Cờ Gia Nã Đại Cờ Úc Đại Lợi Cờ Pháp Cờ Anh Cờ Đức Cờ Nhật bản Chào Cờ Việt Nam Cộng Hoà Muôn Năm Cờ Thụy Điển Cờ Thụy Sỹ Cờ Ý Đại Lợi Cờ Vatican Cờ Hy Lạp Cờ Tân Tây Lan Cờ Ba Lan 

Bấm vào đây để in ra giấy (Print)

TÂM TƯ NGƯỜI LÍNH
NGƯỜI XỨ NGHỆ

Lời Tác Giả: Nhân kỷ niệm 48 năm Ngày Quân Lực VNCH, người viết cũng là Người Lính Già Xa Quê Hương, xin dành bài viết này để vinh danh toàn thể QLVNCH, người sống cũng như đã mất, ở hải ngoại cũng như ở trong nước trong cuộc chiến 20 năm: “Bảo Quốc An Dân”. Bên cạnh đó, cũng xin vinh danh những chiến công anh dũng, của Lực lượng Diện Địa Địa Phương Quân & Nghĩa Quân (ĐPQ & NQ), qua lời kể của người lính ĐPQ Lê Phi Ô và Cán bộ Nghĩa Quân Trần Điềm trong cuộc phỏng vấn của Đài truyền hình Việt Today ở San José Bắc Cali. -- NGƯỜI XỨ NGHỆ

oOo

Từ lúc được Bác sĩ thông báo tôi được rời Phòng Cấp Cứu về nhà, cũng phải mất đến gần hai ngày, ngoài những thủ tục giấy tờ, toa thuốc, v.v. Để an toàn, bác sĩ cố gắng chữa trị tôi cho những cơn đau đứt ruột lúc về đêm. Nhớ lúc nằm ở Phòng Cấp Cứu được hai ngày, tôi tìm cách xuống giường đi vệ sinh, đã ngã chúi xuống nền nhà, nếu không nhờ cô y tá trực thì tôi gặp rắc rối thêm về bệnh tật. Thế là mỗi buổi chiều, bệnh viên phải cho y tá đến dìu tôi tập đi, tôi thấy mình hình như bé nhỏ và yếu đuối chi lạ, bởi vì cô y tá giúp tôi tập đi đã có bầu hơn 6 tháng. Người bạn tù đến đón tôi tại cửa bệnh viện, thì thấy tôi liêu xiêu đi xuống, ông chạy đến ôm tôi, trào nước mắt: “Mày sống là được rồi! Không sao, cố gắng đi hết đoạn đường chiến binh này là hết chuyện”. Ngồi trên xe ông tíu tít kể cho tôi nghe bao nhiêu chuyện, từ vụ việc sát thủ bắn loạn xạ và đoàn rước nhân ngày Mother Day, làm 19 người bị thương, trước bệnh viện tôi đang điều trị. Chuyện quê hương, chuyện các bạn tù 520 Xuyên Mộc khắp nơi e-mail thăm hỏi sức khỏe của tôi. Tôi lắng nghe chia xẻ những tin tức mà người bạn tù kể cho tôi nghe, bằng nụ cười héo hắt, bởi vì sức lực của tôi đã bị vắt cạn kiệt mỗi ngày, bằng việc lấy ra 4 ống máu khám nghiệm, để xem virus gan trong người tôi có giảm chút nào không?

Ông bạn tù thấy tôi im lặng, bỗng ngượng, ông cười xuề xòa: “Lâu ngày mới gặp ông tớ bi bô đôi chút cho ông bớt buồn! Ông cứ ngồi dựa vào ghế ngủ một lát cho khoẻ”. Tôi cười: Lính tráng với nhau mà đưa đẩy làm chi! Ông biết không, ở bệnh viện thì tôi tập đi, ra đến ngoài này tôi đang tập nói. Yên tâm, tôi sẽ sống thêm được mấy mùa trăng nữa. Rồi tôi kể cho ông nghe, sau mỗi cơn đau, tôi bắt đầu làm thơ. Thơ văn như máu thịt của tôi, như nguồn ủi an mỗi khi tôi khốn khó. Tôi đọc cho ông nghe bài thơ có tựa: “Nói Với Tử Thần”, do tôi sáng tác:

Ta chưa đi đến bên bờ sinh tử
mà thấy ngươi đã đứng ở đầu giường
nắm tay ta nở nụ cười tình tự
hãy theo ta đi đến cõi vô thường
nơi không có kẻ tranh danh đoạt lợi
không có hận thù, phe phái gạt lường
không có chuyện người làm hại người
nơi ta ở không có cảnh đoạn trường.

Ừ! Trước sau gì ta cũng theo ngươi
vội làm chi ta còn bao nhiêu chuyện
yêu Tự Do với bao nhiêu ước nguyện
đồng bào ta miệng không nói nên lời
ta là lính chưa bao giờ giải ngũ
Tổ Quốc còn với bao cảnh dập trù
Danh Dự còn không cam cảnh lưu vong
Trách Nhiệm còn nợ nước trả chưa xong
xin cho ta sống vài ba năm nữa
sẽ cùng ngươi đi đến cõi vô thường
với ngươi vài năm có gì lần lựa
rồi cùng ngươi đi tám hướng mười phương
.

Nghe xong ông bạn của tôi la lên: Bài thơ đầy hào khí, như vậy là ông vẫn chưa vội bỏ anh em mà đi. Chắc ông nói đã mệt, nằm ngủ một lát là đến nhà. Rồi ông với tay vặn chiếc CD trong xe, cho tôi nghe bài: “Người Lính Già Xa Quê Hương” do ca nhạc sĩ Duy Khánh ca, tôi thấy ngậm ngùi cho những thân phận của bao nhiêu người lính xa xứ:

Người lính già xa quê hương
nghe trong tim đêm ngày trăn trở
nhớ quá một thời chinh chiến gian lao
nhớ phút hiên ngang đi vào binh lửa
sắt thép trong tay đang đối diện thù
bỗng tiếng loa vang lệnh truyền buông thả
nửa đời còn gì cung kiếm ngang trời
người lính già xa quê hương
bao nhiêu đêm anh nằm không ngủ
nhớ quá mẹ hiền, nhớ quá anh em
nhớ những đêm mưa quân hành đất đỏ
nhớ những đêm xuân nơi chốn địa đầu
nay quá xa xăm đường về thăm thẳm
nửa đời ngậm ngùi mang kiếp tha phương

Ôi! Còn đâu nữa còn đâu
bạn bè ta những anh hùng hào kiệt
không tiếc chi xương máu giữ màu cờ
Ôi! Còn đâu, còn đâu
một thời trai một thời súng gươm
nay bỗng dưng thành kẻ lưu vong.


Về đến nhà, tội vội chạy đến cái laptop thân yêu của tôi, mà thời gian qua tôi đã bỏ nó cô đơn một mình. Mở laptop ra tôi đã thấy trong inbox có hơn 100 e-mail. Từ những e-mail thăm hỏi, đến những bài viết của vài blogger trong nước mà tôi quen biết, về vụ án Nguyễn Phương Uyên, Đinh Nguyên Kha. Và tôi đã mất gần 1 gìờ đọc, và gạn bỏ, cho đến lúc, tôi không thể chịu đựng nữa, mới leo giường nằm nghỉ, và tôi đã nằm ngủ mê mệt gần hai ngày, chỉ thức dậy khi đến giờ ăn, rồi ngủ tiếp. Những ai đã qua cơn bĩ cực ở Phòng Cấp Cứu mới hay, cứ khoảng 20 phút có y tá đến đo áp huyết, cứ 25 phút đo đường trong máu, rồi lấy máu xét nghiệm, uống thuốc, ăn uống, ngay cả việc đi vệ sinh cũng được y tá nhắc nhở, và áp tải vào tận phòng vệ sinh, chưa kể những cơn đau nằm lăn lộn trên giường. Nên giấc ngủ bây giờ của tôi rất qúy giá, và cũng là dịp để tôi hồi phục sức lực.

Và tôi đã ngồi lại viết bài trên laptop, lúc chưa ngã bệnh, tôi có thể ngồi viết một lần đến nửa ngày mà không thấy mệt, nhưng giờ đây, ngồi viết được một giờ, tôi lại phải nghỉ một hoặc đến hai giờ. Mới biết sức khỏe của mình đã bị bệnh tật làm cho cạn kiệt, vào lứa tuổi như chúng tôi, ai mà không buớc qua chiếc cầu đoạn trường này. Hôm nay nhìn lên tấm lịch, chỉ còn hai tuần nữa là đến ngày kỷ niệm 48 năm Ngày Quân Lực 19-06, tôi viết bài: “Tâm Tư Người Lính”. Nhắc đến “Ngày Quân Lực”, nhắc đến “Người Lính Già”, nhắc đến ngày Người Lính buông súng gãy cờ, thế mà thời gian lặng lẽ trôi qua gần ½ thế kỷ. Hôm nay trên xứ người tạm dung, mái đầu đã bạc, thân thể bệnh hoạn cận kề với nỗi chết. Đất nước bên kia nửa vòng trái đất, người dân vẫn bị đàn áp bóc lột, đối xử bất công.... Người Lính đã bao lần tự trách mình đã không làm tròn trách nhiệm Tổ quốc giao phó. Giờ đây trong không gian im ắng của một buổi tối, quãng thời gian xưa bất chợt hiện về, trong dòng lệ đau thương lăn dài trên khuôn mặt hằn dấu thời gian. Những Người Lính còn sống nợ người đã chết, Người Lính lành lặn nợ người què quặt, Người Lính có cuộc sống tạm ổn nơi xứ người, nợ người chiến hữu đang bươn chải kiếm sống ở quê nhà. Vì thế viết về “Tâm Tư Người Lính”, người viết như một lần trôi về dòng lịch sử đau thương đã qua của đất nước, để vinh danh những chiến hữu cùng chung vai chiến đấu, đã chết, hay còn vất vả chuyện áo cơm ở quê nhà. Cách đây một năm, tôi đọc được bài: “Tâm Tư Người Lính Già Lưu Vong” viết về tâm tư của Người Lính nhân Ngày 19-06 của chiến hữu Hoàng Nhật Thông, cùng hợp với nội dung của bài viết, tôi xin phép được trích đăng sau đây:

Từ sau cuộc đảo chính của một số Tướng Lãnh, lật đổ Chế độ Đệ Nhất Cộng Hòa, chính trường Miền Nam Việt Việt Nam rơi vào tình trạng bất ổn, những cơn bão lốc chính trị, những cuộc biểu tình xảy ra trên đường phố của nhóm sinh viên tả do CSBV giật dây, những cuộc tranh giành quyền lực của các Tướng Lãnh, và việc thay đổi các Chính phủ dân sự như thay áo:

- Ngày 30-01-1964: Tướng Nguyễn Khánh và một số Tướng Lãnh hạ bệ các Tướng Lãnh chủ chốt của cuộc đảo chánh ngày 1-11-1963

- Ngày 13-09-1964: Trung Tướng Dương Văn Đức và Thiếu Tướng Lâm Văn Phát lật đổ Nguyễn Khánh

- Ngày 24-10-1964: Chính phủ dân sự do Quốc Trưởng Phan Khắc Sửu lãnh đạo

- Ngày 31-10-1964: Chính phủ dân sự của Thủ Tướng Trần Văn Hương

- Ngày 16-02-1965: Chính phủ dân sự của Thủ Tướng Phan Huy Quát

- Ngày 19-02-1965: Cuộc đảo chánh không thành của Thiếu Tướng Lâm Văn Phát và Đại Tá Phạm Ngọc Thảo.

Bọn CSBV đã lợi dụng tình trạng rối loạn của Chính trường Miền Nam để gia tăng đánh phá, trong mưu đồ nhuộm đỏ nửa phần còn lại của đất nước. Trước tình hình lâm nguy của Tổ Quốc, chính phủ dân sự do Thủ Tướng Phan Huy Quát lãnh đạo đã quyết định giao quyền lãnh đạo đất nước cho Quân đội. Qua nhiều phiên họp, Đại Hội Quân Lực đã thành lập Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia Lâm thời và đề cử Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu vào chức vụ Chủ Tịch Ủy Ban. Ngày 19-06-1965, Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu ra mắt Ủy ban Lãnh đạo Quốc Gia. Ông thay mặt đại gia đình QLVNCH đứng ra nhận trách nhiệm lèo lái con thuyền Quốc Gia trong cơn bão tố của đất nước. Vì thế ngày 19-06 gọi là Ngày Quân Lực. Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu sau đó là Tổng Thống dân cử của nền Đệ Nhị Cộng Hòa, đã lãnh đạo toàn thể Quân Dân Cán Chính, đập tan mọi cuồng vọng xâm lăng của CSBV. QLVNCH đã dùng xương máu, sinh mạng của mình đánh tan hầu hết các cuộc tấn công của cộng quân, và hoàn thành ước nguyện “Sinh Bắc Tử Nam” cho lũ giặc xâm lăng. Nhưng đau đớn thay, VNCH bị cột tay khi chiến đấu, súng đạn phải dè xẻn từng viên, những phương tiện để yểm trợ cho việc chống giữ quê hương bị cạn kiệt, vì Hoa Kỳ cúp viện trợ quân sự, để thực hiện kế hoạch tháo chạy trong danh dự, với kế hoạch bức tử VNCH, bằng những cuộc biểu tình phản chiến trên đường phố, trong Quốc hội... che đậy bằng “cụm từ” Việt Nam Hóa Chiến Tranh của chính phủ Hoa Kỳ:

VNCH chết tức tưởi!
QLVNCH bị bức tử trong uất nghẹn!
Quốc Gia Miền Nam Việt Nam bị xóa sổ đau thương!
Dân Tộc Việt Nam chìm đắm trong biển máu đau thương!

Những tia nắng nhạt dần, và tan loãng ở cuối chân trời, những áng mây còn sót lại của một buổi chiều hoàng hôn lững lờ trôi vào không gian vô tận. Hàng triệu người dân Việt làm thân lưu xứ trên các quốc gia Tự Do trên Thế giới, đang trải nỗi lòng trong ánh mắt nhìn về phía xa mờ nhạt bên kia nửa vòng trái đất. Để tìm lại trong ký ức những hình ảnh mến yêu, nơi quê hương Việt Nam ngàn đời yêu dấu, và cũng để đau đớn xót xa cho một ngày nước mất nhà tan, gởi thân nơi đất khách bởi thảm họa CS. Thoáng chốc đã 38 năm, kể từ khi người lính VNCH bị bức tử buông súng. Bây giờ ngoảnh lại nhìn, những sợi đời mỗi ngày mỗi thưa dần, cát bụi thời gian, và tuyết sương viễn xứ đã phủ trắng mái đầu. Mỗi ngày trôi qua, con đường viễn xứ là mỗi ngày một dài thêm, trong khi bước chân vong quốc của Người Lính đã không còn: “Chân Cứng Đá Mềm” của một thời khói lửa, hai đóm mắt hỏa châu đã mờ, hơi thở cạn dần. Người Lính năm xưa của một thời bi hùng, bây giờ là Người Lính Già Xa Quê Hương, lưu vong nơi xứ người, mòn mỏi rã rời lê từng bước chân vong quốc. Người Lính VNCH còn lại gì khi chiếc bóng đời dần phai nhạt, theo vạt nắng hoàng hôn trên đất khách.

Hai mươi năm chinh chiến, những thanh niên Miền Nam 17, 18 tuổi, như đọt măng non, biết gì ngoài cơm cha, áo mẹ, công thầy. Nhưng vì tình yêu quê hương, dân tộc, vì trách nhiệm của người trai trong thời loạn, họ đã hy sinh quãng đời thanh xuân và hạnh phúc cá nhân, mang tâm hồn trong trắng như chiếc áo thư sinh, lao vào cuộc chiến, với ước mơ hiền hòa đem máu xương, sinh mạng của mình bảo vệ hai chữ Tư Do cho Quê hương.

Bạn ơi! Quan hà xin cạn chén ly bôi,
ngày mai tôi đã đã đi xa rồi,
thành đô lưu luyến chắn bước chân tôi,
trước giờ chia phôi mấy ai không bùi ngùi,
kỷ niệm buồn vui mãi ghi trong lòng tôi.

Rồi đây mai này ai hỏi đến tên tôi,
bạn ơi hãy nói khoác chiến y rồi,
người thư sinh ấy đã xếp bút nghiên
giã từ trường yêu với bao nhiêu bạn hiền,
có về là khi nước non vui bình yên...
”.

Hai mươi năm khói lửa bao trùm quê hương, Người Lính thực sự trực diện đánh đuổi quân thù, sống cận kề với cái chết vây quanh. Ngày bước hành quân dưới cơn nắng cháy nung người, đêm đi âm thầm trong bóng đêm của rừng già âm u, trên ruộng đồng ngập nước, hoặc ngồi lạnh căm ghìm súng nơi vọng gác để canh giữ quê hương. Người Lính cùng đồng đội thay phiên nhau chia sẻ từng muỗng cơm nuốt vội nơi giao thông hào, dưới cơn mưa pháo của địch. Chia nhau từng giọt nước còn sót lại nơi đáy bi đông, dưới cơn nắng cháy nung người của khói lửa chiến trường, chuyền tay nhau điếu thuốc nóng cháy cả đôi môi, lạnh co ro trùm tấm chiếc poncho dưới cơn mưa tầm tã. Nhiều lần cắn chặt hàm răng đè nén cơn đau, nhìn máu hồng tuôn đổ vì viên đạn, mảnh pháo của quân thù ghim vào thân thể, bao nhiêu lần mang chiến thắng trở về từ cõi chết để dâng Tổ Quốc.

Người Lính hơn bảy ngàn đêm, với giấc ngủ chập chờn, nhìn ánh hỏa châu soi sáng chiến trường, âm thầm bước đi trong bóng đêm dày đặc màn sương, để canh giữ quê hương cho người dân được an lành trong giấc ngủ nơi hậu phương....

Nặng ba lô khi chuyển quân qua áo sương,
lạnh đầy hơn một lần,
gian nan giữa phố phường,
ngủ trọn mơ đêm dương gian,
mình đi khi nước đau chẳng thở than
”.

Chiến tranh đồng nghĩa với mất mát, tang thương. Người Lính dưa lưng nỗi chết để mang an bình cho hậu phương, hai mươi năm chiến chinh, với hằng trăm ngàn trận chiến lớn nhỏ. Người Lính đã đem dòng máu hồng tô đậm trang chiến sử. Người Lính đã đem sinh mạng cắm ngọn cờ vàng ngạo nghễ trên từng phần đất quê hương như An Lộc, Bình Long Anh Dũng, Kon Tum Kiêu Hùng, Trị-Thiên Vùng Dậy, Bình Định Quyết Chiến Quyết Thắng.... Người Lính dựa lưng nỗi chết trong cơn bão lửa quê hương, dưới hằng trăm ngàn quả đạn pháo của quân thù để hoàn thành sứ mạng cao cả: Thừa thắng xông lên tái chiếm lãnh thổ trong Mùa Hè Đỏ Lửa 1972. Những địa danh như Bình Giã, Dakto, Khe Sanh, Tân Cảnh, Chu Pao, Tống Lê Chân, Đồi Thường Đức 1062, Đồng Tháp, U Minh, và còn rất nhiều địa danh khác, đã được tô đậm trong trang chiến sử bằng máu của Người Lính VNCH. Hai mươi năm chinh chiến, là hai mươi năm Người Lính dựa lưng nỗi chết, từng giây, từng phút. Người Lính dựa lưng nỗi chết dưới hằng trăm ngàn quả đạn pháo của quân thù trong suốt 69 ngày đêm, để chiếm lại từng tấc đất quê hương., từng căn nhà góc phố của người dân Thị Trấn An Lộc... sự hy sinh của Người Lính VNCH đã làm cho những dòng lệ của Cô giáo Pha rơi kết đọng thành hai câu thơ bất hủ: “An Lộc Địa Sử Ghi Chiến Tích. Biệt Cách Dù Vị Quốc Vong Thân”.

Trận chiến 510 ngày đêm của Tiểu đoàn 92 BĐQ bị bao vây bởi 2 Sư đoàn CSBV với nhiều đợt tấn công biển người của địch quân nơi ngọn đồi Tống Lê Chân, đã viết nên trang sử bi hùng của người Lính VNCH nói chung, về người anh hùng Lê Văn Ngôn nói riêng, vị Trung Tá trẻ tuổi nhất của QLVNCH, khi vừa đúng 25 tuổi đời. Người Lính dựa lưng nỗi chết, không còn nghe tầm đạn đi của viên đạn sau cùng nơi ngọn đồi máu 31 Hạ Lào, để lại sự tiếc thương của đồng đội và người đời sau mãi cất tiếng ca vang:

Anh không chết đâu anh,
người anh hùng đỏ tên Đương,
tôi vẫn thấy đêm đêm
một bóng dù sáng trên đồi máu....


Người Lính dựa lưng nỗi chết nơi chiều rừng xanh bão lửa Charlie, không bao giờ trở lại với đơn vị cho dù là trở về trong hòm gỗ cài hoa, Trung Tá Tiểu đoàn Trưởng Nguyễn Đình Bảo và gần 500 chiến sĩ thuộc Tiểu đoàn Song Kiếm Trấn Ải đã vĩnh viễn ở lại Charlie, những chiến sĩ Mũ Đỏ đã trở về từ cõi chết đau thương nghẹn ngào vẫy tay tạ từ Charlie. Hàng chục ngàn Người lính dựa lưng nỗi chết vĩnh viễn trong cơn bão lửa của Mùa Hè Đỏ Lửa, nơi Cổ Thành Quảng Trị, để cho những người bạn đồng đội dựng ngọn cờ chiến thắng vào ngày 16-09-1972. Và từng nẻo quê hương vang lên bài hùng ca chiến thắng bằng máu và nước mắt:

Cờ bay cờ bay oai hùng trên thành phố thân yêu
vừa chiếm lại đêm qua bằng máu,
cờ bay cờ bay tung trời ta về với quê hương,
từng con đường quân ta tiến về.

Ta ôm nhau mắt lệ nghẹn ngào,
qùy hôn đất thân yêu,
Quảng Trị ơi chào quê hương giải phóng,
hồi sinh rồi này mẹ, này em,
vui hôm nay qua đêm đen
tìm thấy ánh mặt trời.

Đi lên, đi lên trên hoang tàn ta xây dựng ngày mai,
nhà vươn lên, người vươn lên,
quân dân xây tin yêu đời mới...
dắt nhau về,
anh đưa em về Gio Linh, Cam Lộ, Đông Hà...
sạch bóng thù, đồng hân hoan quân dân vui vang câu hát tự do.


Lễ Kỷ niệm cuối cùng của ngày Quân Lực 19-06 là ngày 19-06-1973, được tổ chức trang nghiêm và hùng tráng trên Đại Lộ Trần Hưng Đạo ngay giữa lòng Thủ đô Miền Nam với sự tham gia đông đảo Quân Dân Cán Chính VNCH. Tổng Tư Lệnh Quân Đội Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, trong bài diễn ngắn đã long trọng tuyên dương toàn thể những đơn vị QLVNCH, đại diện cho những đoàn quân chiến thắng. Những cá nhân xuất sắc đại diện cho những quân binh chủng xuất sắc, những cấp chỉ huy xuất sắc đại diện cho toàn thể quân đội anh hùng, tôi long trọng tuyên dương toàn thể quân lực chiến thắng và anh hùng. Tôi nghiêng mình kính cẩn trước các anh em đã hy sinh, lời thăm hỏi các anh em thương bệnh binh đang điều trị, các anh em đang ghìm tay súng trên khắp nẻo đường đất nước, các anh em trở về từ ngục tù CS, gởi thăm các cựu chiến binh, và chị quả phụ trên toàn quốc.... Nhân dân ghi ơn tất cả các bạn, đất nước hãnh diện nơi các bạn.... Và ông mất đi để lại một câu nói bất hủ: “Đừng Nghe Những Gì CS Nói. Mà Hãy Nhin Kỹ Những Gì CS Làm”.

Trong những ngày khoác chiến y. Người Lính VNCH, chẳng những dựa lưng nỗi chết trên chiến trường, mà còn dựa lưng nỗi chết ngay cả mỗi nơi, mỗi lúc, khi mà bọn đầu cơ chính trị quay cuồng múa may ở hậu phương, bọn Sinh viên phản chiến như Huỳnh Tấn Mẫm, Nguyễn Minh Triết, Hạ Đình Nguyên, Nguyễn Công Khế... xách động biểu tình tiếp tay cho bọn CS phá nát hậu phương. Đau thương hơn Người Lính dựa lưng nỗi chết có khi đã chết đến 3 lần thịt da nát tan. Như cố Đại Tá Nguyễn Đình Bảo, như Trung úy Thiết Giáp Mũ Đen Bắc Đẩu Nguyễn Ngọc Bích, nơi chiến trường La Vang Quảng Trị:

Người tên Bắc Đẩu chết trận La Vang, lượm xác 3 lần Ngọc Bích cũng tan,
chỉ còn vì sao thôi,
chỉ còn vì sao thôi,
cuộc đời dài mươi năm,
người vội về xa xăm...
”.

Hay Người Lính mang mộng ước gì khi dựa lưng nỗi chết giữa: “Rừng Lá Thấp” nơi chiến trường Bình Lợi, và Người Lính ra đi vĩnh viễn không trở về với bạn bè, đồng đội, để được nghe từ máy thu thanh vang lên:

Sao không hát cho những người còn mãi mê,
lá rừng che kín đường về phồn hoa,
không hát cho những bà mẹ từng đêm nhớ con xa,
hay hát cho những người vừa gục xuống chiều qua....


Người Lính dựa lưng nỗi chết trên sóng nước trùng khơi, trên sông rạch chằng chịt nào đó và họ không có cơ hội nhìn lại:

Trùng khơi gió nổi lên,
lênh đênh triền sóng lắc lư con tàu đi...


Hay:

Phi đạo chạy dài anh cất cánh bay lên.
Ngã nghiêng cánh chim
con tàu xé trời và xa thành phố rồi...
”.

Người Lính dựa lưng nỗi chết khi bay vào vùng trời lửa đạn, và trong một lần tiếp ứng cho đơn vị bạn, anh đã bay vào vùng miên viễn, không có ánh chiều rơi, không gian chợt tối. Không còn dịp thắt lại chiếc khăn ấm do bàn tay vợ hiền đan cho. Người Lính dựa lưng nỗi chết nơi sông hồ kinh rạch, trầm mình sình lầy, ngập cả thân mình trong màn đêm âm u dày đặc nơi Đặc Khu rừng Sát, Rừng Già U Minh, để tiêu diệt những kẻ đi xâm lăng, gây tang tóc trên mảnh đất mẹ thân yêu.

Người Lính mỉm cười chấp nhận mọi gian nan, cực khổ, nguy hiểm nhất, với một mộng ước ước hiền hòa đơn sơ là mang sự bình yên cho quê hương. Mỗi trang chiến sử đã dược viết bằng bao sinh mạng, máu xương và một phần thân thể của Người Lính VNCH. Bộ Quân Sử oai hùng của QLVNCH đã được viết bằng máu của những người trai thời loạn, trên mảnh khăn tang của những thân nhân của họ, và của cả Quốc Gia Miền Nam Việt Nam bằng 4 chữ: “Tổ Quốc Ghi Ơn”. Rồi ngày 30-04-1975, khi các thế lực chính trị xóa bàn làm lại, Quốc gia VNCH bị hy sinh, QLVNCH bị bức tử. Những người lính bị lùa vào các Trại tập trung, còn gọi là: “Địa Ngục Máu”, được che đậy bằng ngôn từ hoa mỹ: “Học Tập Cải Tạo”, biết bao Người Lính vĩnh viễn nằm lại trên đồi sắn, bìa rừng.... Người còn sống trở về với thân xác tiều tụy, bệnh hoạn, khô kiệt vì ăn đói, lao động khổ sai. Trở ra nhà tù lớn, Người Lính còn đau đớn hơn khi nhà cửa bị chiếm đoạt, vợ con bị cưỡng bức vào tuyệt lộ nơi: “Vùng Kinh Tế Mới”, bởi sự trả thù, gian ác, Người Lính lại tiếp tục bị chà đạp trên lề đường, trên những chiếc xích lô. Hai mươi năm chinh chiến, những năm dài lê bước qua những Trại Tập Trung khủng khiếp nhất của CS, từ Nam ra tới Bắc sau khi tàn cuộc chiến. Có gian nan nào, cực khổ, hiểm nguy nào mà Người Lính VNCH chưa trải qua, có cái chết nào Người Lính chưa từng đối diện. Người Lính Miền Nam chỉ xót thương người dân lành vô tội Miền Nam, vì sống dưới khung trời tự do Miền Nam, mà phải chịu chung sự trả thù hèn hạ của kẻ chiến thắng.

Sau những tháng ngày Sống Không Bằng Chết, Người Lính được Chính Phủ và Nhân Dân Hoa Kỳ, qua sự vận động của những người đồng hương qua trước, đã cho họ được định cư tại Hoa Kỳ theo diện tị nạn. Gĩa từ cuộc sống vong quốc ngay chính trên quê hương mình, nơi mà mình đã đem tuổi thanh xuân, sinh mạng, máu xương để chống giữ bảo vệ. Bây giờ phải uất hẹn, lìa xa, sống cuộc đời viễn xứ:

Sài Gòn ơi! Tôi xin hứa rằng tôi trở về,
người tình ơi, tôi xin giữ trọn mãi lời thề,
dù thời gian có là một thoáng đam mê,
phố phường vạn ánh sao đêm,
nhưng tôi vẫn không bao giờ quên...


Kỷ niệm 48 năm Ngày Quân Lực 19-06, nhắc đến những chiến công lẫy lừng của QLVNCH trong chiến sử, nhắc đến những bi thương khổ nhục sau khi nước mất vào tay CS. Chúng ta không thể nhắc đến một binh chủng diện địa, bảo vệ an ninh lãnh thổ, và các cơ sở vật chất của Chính quyền và Quân đội, để các Binh chủng Chủ lực và Tổng Trừ Bị an tâm mở những cuộc hành quân qui ước, chống lại đoàn quân xâm lược CS Phương Bắc, được Khối CS Quốc tế trang bị vũ khí tối tân đến tận răng. Đó là Binh chủng ĐPQ & NQ. Tôi đã có hai bài viết: “Địa Phương Quân Trong Chiến Tranh Giữ Nước” và: “Người Lính ĐPQ Lê Phi Ô”. Nay trở lại đề tài này, như phần bổ túc thêm và dẫn nhập cho cuộc phỏng vấn của Đài Việt Today ở San José, Bắc Cali, với hai cán bộ ĐPQ & Nghĩa Quân ưu tú Lê Phi Ô, thuộc Tiểu Khu Bình Tuy và Trần Điềm ở Đức Phổ Quảng Ngãi. DVD này được Huynh trưởng Lê Phi Ô gởi cho, khi tôi đang chuẩn bị lên đường đi cấp cứu ở Bệnh viện:

Sở trường của ĐPQ & NQ là đánh du kích, triệt tiêu hạ tầng cơ sở địch, trong Chiến dịch Phượng Hoàng, họ là binh chủng cung cấp tình báo nhiều nhất, chính xác nhất, đồng thời cũng là đơn vị trực tiếp triển khai hành quân thanh lọc, phục kích để tiêu diệt du kích Việt Cộng, và lực lượng địa phương: Huyện, Xã của địch. Vì sống gần dân (ĐPQ), trong dân (NQ), nên họ nhận được nhiều tin tức tình báo qúy giá về sự xâm nhập của quân CS vào trong Xã, Ấp, những thói quen di chuyển nên các cuộc đột kích của ĐPQ & NQ dễ thành công. Trong thế phòng thủ, đối đầu với các đơn vị chủ lực CS, các chiến sĩ ĐPQ & NQ cũng đã đánh nhiều trận ngoạn mục bẻ gãy các cuộc tấn công bằng xe tăng, có pháo binh yểm trợ của quân chủ lực CSBV. Trong công tác Bình Định Phát Triển họ là thành phần xuất sắc góp phần trong chính sách của Quốc Gia, như bảo vệ anh ninh Ấp Chiến Lược, Tân Sinh, luật Người Cày Có Ruộng. Trong công tác chiêu hồi kết quả có trên 200,000 cán binh CS về hồi chánh để trở về với đại gia đình dân tộc. Trong cuộc chiến chống giữ Quê hương của QLVNCH trước cuộc xâm lăng của CSBV, cũng như phá rối trị an của bọn du kích CS, còn gọi là Việt Cộng (VC). Lực lượng diện địa bao gồm ĐPQ & NQ đảm nhận trách nhiệm lớn lao là bảo vệ làng xã, thị xã, tỉnh lỵ, đô thị, trường học, cầu cống, quốc lộ, tỉnh lộ, trục lộ giao thông, đường sắt, các công trình quan trọng, như Đập Thủy Điện Đa Nhim, Nhà Đèn Chợ Quán, v.v.

Có bảo vệ an toàn nông thôn, thì hậu phương thành thị mới yên ổn để phát triển, nếu thất bại ở nông thôn, sẽ bị CS bao vây, khủng bố. Chúng ta thử nghĩ hậu cứ các đại đơn vị VNCH ở Thủ đô Sài Gòn, Huế, Cần Thơ... sẽ ra sao nếu không có vòng đai nông thôn do lực lượng ĐPQ & NQ bảo vệ. Ngoài ra hàng ngàn công trình xây dựng Quốc Gia sẽ ra sao, nếu không có sự bảo vệ ngày đêm của lực lượng diện địa ĐPQ & NQ, để các đơn vị Chủ lực rảnh tay hành quân lưu động tảo trừ CS. Nhưng bất công cho họ từ trước 1975, báo chí và truyền thông Sài Gòn gần như quên lãng họ, và nay ở xứ người cũng vậy xem họ là đơn vị thứ yếu trong QLVNCH.

Trong khi đó, chỉ với những lời tường thuật khiêm nhường trên Đài Việt Today của hai cán bộ ưu tú ĐPQ Lê Phi Ô và cán bô NQ Trần Điềm, mới thấy lực lượng ĐPQ & NQ đã góp một phần không nhỏ trong chiến tranh bảo vệ Miền Nam, mà họ và các chiến sĩ trong đơn vị đã trở thành những Anh Hùng không tên tuổi. Đây có lẽ là một cuộc phỏng vấn ít oi của cơ sở truyền thồng hải ngoại, dành cho các cán bộ ĐPQ & NQ. Phải chăng vì những chiến công của họ đã vượt thời gian được mọi người nhắc nhở đến bây giờ. Hãy thử đọc buổi phỏng vấn để biết tâm tư và quãng đời chiến đấu của họ:

1) Đại Úy Lê Phi Ô, Tiểu đoàn Trưởng, Tiểu đoàn 344/ĐPQ, Tiểu khu Bình Tuy:

Tuổi ấu thơ sống cùng gia đình ở Gia Định, Gò Vấp, đầu năm 1963, theo tiếng gọi của núi sông lên đường nhập ngũ. Tốt nghiệp Khóa 15 Trường Võ Khoa Thủ Đức, gốc Quân Báo. Nhưng không thích làm việc ở văn phòng, tình nguyện xin ra đơn vị tác chiến, phục vụ 13 năm trong quân đội tính đến năm 1975. Năm 1964, lúc đang phục vụ trong Ngành Quân Báo, đã chỉ huy Trung đội Quân báo thuộc Long Điền, Bà Rịa. Trong một lần đột kích Núi Dinh, Trung đội QB đã tiêu diệt 5 Việt cộng và tịch thu một số vũ khí, từ chiến công mở màn này đơn vị QB do Lê Phi Ô chỉ huy đã liên tục tiêu diệt và bắt sống nhiều cán binh CS hoạt động trong khu vực trách nhiệm.

Hồi tưởng bi hùng và cũng khốc liệt nhất, khi Tiểu đoàn 344/ĐPQ, thuộc Tiểu Khu Bình Tuy do anh chỉ huy đã anh dũng giữ vững Chi Khu Hoài Đức. Trong 33 ngày đêm bị vây hãm với quân số gấp bội, gồm 1 Sư đoàn VC tân lập, một trung đoàn địa phương của CS từ Sông Mao tăng cường, và các đơn vị đặc công được coi là tinh nhuệ của CS. Trận đánh này sau được Thiếu Tá Nguyễn Hữu Chế, anh hùng của SĐ18BB đã viết cuốn sách: “Võ Đắt Trong Biển Lửa”. Trước đó Phòng 2 BTTM và Quân đoàn III cho biết ý đồ của CSBV tung quân đánh Tánh Linh, Võ Đắt, nhằm cầm chân các đơn vị tiếp ứng cho Mặt trận Phước Long. Nếu không chiếm được Phước Long, họ sẽ đánh chiếm Võ Đắt, Định Quán, làm bàn đạp tấn công Long Khánh, uy hiếp Thủ Đô Sài Gòn. Trước ý đồ này, Bộ TTM đã điều một đơn vị trừ bị Liên đoàn 7/BĐQ vào Ấp Chính Tâm 2. Trong khi đó Tiểu đoàn 344/ĐPQ đang giữ an ninh trục lộ 333, được lệnh rút quân về phòng thủ Chi Khu Hoài Đức. Riêng Chi Khu Tánh Linh được tăng cường một Tiểu đoàn ĐPQ thuộc Tiểu Khu Long An, bị thất thủ vào đêm Giáng Sinh 1974, vị Tiểu đoàn Trưởng bị bắt. Riêng Liên đoàn 7 BĐQ sau một thời gian quần thảo với quân CS, đã bị tổn thất đáng kể. Sư đoàn 18BB, cho tăng cường một Thiết đoàn, mới vào vùng hành quân đã có 2 Thiếu Tá tử trận trước hỏa lực khủng khiếp của địch.

Với sự khốc liệt của trận chiến, Bộ TTM cho Liên đoàn 7/BĐQ lui binh để bổ sung quân số và tái huấn luyện. Chi Khu Tánh Linh thất thủ, LĐ7/BĐQ lui binh, các đơn vị của CS dồn nỗ lực vào việc đánh chiếm BCH-CK Hoài Đức, với diện tích bằng nửa sân banh, mà mỗi ngày phải hứng chịu từ 500 đến 2,000 các quả đạn pháo các loại. Có nhiều khi đêm xuống, các đơn vị CS tràn ngập Chi Khu, rồi để sáng hôm sau quân ta phản công lấy lại. Khi qua đến Mỹ đọc được tài liệu của Nhà biên khảo Nguyễn Đức Phương, tôi mới biết nỗ lực chính tấn công là Sư đoàn 6 tân lập dưới quyền chỉ huy của Thượng Tướng Trần Văn Trà. Trận chiến càng trở nên khốc liệt hơn, nếu không có kho chiến lợi phẩm gồm nhiều khẩu đại liên, mà Chi Khu chưa kịp giao cho Quân đoàn, nên đơn vị đã cầm cự được. Một kỷ niệm khó quên, một số sĩ quan Công giáo trong Tiểu đoàn 344/ĐPQ, thường xuyên cầu kinh. Một lần đi qua lô cốt, thấy các sĩ quan đọc kinh, tôi yêu cầu họ đọc nhỏ lại, sợ tác động đến tinh thần chiến đấu của binh sĩ. Mặc dù gia đình tôi đạo Phật, riêng tôi chỉ theo đạo thờ cúng Ông Bà, nhưng tôi có niềm tin vào tôn giáo trong giờ phút tuyệt vọng này. Tôi xin Trung úy Nghĩa, Sĩ quan CTCT Tiểu đoàn đọc kinh cầu nguyện dùm tôi. Thấy Trung úy Nghĩa mang xâu chuỗi với tượng thánh giá và tượng Đức Mẹ bằng nhôm, tôi đã xin tượng Đức Mẹ bỏ vào túi áo xin Ngài phù hộ cho tôi và đơn vị. Sau 33 ngày đêm tử thủ, các đơn vị pháo binh SĐ18BB đã bắn giải vây áp lực chung quanh Chi Khu Hoài Đức, cùng lúc 2 Trung đoàn của SĐ18BB đổ quân tiếp viện. Các binh sĩ trong TĐ344/ĐPQ đã rời bỏ giao thông hào đứng lên hò hét mừng rỡ, nước mắt chảy dài trên 2 gò má. Mặc dù lúc đó CS vẫn chưa ngưng pháo và tôi đã hò hét yêu cầu họ trở lại các giao thông hào.

Sau khi nước mất, tôi đã trải qua những Trại Tù như Long Giao, Suối Máu, Khám Chí Hòa và cuối cùng là Trại Trừng Giới A20. Sau 7 năm tôi đã bước qua địa ngục trần gian này, và tôi khẳng định bọn cai tù có thể làm cho Người Lính VNCH kiệt quệ về thân xác, nhưng không làm cho họ suy sụp về tinh thần. Trở về, tôi đã làm mọi nghề để tồn sinh, nhiều lần lang thang ở bãi biển, bị công an biên phòng khủng bố xua đuổi, nhưng ước nguyện rời bỏ quê hương vẫn nung nấu trong tôi. Năm 1988, tôi vượt biên thành công, định cư tại Thành phố San José, cũng bắt đầu làm việc từ hai bàn tay trắng, nay đã về hưu hơn 4 năm. Nhìn thấy một số Người Lính, Người Tù sau khi an cư lạc nghiệp nơi xứ người, lại bắt đầu vượt biên ngược trở về VN, du hí quên hẳn quá khứ tủi nhục của mình, góp phần nuôi sống chế độ phi nhân. Năm 1974, VNCH chỉ cần 300 triệu đô la để bảo vệ quê hương mà không có. Hiện nay mỗi năm CSVN nhận được 10 tỷ đô la, từ nhiều nguồn lợi từ nước ngoài gởi về, trong đó hẳn không thiếu những người bị chúng giam cầm sỉ nhục sau năm 1975.

2) Cán Bộ Nghĩa Quân Trần Điềm:

Sinh năm 1930 tại Quảng Ngãi, nhân viên dân sự làm việc trong Tỉnh đoàn Bảo An, với chức vụ Phó Phòng Chiến Tranh Chính Trị. Sau cuộc đảo chánh 1-11-1963, các Tướng Lãnh ra lệnh phá bỏ hệ thống phòng thủ nông thôn, còn gọi là Ấp Chiến Lược, và thả toàn bộ tù nhân chính trị, trong đó có nhiều Cán bộ Tình báo cao cấp, cũng như nằm vùng của Cộng sản. Lợi dụng tình hình chính trị Miền Nam rối loạn do việc một số Tướng Lãnh dùng quân đội giành giật ảnh hưởng, và quyền lợi chính trị, nông thôn bỏ ngõ.... CSBV ra lệnh tái tổ chức các đơn vị du kích nhằm chiếm lại địa bàn quan trọng là nông thôn. Bên cạnh đó, đa số các quân nhân trong hàng ngũ Dân Vệ (sau gọi là Nghĩa Quân) rã ngũ về làm ăn sinh sống như là dân thường. Được lệnh của Chi Khu Đức Phổ Quảng Ngãi, tôi về tận các vùng nông thôn, kêu gọi tái ngũ và nhập ngũ các đơn vị Dân Vệ. Đa số các Dân Vệ đã tái ngũ, vì không muốn sống dưới sự khủng bố của CS, mặc dù lương Dân Vệ lúc đó chỉ có $300.00VND, không có quân phục, giày, vớ, có nhiều Dân Vệ chiến đấu mà chân mang dép, vũ khí được trang bị thô sơ, mãi đến sau này mới được trang bị súng Carbin M1, M2. Vì những thiệt thòi kể trên nên số lượng Nghĩa quân đã hy sinh nhiều trong lúc chiến đấu.

Những kỷ niệm khó quên: Với chức vụ Phó Phòng CTCT, tôi còn được giao nhiệm vụ phát lương cho anh em Nghĩa quân. Từ Thị xã đi vào qua cầu Phú Lợi, địa điểm phát lương là một tiệm hớt tóc, mỗi lần như vậy, tôi thường làm việc thật nhanh để anh em NQ trở về khu vực trách nhiệm an ninh và tuần tiễu. Trong một lần phát lương có một thanh niên mở ghế ngồi của xe Vespa của tôi bỏ vào một vật gì đó, khả nghi, NQ Trần Hòa đến mở ra thì đó là trái lựu đạn được cột giây thun (cao su) một cách lỏng lẻo, sẽ phát nổ khi người lái xe ngồi lên. Tên thanh niên đó nhanh chóng bị bắt, thì ra đó là một du kích Việt cộng, bị đưa ra tòa, kết án 8 năm lưu đày ngoài Côn Đảo. Bên cạnh Tiệm hớt tóc có một quán bán cà phê, thức ăn và thức uống, đáng lẽ trong những dịp như vậy là cơ hội cho họ buôn bán. Nhưng bán được nửa buổi, lấy cớ bị bệnh, cô chủ quán đóng cửa. Thấy khả nghi nên các NQ theo dõi, thì thấy cô chủ quán úp chiếc nón lá trong quán, bị bắt và điều tra, thì được biết cô là một cán bộ nằm vùng CS, dấu hiệu úp nón là bảo: “Tối nay các anh về”. Vì cô nghĩ rằng sau khi lãnh lương, các NQ sẽ lơ là trong việc canh gác và phòng thủ, ý đồ của CS là đem hơn 3 Trung đội về chận ở Phú Lợi, không cho NQ tiếp ứng cho 2 xã Du Xuân và Du Quang. Tương kế tựu kế, các Trung đội Trưởng NQ đã cho phục kích, kết quả 3 Trung đội CS bị đánh tan, đa số chết và bị thương, ta tịch thu rất nhiều vũ khí. Chính Tư Lệnh Quân đoàn I Tướng Hoàng Xuân Lãm, đến tận nơi khen gợi và gắn huy chương cho anh em NQ. Kỷ niệm thứ 2 là đọc được bút ký của Không quân Hà Phương, sĩ quan Hỏa Long C47, với tựa: “Tám chú rùa nhỏ”, kể về 8 NQ ở Cai Lậy đã tử thủ ở một lô cốt với 8 cây súng và một thùng lựu đạn, với sự yểm trợ hỏa lực của Hỏa Long C47, đã đẩy lui một Trung đoàn CS. Cai Lậy cũng là nơi xảy ra vụ pháo kích vào một Trường Tiểu học, làm cho gần 100 em học sinh vừa chết, vừa bị thương. Nên có câu thơ:

Trường Tiểu học Cai Lậy năm nào
Việt cộng pháo kích máu trào đầy sân...
”.

Số phận của các Nghĩa Quân sau khi mất nước: Đã có khoảng 30 Trung đội Trưởng NQ ở Quảng Ngãi đã tự sát. Anh hùng nhất là Trần Hùng Bá trước là NQ sau chuyển ngành qua Cảnh Sát, Cộng sản bao vây và kêu gọi anh đầu hàng, đáp trả là anh tung lựu đạn giết chết 2 VC, sau đó tự sát. Với hành động anh dũng trong chiến tranh, không khuất phục khi nước mất. Tên gọi Nghĩa Quân, nên đổi lại là Nghĩa Dũng Quân.

Trong không khí kỷ niệm 48 năm Ngày Quân Lực 19-06, người viết xin ghi lại đôi dòng để vinh danh một quãng thời gian chiến đấu Bảo Quốc An Dân của QLVNCH. Cùng những trận đánh oai hùng của những chiến sĩ ĐPQ & NQ, qua lời kể chân thực của Người Lính ĐPQ Lê Phi Ô, và Cán bộ NQ Trần Điềm. Những hình ảnh anh dũng đó sẽ sống mãi trong lòng người dân Việt yêu chuộng Tự Do, Dân Chủ trong và ngoài nước.



NGƯỜI XỨ NGHỆ
  

Bấm vào đây để in ra giấy (Print)

HÌNH NỀN: Đồng ruộng Miền Trung Cao nguyên Nam phần

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Nguồn: Internet E-mail by Lê-Phi-Ô chuyển

Đăng ngày Thứ Năm, May 31, 2013
Ban Kỹ Thuật Khóa 10A-72/SQTB/ĐĐ, ĐĐ11/TĐ1ND, QLVNCH