng, việc chọn lựa đặt tên đường dưới chế độ cộng sản là một quyết định được nghiên cứu kỹ bởi công an và Bộ Chính Trị, sau khi cân nhắc công trạng, thành tựu công tác, lòng trung thành của đương sự đối với Bác Đảng. Với Trịnh Công Sơn, tuy rằng giấc mơ vào Đảng chưa thành hình lúc còn sống, lúc đầu cũng có bị chút bạc đãi vì nghi ngờ hai mang, tuy nhiên, việc sau này được kề cận lân la với Võ Văn Kiệt, được làm chủ một “đại bài” nhập rượu ngoại quốc, trở nên giàu có và cuối cùng là việc được đặt tên đường Trịnh Công Sơn tại Huế và sắp tới tại ven Hồ Tây, Hà Nội, âu đó cũng là một sự sòng phẳng trả ơn của cộng sản đối với Trịnh Công Sơn.



Phải nói rằng Trịnh Công Sơn luôn có số may mắn ở cả hai chế độ, chế độ Việt Nam Cộng Hòa thì y được trốn lính, được nổi tiếng, ở chế độ cộng sản thì y được giàu có, được đặt tên đường. Chung quy cũng vì giỏi luồn cúi nịnh bợ.

Đã từ lâu rồi, ít khi tôi muốn nhắc đến tên Trịnh Công Sơn. Rất nhiều người ở Huế hỏi tôi về Trịnh Công Sơn, vì họ biết là tôi biết tận kẽ răng chân tóc toàn bộ nhóm nằm vùng Huế. Họ muốn tôi xác nhận Trịnh Công Sơn là ai? Có hoạt động CS không? tôi chỉ cười mà không nói. Ngoài ra, cũng có một số anh em trong hàng ngũ mật báo viên của ty CSQG Thừa Thiên-Huế hoạt động chung với Trịnh Công Sơn muốn tôi bạch hóa sự thật về Trịnh Công Sơn, vì đó là vấn đề của sự thật và lịch sử. Thật ra thì tôi cũng có phần muốn chờ xem có ai đó ngoài tôi ra, nói lên điều này. Bởi vì tôi tin rằng, tôi không phải là người duy nhất biết con người thật của Trịnh Công Sơn.

Nhưng sau hai bài viết của Trịnh Cung, và anh Bằng Phong Đặng văn Âu, gây tranh luận giữa hai phe chống và bênh Trịnh Công Sơn, cũng như bài viết khá hời hợt và sai lầm của Trung tá Nguyễn Mâu, tôi quyết định nói ra toàn bộ sự thật. Bản thân các bài viết trên cũng như rất nhiều ý kiến về Trịnh Công Sơn đều thiếu sót, mù mờ. Cũng dễ hiểu và thông cảm được, vì cả hai tác giả trên có lẽ đều không biết nhiều, biết rõ và biết sâu về Trịnh Công Sơn bằng cơ quan tình báo CQQG Thừa Thiên-Huế, tác nhân trực tiếp điều khiển và theo dõi Trịnh Công Sơn, thì làm sao độc giả có thể biết được đâu là sự thật để tìm cho mình một thái độ, một lý do nào đó để tiếp tục, hoặc yêu, hoặc hận. Vì thế mà tôi đã phải nói ra những gì mà tôi biết, rồi quý vị và lịch sử tùy nghi suy nghĩ định đoạt. Yêu vẫn cứ yêu, ghét vẫn cứ ghét. Không sao cả!

Hay là quý vị có thể bình tĩnh hơn, để đánh giá và chọn cho mình một thay đổi tình cảm nào đó?

Đương nhiên, những gì tôi vừa trình bày trên sẽ gây sóng gió đụng chạm. Con người bình thường ai cũng muốn sóng yên biển lặng, tôi cũng không khác. Nhưng vì là người mang bản chất đương đầu, thấy việc sai trái khó thể làm ngơ, thì giữa sự thật và sóng yên biển lặng, tôi chọn sự thật.

Tôi, Liên Thành, hoàn toàn chịu trách nhiệm những gì tôi nói về Trịnh Công Sơn.

Sau đây, tôi xin ghi lại nguyên văn lời kêu gọi của Trịnh Công Sơn tại đài phát thanh Sài Gòn ngày 30 tháng 4 năm 1975, cùng đi với hắn có tên giết người Nguyễn Hữu Thái, đặc công cộng sản T4, Người cung cấp sáu trái lựu đạn MK6 trong vụ giết giáo sư Nguyễn Văn Bông, cựu chủ tịch Tổng Hội Sinh Viên Sài Gòn, lúc đó đang là trung úy chiến tranh tâm lý tại Sài Gòn.

Tôi nhạc sĩ Trịnh Công Sơn rất vui mừng và cảm động gặp và nói chuyện với tất cả các anh em văn nghệ sĩ ở miền nam Việt Nam này. Hôm nay là cái ngày mơ ước của tất cả chúng ta, đó là ngày mà chúng ta giải phóng hoàn toàn tất cả đất nước Việt Nam này. Cũng như những điều mơ ước của các bạn bấy lâu là độc lập, tự do và thống nhất thì hôm nay chúng ta đã đạt được tất cả những kết quả đó.

Tôi yêu cầu các văn nghệ sĩ cách mạng miền nam Việt Nam (không rõ) hợp tác chặt chẽ với Chính phủ Cách mạng Lâm thời miền Nam Việt Nam. Những kẻ đã ra đi chúng ta xem như là đã phản bội đất nước.

Chúng ta là người Việt Nam. Đất nước này đất nước Việt Nam. Chúng ta ở trên đất nước chúng ta.

Chính phủ Cách mạng Lâm thời sẽ đến đây với thái độ hoà giải tốt đẹp. Các bạn không có lí do gì sợ hãi để phải ra đi cả.

Đây là cơ hội đẹp đẽ và duy nhất để đất nước Việt Nam thống nhất và độc lập. Thống nhất và độc lập là những điều chúng ta mơ ước từ mấy chục năm nay.

Tôi xin tất cả các bạn, thân hữu cũng như những người chưa quen với tôi xin ở lại và chúng ta kết hợp chặt chẽ với Ủy ban Cách mạng Lâm thời để góp tiếng nói xây dựng đất miền Nam Việt Nam này (không rõ...) Gặp tất cả anh em ở trong Ủy ban Cách mạng Lâm thời. Hiện tại chúng tôi đang ở tại đài phát thanh Sài Gòn và tôi mong các bạn chuẩn bị sẵn sàng để đến đây góp tiếng nói, lên tiếng để tất cả mọi người đều yên tâm. Và tôi xin tất cả các anh em sinh viên học sinh của miền nam Việt Nam này hãy yên ổn kết hợp lại với nhau, khóm phường đều kết hợp chặt chẽ chuẩn bị để đón chờ Ủy ban Cách mạng Lâm thời đến.

Xin chấm dứt. Và tôi xin hát một bài. Hiện tại ở trên đài thì không có đàn ghi-ta. Tôi xin hát lại cái bài ‘Nối vòng tay lớn’. Hôm nay thật sự cái vòng tay lớn đã được nối kết
......”







Hết.

==//==
(Trên đây là phần 9 cũng là phần cuối của loạt tài liệu về Huế Thảm Sát Mậu Thân 68 của tác giả Liên Thành nhân 46 năm Tội ác chiến tranh và tội ác diệt chủng của Hồ Chí Minh, đảng CSVN, và tay sai. Trân trọng cảm ơn Quý đồng bào và Quý chiến hữu đã theo dõi và phổ biến.

Tịnh Ngọc, Trưởng Khối Kỹ Thuật).

Liên Thành
http://ubtttadcsvn.blogspot.com/2014/02/bai-9-cong-san-nam-vung-nhac-si-trinh.html

(Xin đón đọc và giúp chúng tôi phổ biến những tài liệu tiếp theo về Huế Mậu Thân 1968. Cảm ơn Quý vị. Tịnh Ngọc, Trưởng Khối Kỹ Thuật).

Bấm vào đây để in ra giấy (Print)

Tập tài liệu này dày 160 trang, & có thể được in trên giấy 2-mặt (2-sided paper) ở dạng PDF.  Quý vị không nên dùng nút "Print" của chương trình web browser, mà nên in file PDF có nhan đề "Bấm vào đây để in ra giấy (Print)" thì rõ ràng và đỡ hao mực hơn.  Để in được các văn kiện PDF trên website LHCCS/HTĐ, máy của quý vị cần được trang bị chương trình ADOBE PDF Reader. Chương trình này miễn phí và nó nằm tại đây, ngay tại link này: http://get.adobe.com/reader. --BKT

oOo

Bảng hướng dẫn: Lời giới thiệu | Bài 1 | Bài 2 | Bài 3 | Bài 4 | Bài 5 | Bài 6 | Bài 7 | Bài 8 | Bài 9 | Phim TSMT-68 | Bài viết MT68 | Đầu trang

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Xem phim Thảm sát MT68

 

 

Những Bài viết về Tết Mậu Thân 68
Của nhiều tác giả

Thơ: Mùa xuân Đau thương

Tội ác Hồ Chí Minh - Mậu Thân 68 - Máu chưa khô!
Tội ác Hồ Chí Minh - Mậu Thân 68 - Lịch sử bị bóp méo!
Tội ác Hồ Chí Minh - Mậu Thân 68 - Nhà Độc tài Đẫm máu nhất VN!
Tội ác Hồ Chí Minh - Mậu Thân 68 - "bác" là "thằng chó đẻ"!
Tội ác Hồ Chí Minh - Mậu Thân 68 - Thảm sát hãi hùng!
Tội ác Hồ Chí Minh - Mậu Thân 68 - Tội ác Cộng sản Quốc Tế!
Tội ác Hồ Chí Minh - Mậu Thân 68 - Trẻ em VN, nạn nhân của ĐCSVN!
Tội ác Hồ Chí Minh - Mậu Thân 68 - Tội ác của Bộ đội HCM!
Tội ác Hồ Chí Minh - Mậu Thân 68 - Hung Thần ĐỖ MƯỜI!
Tội ác Hồ Chí Minh - Mậu Thân 68 - Chúng tôi muốn sống!

Bảng hướng dẫn: Lời giới thiệu | Bài 1 | Bài 2 | Bài 3 | Bài 4 | Bài 5 | Bài 6 | Bài 7 | Bài 8 | Bài 9 | Phim TSMT-68 | Bài viết MT68 | Đầu trang

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Nhạc nền: Cơn Mê Chiều, Thái Thanh đơn ca (MP3 2.01MB)

 

Nguồn: Internet E-mail by UBTTTADCSVN chuyển
http://ubtttadcsvn.blogspot.com/2014/01/hue-46-nam-toi-ac-diet-chung-cua-bang.html

Đăng ngày Thứ Hai, January 27, 2014
Cập nhật ngày Thứ Sáu, March 14, 2014 - Thông Báo của UBTTTACS về phim tài liệu, xem phần Phụ lục
Cập nhật ngày Thứ Tư February 5, 2014 - Hoàn tất tập tài liệu Huế-MT68 gồm 9 bài do Tác giả Liên Thành biên soạn rất công phu
Ban Kỹ Thuật Khóa 10A-72/SQTB/ĐĐ, ĐĐ11/TĐ1ND, QLVNCH