Bắc đẩu tinh

 

Hồi ký chiến trường
BIỆT ĐỘNG QUÂN
TRÊN CHIẾN TRƯỜNG QUẢNG TRỊ - 1972

Bấm vào đây để in ra giấy (Print)

      

 

Lời Tác giả: Kính thưa quý vị,

Cách đây bốn mươi hai năm, cùng với An Lộc và Kon Tum, đồng bào tỉnh Quảng Trị đã trải qua một biến cố đầy kinh hoàng do Cộng sản quốc tế gây ra. Từ ngày 30 tháng 3 đến 16 tháng 9 năm 1972, toàn tỉnh Quảng Trị trở thành một bãi chiến trường, được coi như tột đỉnh của “chiến tranh quy ước” vào thời đó, kẻ trực tiếp gây thảm họa là lính đánh thuê Cộng sản Hà Nội, và địch cũng xác nhận, họ là kẻ: ....“đánh cho ông Liên Xô, đánh cho ông Trung Quốc.”

Để ngăn chận sóng đỏ ở “Vùng Hỏa Tuyến”, chính phủ Việt Nam Cộng Hòa đã làm những gì mình có để cứu dân và giữ nước. Bộ Tổng Tham Mưu Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đưa ra lực lượng ưu tú nhất của mình gồm: Hải Quân, Không Quân, Thiết Giáp, Pháo Binh, Thủy Quân Lục Chiến, Nhảy Dù, Biệt Động Quân... Đã có cả trăm ngàn người trai nước Việt thay nhau ra trận, chiến đấu với cộng sản quốc tế trên chiến trường Quảng Trị vào năm 1972, trong đó có chúng tôi, những người may mắn còn sống lúc nhiều đồng đội đã ra đi.

Là những người có một thời gắn bó với chiếc Mũ Nâu, từng có những tháng ngày cam go qua vài mặt trận ở tỉnh Quảng Trị, chúng tôi thường tìm đọc các bài viết nói về chiến trường này vì một phần đời mình đã trải qua ở đây, một chiến trường đẫm máu và đẫm lệ. Phần lớn các bài viết chúng tôi đã tìm đọc là của quý chiến hữu người Việt cũng như Mỹ thuộc Hải Quân, Không Quân, Thiết Giáp, Thủy Quân Lục Chiến, Nhảy Dù, Biệt Động Quân, v.v. còn lại là từ các vị có những biên khảo đặc biệt về các biến cố quân sự ở Việt Nam, bằng Việt ngữ và Anh ngữ. Chúng tôi rất biết ơn công trình trí tuệ của quý vị và nhận lỗi đã trích dẫn nhưng không xin phép trước.

Muốn viết cho tạm đầy đủ (hoặc một phần nào đó) về các Liên Đoàn 1, 4, 5, 6, và 7 Biệt Động Quân ở Quảng Trị năm 1972, và nếu chỉ tìm kiếm trong sách, báo, tài liệu, v.v. thì chúng tôi chẳng thể làm được nếu không có các chứng nhân, là những chiến sĩ Biệt Động Quân từng xông pha trên chiến trường này. Hôm nay, 42 năm sau trận chiến đó, hầu hết các vị mà chúng tôi thăm hỏi đều có chung một nỗi niềm: “Nay kể lại vì đây là một trách nhiệm trước lịch sử, hy vọng thế hệ kế thừa sẽ có thêm dữ kiện để từ đó làm sáng tỏ những gì bị quên lãng, cũng như bị xuyên tạc và bóp méo lịch sử của Cộng sản Việt Nam. Kể lại chẳng phải vì Danh Dự cá nhân hay màu cờ sắc áo của binh chủng mình, mà vì Trách Nhiệm, vì sự thương nhớ đến những đồng đội các cấp đã ra đi trong âm thầm, và nhớ thương các đồng đội nay vẫn thầm lặng sống tản mạn khắp bốn phương trời, danh tính và sự dấn thân vì Tổ Quốc của rất nhiều chiến sĩ vô danh đang bị lãng quên trong lịch sử”.

Qua những bài viết của nhiều tác giả, tài liệu chính thức, v.v. nói về Biệt Động Quân ở Quảng Trị năm 1972, chúng tôi có rất ít dữ kiện, chi tiết, v.v. nói đến Biệt Động Quân tại chiến trường này, mặc dù Bộ Tổng Tham Mưu đã tăng cường cho Quảng Trị tất cả 5 Liên Đoàn Biệt Động Quân là 1, 4, 5, 6, và 7. Điều thiếu sót đó làm chúng tôi rất bức rức trong lòng, đây là một khoảng trống quan trọng trong quân sử QLVNCH nói chung và chiến trường Quảng Trị nói riêng. Từ sự trăn trở và ray rức đó, ngoài những gì đã tham khảo thì chúng tôi giúp nhau liên lạc, tìm kiếm những Biệt Động Quân từng chiến đấu ở Quảng Trị năm 1972. Hầu hết các vị mà chúng tôi thăm hỏi nay dù tuổi đời đã cao, sức khỏe có hạn nhưng vẫn kiên nhẫn bỏ ra nhiều giờ kể lại những gì mình còn nhớ. Từng câu chuyện được kể lại từ mỗi người, về 42 năm trước trên một chiến trường khốc liệt, hôm nay có thể sai, có thể đúng bởi vị trí và trách nhiệm của mỗi người người khác nhau dù cùng trên một chiến trường, nhưng điều đó không quan trọng. Quan trọng là các vị ấy cố nhớ và kể lại là điều rất đáng trân quý. Chúng tôi chỉ là người lắng nghe, ghi chép, so sánh, đối chiếu tài liệu tham khảo và tổng hợp lại để có bản văn này. Chuyện đúng hay sai hãy để cho người đọc dựa vào đó tìm hiểu thêm sự thật, giúp làm sáng tỏ các chi tiết, dữ kiện, diễn tiến, v.v. về chiến trường Quảng Trị năm 1972.

Chúng tôi xin trân trọng biết ơn những vị sau đây hết lòng góp tâm sức cho bài viết này:

Trần Kim Đại, Hoàng Phổ, Hồ Văn Hạc, Nguyễn Văn Gio, Lại Thế Thiết, Quách Thưởng, Đỗ Đức Chiến, Nguyễn Văn Măng, Giang Văn Xẻn, Trần Tiễn San, Kăng Tum Sơn, Hà Kỳ Danh, Nguyễn Văn Nam, Hà Mai Khuê, Nguyễn Trung Tín, Đỗ Văn Nai, Trần Văn Quy, Huỳnh Lập Quốc, Nguyễn Ngọc Ấn, Trần Thy Vân, Hồ Công Bình, Võ Văn Hiền, Dương Xuân, Trần Thương Quảng, Đỗ Minh Hưng, Bùi Quang Thắng.

Nếu chúng tôi có ghi thiếu danh tính của vị nào thì xin được tha lỗi. Hy vọng sẽ có người lên tiếng đính chánh, bổ xung thêm những thiếu sót sau khi đọc bài viết này. Nếu được như vậy cũng chính là sự mong mỏi của chúng tôi và của những người trong cuộc.

BĐQ Đỗ Như Quyên.

 

oOo

 

Phần 1: SÓNG ĐỎ TRÀN BẾN HẢI - CUỐI THÁNG 3 NĂM 1972

 

Khoảng 11 giờ trưa ngày 30-03-1972, quân Cộng sản Bắc Việt từ bờ Bắc sông Bến Hải bất ngờ đồng loạt pháo kích vào phía Nam vùng "Phi Quân Sự" của Việt Nam Cộng Hòa.

Pháo binh của địch tập trung khoảng 250 súng đại bác và hơn 200 giàn hỏa tiễn, bắn vào 17 trong tổng số 23 căn cứ phòng ngự, căn cứ hỏa lực lớn - nhỏ và 4 thị trấn dân cư là Cửa Việt, Gio Linh, Cam Lộ, Đông Hà từ phía Bắc kéo dài qua hướng Tây tỉnh Quảng Trị.

Suốt bốn giờ liền, Cộng sản Bắc Việt (CSBV) đã bắn gần 4,000 đạn đại bác 122ly, 130ly, 152ly và hỏa tiễn 122ly (loại giàn phóng “Katyusha” đặt trên xe với 4 hộp chứa), sau 24 giờ, địch đã bắn hơn 11,000 quả đạn các loại. Những căn cứ và địa điểm quân sự của Trung đoàn 2, Trung đoàn (TrĐ) 57/Sư Đoàn 3 Bộ Binh, Địa Phương Quân, Nghĩa Quân, v.v. ở hướng Đông Bắc và chính Bắc đều bị pháo kích nặng nề. Cùng lúc đó, căn cứ hỏa lực Tân Lâm (tên cũ Carroll) của Trung đoàn 56/SĐ3BB, căn cứ Mai Lộc của Lữ Đoàn 147/Sư Đoàn Thủy Quân Lục Chiến (TQLC) ở phía Tây và Tây Nam - Đông Hà cũng bị đạn pháo địch vùi dập.

Khói lửa ngút trời ở những căn cứ như Alpha-1, A-2, A-3, A-4 (Cồn Thiên), A-5, Charlie-1 (nơi đặt BCH Trung đoàn 57/BB), C-2, C-3, Gio Linh, Đông Hà, Cam Lộ, Fuller, Khe Gió, Tân Lâm (Đồi 241, tên cũ Carroll), Mai Lộc, Sarge, Holcomb, Núi Bá Hộ, v.v. Phần lớn công sự chiến đấu ở những vị trí nêu trên đều bị hư hại nặng trong đợt pháo kích phủ đầu của địch. Lực lượng pháo binh (105, 155, 175ly) gần như bị vô hiệu hóa trong 24 giờ đầu. Không thể phản pháo vì khoảng cách chênh lệch nên giảm khả năng yểm trợ, các đơn vị tuyến đầu phải chiến đấu trong tình thế vô cùng bất lợi (đại bác 105ly bắn xa 11km, 155ly - 15km, 175ly – 32km, đại bác 122ly của Cộng sản bắn xa 16km, 130ly – 27km; 152ly – 24km, hỏa tiễn 122ly bắn xa 25km).

 

 

Các hướng tấn công của CSBV vào tỉnh Quảng Trị cuối tháng 3 năm 1972

 

Mức độ bắn phá dữ dội, kéo dài nhiều giờ liền của Cộng sản Bắc Việt làm dân chúng kinh hoàng tháo chạy trong hỗn loạn. Chiều ngày 30-03, đã có khoảng 50,000 người dân chạy trốn khỏi tầm pháo của Cộng sản, trên Quốc Lộ 9 và Quốc Lộ 1 đầy những đoàn người hớt hãi tìm cách thoát về thị xã Quảng Trị ở phía Nam. Quốc Lộ (QL) 1 và QL9 từ Gio Linh (Bắc), Cửa Việt (Đông), Cam Lộ (Tây) về Đông Hà (Nam) nhiều nơi bị gián đoạn vì sự hòa lẫn giữa người chạy nạn (và chạy theo) với các đơn vị đang chuyển quân. Nhiều xe cộ dân sự trúng đạn bốc cháy, xác người nằm rải rác hai bên đường và tiếng khóc la vang dậy khắp nơi.

Sau hai mươi bốn giờ pháo kích dai dẳng, bộ binh CSBV bắt đầu cùng xe tăng (T-54, T-59, PT-76) xua quân tràn tới giữa khói lửa ngút trời ở phía Bắc tỉnh Quảng Trị nghèo nàn và khốn khổ.

Ngày 31-03, các căn cứ tuyến đầu của SĐ3BB và TQLC đều bị tấn công, từ A-1 đến Gio Linh ở phía Bắc cho tới căn cứ Sarge và Núi Bá Hộ về hướng Tây, nhưng phòng tuyến các nơi này vẫn giữ vững sau nhiều đợt tấn công bằng biển người của địch.

Ngày 1-04, quân Cộng sản gia tăng các cuộc tấn công bằng pháo binh và biển người vào những căn cứ A-1, A-2, A-3... các đơn vị ở đây được lệnh phải bỏ căn cứ rút quân về Nam - Đông Hà lập tuyến án ngữ khẩn cấp. Những toán chuyên viên về Không Trợ, Hải Pháo của Việt lẫn Mỹ tại những vị trí quan trọng trong vùng đã được trực thăng đến giải cứu đưa về Đông Hà và Ái Tử. Căn cứ hỏa lực A-4 (Cồn Thiên), căn cứ Fuller của Trung đoàn 2 do Trung tá Huỳnh Đình Tùng làm Trung đoàn Trưởng, căn cứ hỏa lực Khe Gió/Trung đoàn 57 của Trung tá (TrT) Nguyễn Hữu Cương sau nhiều lần bị tấn công cũng buộc phải rút quân về phía Nam lập tuyến phòng ngự. Đây là những căn cứ phòng thủ, căn cứ hỏa lực thứ nhất của SĐ3BB rơi vào tay quân Cộng sản sau 48 giờ đầu của cuộc xâm lăng.

Chiều ngày 1-04, sau nhiều lần chống trả mãnh liệt các cuộc tấn công của địch, cánh quân B của TĐ4/TQLC do Tiểu Đoàn Phó là Thiếu tá Nguyễn Đăng Hòa chỉ huy đã triệt thoái khỏi căn cứ Núi Bá Hộ. Lúc 3 giờ sáng ngày 2-04, cánh quân A của TĐ4/TQLC chỉ huy bởi Thiếu tá (ThT) Trần Xuân Quang cũng triệt thoái khỏi căn cứ Sarge cùng với viên cố vấn TĐ4 là Thiếu tá Walter Boomer. Sau đó toàn bộ TĐ4/TQLC về lập phòng tuyến tại căn cứ hỏa lực Mai Lộc, nơi đặt BCH Lữ Đoàn 147/TQLC do Trung tá Nguyễn Năng Bảo làm Lữ Đoàn Trưởng, Mai Lộc nằm về phía Nam căn cứ Tân Lâm khoảng 3km. Cũng trong ngày 1-04, trước mức độ pháo kích khốc liệt của địch vào Ái Tử, Chuẩn tướng Vũ Văn Giai lệnh cho BCH Tiền Phương SĐ3BB trong căn cứ Ái Tử dời về bờ Nam sông Thạch Hãn. Khoảng 8 giờ tối ngày 1-04, dưới ánh sáng vàng rực của hỏa châu, lực lượng phòng thủ bờ Nam sông Miếu Giang báo động có xe tăng địch xuất hiện bên kia cầu Đông Hà. Khi chiếc T-54 dẫn đầu xuất hiện ngay đầu dốc đã bị bắn hạ bởi chiến xa M-48. Chiếc PT-76 phía sau cố lách qua tiến tới cũng bị TQLC bắn cháy bằng súng chống chiến xa XM-202. Hai chiếc thiết giáp này làm đoàn xe địch ở phía sau không thể tiến lên được. Trong đêm 1-04, địch đã cho nhiều nhóm đặc công cố vượt sông Miếu Giang, nhưng TQLC đã tiên liệu được chuyện này nên cho những toán quân nhỏ tuần tiễu dọc bờ sông, hầu hết các toán xâm nhập của địch đều bị bắn chết lúc còn đang bơi hoặc bị bắt sống lúc vừa lên bờ.

Ngày 2-04, khoảng 11 giờ trưa xuất hiện hai đoàn xe tăng của địch khoảng 28 chiếc tiến về thị trấn Đông Hà: Ở hướng Bắc, trên Quốc Lộ 1 có 10 chiếc PT-76 và 14 chiếc T-54 cùng lính bộ binh nhốn nháo chạy theo sau. Nơi hướng Đông dọc theo bờ Bắc sông Miếu Giang có 4 chiếc PT-76 cũng tiến về Đông Hà. Tiểu Đoàn 3/TQLC, Thiếu tá Lê Bá Bình làm Tiểu Đoàn Trưởng (TĐT) và Thiếu tá Trần Kim Đệ Tiểu Đoàn Phó (TĐP), đang phòng ngự ở đây được lệnh giữ vững Đông Hà cùng Chi Đoàn 1/Thiết Đoàn 20/Chiến Xa (M-48) do Đại úy Đặng Hữu Xứng làm Chi Đoàn Trưởng (Thiết Đoàn 20CX do Trung tá Nguyễn Hữu Lý làm Thiết Đoàn Trưởng). Một toán chống chiến xa với bốn đại bác không giật 106ly gắn trên bốn xe jeep, cũng được TĐ 6/TQLC từ Ái Tử đưa lên tăng cường cho TĐ3/TQLC (hai Thiết Đoàn 17/Kỵ Binh và 20/Chiến Xa thuộc Lữ Đoàn I/Kỵ Binh, do Đại tá Nguyễn Trọng Luật làm Tư Lệnh. Riêng Thiết Đoàn 20, vì có tới 44 chiến xa M-48 nên thiết đoàn này dự trù thành lập riêng một đại đội bộ binh cơ hữu với 270 quân nhân. Đại đội bộ binh này sẽ được chia cho mỗi chi đoàn 90 người, thường xuyên đi theo bảo vệ những chiếc M-48 ở bất cứ nơi đâu).

Vào lúc này, bầu trời quanh vùng Đông Hà mây mù che phủ cùng với mưa nhẹ, và địch cũng mong được như thế. Khi thiết giáp và bộ binh CSBV xuất hiện ở Bắc – Đông Hà chừng 1,500 thước (1.5km) thì một bức tường hỏa lực dày đặc đã được tung ra từ Thiết Giáp, Pháo Binh và Hải Pháo. Trước hỏa lực quá mạnh và chính xác của lực lượng phòng thủ, đội hình địch bắt đầu hỗn loạn với những chiếc xe tăng chạy từng nhóm rời rạc và bỏ lính bộ binh xa phía sau. Chiến xa M-48 với nòng súng 90ly và ống viễn vọng kính (máy nhắm mục tiêu, điều chỉnh từ xa) vào lúc này ở tầm xa 1,500 thước đã bắn tỉa từng chiếc xe tăng địch một cách dễ dàng. Khoảng 1 giờ chiều, bầu trời bỗng nhiên sáng tỏ với một màu xanh, đúng lúc đó các khu trục cơ A-1, AD-6 từ phi trường Đà Nẵng kịp bay đến truy kích các chiến xa còn lại của địch. Cuộc tấn công của quân Cộng sản vào Đông Hà bằng pháo binh, thiết giáp, bộ binh đã bị thất bại rất nhanh, và bị chận đứng từ xa. Kết quả: 9 chiếc PT-76 và 2 chiếc T-54 bị xe tăng M-48 của Chi Đoàn 1 bắn hủy từ khoảng cách từ 1,000 đến 1,500 thước, 4 chiếc PT-76 ở hướng Đông cũng bị hải pháo triệt hạ. Không quân bắn cháy 12, trong đó có 5 chiếc T-54 bị triệt hạ bởi Đại úy Trần Thế Vinh của Phi Đoàn 518/Sư Đoàn III/Không Quân (tăng phái cho SĐ I/Không Quân. Phi Đoàn 518 có danh hiệu Phi Long 518, do Thiếu tá Lê Quốc Hùng làm Phi Đoàn Trưởng). Chiếc khu trục của Đại úy Trần Thế Vinh bị trúng đạn phòng không 12.7ly bên cánh trái, buộc phải rời chiến trường về đáp an toàn ở Đà Nẵng. Cuộc tấn công của địch vào Đông Hà bị thảm bại sau khi chiếc PT-76 duy nhất còn lại bỏ chạy về hướng Bắc. Riêng về thiết giáp, đây là lần đầu T-54 và PT-76 của Cộng sản Bắc Việt gặp chiến xa M-48, nhưng địch chưa kịp thấy nòng đại bác 90ly của nó thì đã bị bắn hạ. Cục diện chiến trường xảy ra nhanh đến nỗi viên chỉ huy thiết giáp của Cộng sản hốt hoảng điện báo về BCH: Đơn vị xe tăng của ông ta bị triệt hạ từ những vị trí không thể nhìn thấy!

Khoảng 3 giờ chiều, mây mù trở lại bao phủ một cách bất lợi cho lực lượng phòng thủ quanh Đông Hà. Mưa tuy nhỏ nhưng trần mây xám phủ sát mặt đất, cản trở tầm nhìn của máy bay quan sát nên Không Quân chẳng thể yểm trợ. Lợi dụng vào thời tiết đó, địch đã cho thiết giáp mở đợt tấn công thứ hai vào Đông Hà nhưng lần này bị cản lại bởi một người là Trung sĩ Huỳnh Văn Lượm, thuộc Đại Đội 1/TĐ3/TQLC. Khi chiếc T-54 dẫn đầu lăn xích đến đầu cầu bờ Bắc thì đầu cầu phía Nam, Trung sĩ Huỳnh Văn Lượm bắn quả M-72 thứ nhất nhưng bị trượt bên hông xe. Viên đạn M-72 thứ hai được bắn tiếp nhưng cũng bị trượt hông pháo tháp. Bỗng nhiên chiếc T-54 này khựng lại rồi rú máy chạy lùi thật nhanh. Từ khoảnh khắc này, quân Cộng sản không tấn công qua hướng cầu Đông Hà nhưng gia tăng mức độ pháo kích về bờ Nam sông Miếu Giang. Để ngăn cản đà tiến quân của địch, cầu Đông Hà và cầu xe lửa (đã hư) bắc ngang sông Miếu Giang được phá hủy lúc 4 giờ 30 chiều bằng 300kg thuốc nổ của Công Binh/SĐ3, Đại úy John W. Ripley, cố vấn TĐ3/TQLC và Thiếu tá James E. Smock, cố vấn Thiết Đoàn 20/Kỵ Binh đã cố gắng làm chuyện này trong giờ phút căng thẳng nhất.

Trong hai ngày 1 và 2 tháng 4, sau nhiều lần tấn công vào căn cứ hỏa lực Tân Lâm (Carroll/đồi 241) nhưng thất bại, quân Cộng sản bắt đầu bao vây căn cứ này và không ngừng pháo kích vào đây để tạo áp lực tâm lý. Khoảng 9 giờ sáng ngày 2-04, Trung tá Nguyễn Văn Đính TrĐT Trung đoàn 56/BB triệu tập một cuộc họp Bộ Chỉ Huy Trung đoàn 56 và cấp chỉ huy các đơn vị tăng phái, nhưng các cố vấn cho Trung đoàn như Trung tá William Camper, Thiếu tá Joseph Brown không được thông báo để cùng dự họp. Những người tham dự buổi họp ngoài Trung tá Đính còn có: Trung tá Vĩnh Phong, TrĐ Phó Trung đoàn 56, Đại úy Nhơn Trưởng Ban 2 Trung đoàn 56, Đại úy Hoàng Quốc Thoại Trưởng Ban 3, Thiếu tá Nguyễn Văn Thế, Phụ tá Hỏa Lực (Pháo Binh), Đại úy Hoàng Trọng Bôi Pháo Đội Trưởng PĐ 175ly PB Quân Đoàn I, Trung úy Lê Văn Kiểu PĐT PĐ-B (105ly)/Tiểu Đoàn 2 PB/SĐ3BB, Thiếu tá Tôn Thất Mãn TĐT TĐ1/Trung đoàn 56 (là người trong buổi họp lên tiếng phản đối đầu hàng), Đại úy Nguyễn Văn Tâm, PĐT PĐ-B (105ly)/TĐ1PB/TQLC (Trung đoàn Trọng Cảo TĐT), Thiếu úy Thái Thanh Bình Chi Đội Trưởng CĐ-1/Chi Đoàn 2/Thiết Đoàn 11KB. Trong cuộc họp, Trung tá Đính cho biết tình thế rất tuyệt vọng. Ông ta sẽ đầu hàng để cứu cả ngàn binh sĩ không bị tàn sát bởi đạn pháo của quân Cộng sản. Những người phản đối đầu hàng, trong đó có các cố vấn Mỹ, buộc phải tự tìm cách thoát thân khi một tấm vải trắng được treo lên cao ngoài hàng rào. Để tăng thêm áp lực tâm lý cho những người trong căn cứ Tân Lâm, Trung đoàn 38/Pháo Binh (Trung đoàn pháo “Bông Lau”) của địch cho đại bác 130ly, hỏa tiễn 122ly bắn khoảng 240 viên đạn vào căn cứ Mai Lộc của TQLC. Chỉ có khoảng 30 quân nhân cùng các cố vấn Mỹ được một trực thăng CH-47 sau khi tiếp tế đạn cho Mai Lộc đã đến giải cứu. Khoảng 400 người khác tự mở đường máu thoát thân, trong đó có quân nhân Thiết Giáp, các pháo thủ của TQLC và PB/QĐI. Khi căn cứ Tân Lâm rơi vào tay quân Cộng sản, ngoài Trung tá Đính còn có Trung tá Vĩnh Phòng, Thiếu tá Tôn Thất Mãn và khoảng 1,000 quân nhân bị kẹt lại, thì Tân Lâm còn đưa vào tay địch 22 súng đại bác các loại, trong đó có 4 đại bác 175ly PB/QĐI và 6 đại bác 105ly của TQLC.

Lúc nhận được tin căn cứ hỏa lực Tân Lâm đã vào tay giặc thì căn cứ hỏa lực Mai Lộc của TQLC ở phía Nam - Tân Lâm cũng đang bị pháo kích dồn dập. Bộ Chỉ Huy LĐ 147/TQLC ở đây nhận định khi Tân Lâm đã mất thì Mai Lộc sẽ là mục tiêu kế tiếp, nếu bị tấn công sẽ thiệt hại nặng vì đã mất hỏa lực yểm trợ từ căn cứ Tân Lâm. Đêm 2-04, BCH LĐ 147 ở căn cứ Mai Lộc cho pháo binh bắn hết số đạn còn lại, phá hủy súng rồi cùng TĐ 2 Pháo Binh (Thiếu tá Đặng Bá Đạt TĐT) và TĐ4/TQLC băng rừng về hướng QL1 phía Nam - Đông Hà (hai ngày sau, Lữ Đoàn 258/TQLC ra thay thế, LĐ 147 được đưa vô Huế tái bổ xung và trang bị, ngày 23 tháng 4 Lữ đoàn này ra trận đánh tiếp). Cũng trong ngày 2-04, TĐ 6/TQLC ở căn cứ Holcomb, trước mức độ tấn công của địch cũng được lệnh triệt thoái về căn cứ Phựợng Hoàng (Pedro) hướng Tây Nam căn cứ Ái Tử khoảng 7km.

Chiều ngày 2-04, Chuẩn tướng Vũ Văn Giai, Tư Lệnh Sư Đoàn 3/BB cho thiết lập tuyến phòng thủ di động khẩn cấp từ khu vực Nam - Đông Hà đến Tây - Ái Tử, kéo dài từ bờ Nam sông Miếu Giang đến bờ Bắc sông Thạch Hãn, đồng thời Bộ Chỉ Huy Tiền Phương của sư đoàn ở căn cứ Ái Tử cũng hoàn tất việc dời về Bộ Tư Lệnh (Trại Đinh Công Tráng) trong cổ thành, ngoại ô thị xã Quảng Trị, Thiết Đoàn 11 Kỵ Binh cơ hữu của SĐ3 do Trung tá Nguyễn Văn Tá chỉ huy thì bảo vệ toàn khu vực thị xã. Trung đoàn 2/SĐ3BB của Trung tá Huỳnh Đình Tùng nhận lệnh về bảo vệ Đông Hà cùng TQLC và Thiết Đoàn 20 Chiến Xa, Trung đoàn 57/BB của Trung tá Nguyễn Hữu Cương trước đó cũng được lệnh rút quân khỏi Gio Linh về lập tuyến phòng ngự từ bờ Nam sông Miếu Giang, từ Đông Hà ra Cửa Viêt. Riêng Thiết Đoàn 17KB của Trung tá Nguyễn Xuân Dung (?) thì cùng Lữ Đoàn 258 TQLC của Đại tá Ngô Văn Định và TĐ3 Pháo Binh/TQLC của Thiếu tá Trần Thiện Hiệu được lệnh trấn giữ quanh căn cứ Ái Tử, thiết lập các vị trí án ngữ ở căn cứ Phượng Hoàng phía Tây Nam - Ái Tử.

Lữ Đoàn 369/TQLC do Đại tá Phạm Văn Chung chỉ huy, từ ngày 1-04 đã nhận lệnh sẵn sàng cho chiến trường mới. Ngày 2-04, toàn bộ Lữ Đoàn (LĐ) 369/TQLC được không vận ra Phú Bài với nhiệm vụ: Thiết lập một tuyến ngăn chận ở phía Nam thị xã Quảng Trị khoảng 10km, chu vi khu vực phòng thủ này rộng khoảng 200km2 bao gồm những căn cứ Anne, Jane, Barbara, Nancy, v.v. Phòng tuyến này cũng được coi là nơi tập trung các nhu cầu tiếp vận cho chiến trường phía Bắc Quảng Trị. Tuyến án ngữ của LĐ 369 bắt đầu từ bờ Nam - Cầu Đá trên sông Nhùng của thôn Trường Phước, xã Hải Trường quận Hải Lăng, mở rộng vô hướng Tây – QL1 khoảng 4km, từ đây rải quân vòng về bờ Bấc cầu Mỹ Chánh, thuộc xã Mỹ Chánh quận Phong Điền. Lúc LĐ 369/TQLC tới Phú Bài khoảng 12 giờ trưa, đã có hơn 200 xe “GMC” các loại của Quân Vận thuộc Bộ Chỉ Huy 1/Tiếp Vận của TQLC và SĐ1BB... được huy động và chở trọn LĐ 369/TQLC đến vị trí lúc 2 giờ chiều trong ngày 2-04-1972.

 

oOo

 

Phần 2: BIỆT ĐỘNG QUÂN VÀ TUYẾN ÁN NGỮ PHÍA TÂY - QUẢNG TRỊ THÁNG 4, 1972

 

Ngày 3-04, Bộ Tổng Tham Mưu tăng cường cho mặt trận Quảng Trị:

(1) Liên Đoàn 5/BĐQ với ba Tiểu Đoàn 30, 33, 38: Trung tá Ngô Minh Hồng Liên Đoàn Trưởng, Liên Đoàn Phó Trung tá Lê Văn Hòa. Liên đoàn này đang hành quân ở hướng Tây Bắc tỉnh Tây Ninh thì nhận lệnh khẩn cấp tập trung về căn cứ Trảng Lớn trong vòng ba giờ, sau đó toàn liên đoàn được Sư Đoàn 3/Không Quân không vận ra phi trường Phú Bài khoảng 7 giờ tối trong ngày. Suốt đêm 3-04, Liên Đoàn 5 BĐQ được xe Quân Vận (BCH 1/Tiếp Vận) đưa đến căn cứ Hòa Mỹ (tên cũ Camp Evans) nằm sát bên trái QL1, phía Bắc thành phố Huế khoảng 24km để được trang bị bổ xung tối đa.

(2) Liên Đoàn 4/BĐQ: với hai Tiểu Đoàn 43 và 44: Liên Đoàn Trưởng Trung tá Lê Hưng Phê, Thiếu tá Nguyễn Hạnh Phúc Liên Đoàn Phó, Y sĩ Trưởng Trung úy Phạm Đăng Hương. Liên Đoàn 4 cũng đang hành quân nơi hướng cực Bắc tỉnh Prey Veng, Cam Bốt thì được lệnh vượt biên giới về tập trung tại Thiện Ngôn (nơi gần nhất ở vị trí hành quân). Từ đây xe Quân Vận đưa đoàn quân này đến phi trường Trảng Lớn, cùng họp chung với BCH LĐ 5, nhận đặc lệnh hành quân và bản đồ tỉnh Quảng Trị. Suốt đêm 3-04, máy bay vận tải C-130 của Sư Đoàn 3/Không Quân đã đưa Tiểu Đoàn 43 và 44 và BCH LĐ 4/BĐQ đến Phú Bài (riêng TĐ 42/LĐ 4 của Thiếu tá Đặng Hữu Lộc TĐT, Đại úy Giang Văn Xẻn TĐP thì ở lại Cam Bốt vì đang bảo vệ bến phà Neak Loeung ở cực Nam tỉnh Prey Veng). Sáng sớm ngày 4-04, TĐ 43/BĐQ tạm thời chuyển quân tới đóng dọc bờ sông Hương ở khúc thôn Vỹ Dạ, hướng Đông thành phố Huế khoảng 2km. TĐ 44 và BCH LĐ 4/BĐQ tạm thời vào Trung Tâm Huấn Luyện Đống Đa gần Phú Bài, khoảng 16km phía Nam - Huế và cách Đông Hà khoảng 76km.

(3) Ngày 4-04, Liên Đoàn 6/BĐQ với ba Tiểu Đoàn 34, 35, 51: Trung tá Trịnh Văn Bé LĐT, Thiếu tá Đào Trọng Vượng LĐP, Đại úy Phùng Thanh Sơn Trưởng Ban 3. Liên đoàn này được không vận cùng một ngày với Thiết Đoàn 18 (Lữ Đoàn III/KB) từ phi trường Biên Hòa. Lực lượng của LĐ 6 đến Phú Bài khoảng 3 giờ chiều và cũng tạm đóng quân trong Trung Tâm Huấn Luyện Đống Đa. Tiểu Đoàn 34/BĐQ: TĐT Thiếu tá Đỗ Văn Mười, Đại úy Trịnh Trân TĐP. TĐ 35/BĐQ: Thiếu tá Huỳnh Thiên Mạng TĐT, Đại úy Lê Văn Đễ TĐP. TĐ 51/BĐQ: Thiếu tá Hoàng Vĩnh Thái TĐT, Đại úy Đinh Trọng Cường TĐP (ba ngày sau, toàn LĐ 6/BĐQ được đưa ra phía Nam căn cứ Hòa Mỹ khoảng 1km. Riêng TĐ 51 thì tăng phái cho Sư Đoàn 1/BB, được đưa tới căn cứ Hoàng Đế (tên cũ căn cứ hỏa lực King), Tây Bắc - Huế khoảng 25km thay thế một tiểu đoàn của Trung đoàn 1/SĐ1BB. Trong bốn ngày ở căn cứ này, TĐ 51 BĐQ đã hứng chịu những đợt pháo kích nặng nề của địch. Ngày 12-04, toàn bộ LĐ 6/BĐQ cùng ba TĐ34, 35, 51 trở lại Phú Bài và được không vận đến Pleiku, tăng cường cho chiến trường Cao Nguyên ở Quân Khu II).

(4) Cũng trong ngày 4-04, Thiết Đoàn 18/Kỵ Binh (thuộc Lữ Đoàn 3/KB) do Trung tá Bùi Văn Lộc làm Thiết Đoàn Trưởng cũng được không vận từ Biên Hòa đến Phú Bài, đơn vị kỵ binh (M-113) này cũng tạm phòng thủ trong Trung Tâm Huấn Luyện Đống Đa với BĐQ (TĐ 18/Kỵ Binh do được điều động khẩn cấp nên để lại một chi đoàn ở mặt trận An Lộc, thay vào đó, một chi đoàn M-41 của Thiết Đoàn 15/Kỵ Binh được tăng cường cho Thiết Đoàn 18 để cùng ra Quảng Trị).

(5) Ngày 5-04, Liên Đoàn 1/BĐQ do Trung tá Lê Phú Đào làm LĐT đang hành quân ở Quảng Ngãi cũng được lệnh khẩn cấp ra QL1. Quân Vận của SĐ 2/BB được huy động để chở hai Tiểu Đoàn 21 và 37 ra quận Mai Lĩnh nhận trách nhiệm bảo vệ hướng Tây – Tây Nam thị xã Quảng Trị (riêng Tiểu Đoàn 39/BĐQ của Thiếu tá Lại Thế Thiết (Tây Thi) thì được giữ lại bảo vệ Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn I (Trại Nguyễn Tri Phương) ở ngoại ô phía Nam thành phố Đà Nẵng. LĐ 1/BĐQ ra Quảng Trị lần này chỉ có LĐT, chức LĐP còn để trống. Hai vị tiền nhiệm trước đó là Trung tá Lê Bảo Toàn LĐT, Thiếu tá Nguyễn Hiệp LĐP thuyên chuyển về Quân Khu III cùng một lần, Trung tá Lê Phú Đào nhận chức không lâu thì đơn vị ra Quảng Trị).

(6) Ngày 6-044, Đại tá Trần Công Liễu, Chỉ Huy Trưởng Bộ Chỉ Huy Trung ương Biệt Động Quân nhận lệnh ra Huế lập Bộ Chỉ Huy Tiền Phương của Biệt Động Quân (quyết định này từ Bộ Tổng Tham Mưu chỉ có tính cách tượng trưng hơn là vì nhu cầu thực tế của chiến trường. Chưa từng có một vị Chỉ Huy Trưởng nào của binh chủng BĐQ, từ BCH Trung ương đến BCH ở Quân Khu được quyền điều động, soạn thảo kế hoạch hành quân, v.v. riêng cho các đơn vị của mình, từ cấp tiểu đoàn tới liên đoàn đang có ở bốn quân khu. Đại tá Trần Công Liễu cũng không ngoại lệ.

Trong đồn Mang Cá, Thành Nội Huế, lúc đó nơi đặt các Ban Tham Mưu của Bộ Tư Lệnh Tiền Phương/Quân Đoàn I, Bộ Tư Lệnh SĐ1BB, BTL SĐTQLC thì rất bận rộn, căng thẳng với tình hình Quảng Trị và phía Tây - Thừa Thiên. Một BCH Tiền Phương lẻ loi của BĐQ ở nơi quan trọng như vậy, nhưng không có quyền tham mưu gì về bốn Liên Đoàn 1, 4, 5, 6 BĐQ (LĐ 7 chưa ra) của mình thì BCH này đã được lập ra không đúng nơi, không đúng với khả năng của nó. Vài ngày sau Đại tá Trần Công Liễu vào BCH BĐQ/Quân Khu I (Trại Hoàng Hoa Thám ở Non Nước) tại Đà Nẵng thì Đại tá Nguyễn Đức Khoái, CHT BĐQ/Quân Khu I đã ra Quảng Trị. Bộ Chỉ Huy Tiền Phương BĐQ chỉ có trên danh nghĩa, thật sự không được thiết lập nên danh xưng này cũng không còn được nói đến từ ngày 12-04, lúc Đại tá Trần Công Liễu theo LĐ 6/BĐQ lên Pleiku rồi ông về Sài Gòn. Cuối tháng 4 đến giữa tháng 5, Đại tá Trần Công Liễu đã trở ra Huế để đi thăm và khích lệ tinh thần các đơn vị BĐQ tại Quân Khu I).

 

oOo

 

Sáng ngày 4-04, Liên Đoàn 5/BĐQ cùng Thiết Đoàn 17/KB từ căn cứ Hòa Mỹ bắt đầu tiến quân ra Đông Hà tăng phái cho Lữ Đoàn 1/KB của Đại tá Nguyễn Trọng Luật. Ngày 6-044, Liên Đoàn 4/BĐQ và Thiết Đoàn 18/Kỵ Binh cũng từ Đống Đa (Phú Bài) ra phía Nam - Đông Hà để tăng phái cho Lữ Đoàn 1/Kỵ Binh. Hai Liên Đoàn 4 và 5 BĐQ phối hợp với hai Thiết Đoàn 17 và 18/Kỵ Binh thay thế Lữ Đoàn 147/TQLC và Trung đoàn 57/BB ở tuyến đầu. Vào lúc này, bên kia bờ Bắc sông Miếu Giang có 11 căn cứ đã rút bỏ, 53 súng đại bác các loại đã phá hủy trước khi bỏ lại cho quân địch.

* Bộ Chỉ Huy LĐ 5/BĐQ gồm có: LĐT Trung tá Ngô Minh Hồng (danh hiệu truyền tin là 78), Trung tá Lê Văn Hòa: Liên Đoàn Phó (không lâu sau đó ông tử trận trên trực thăng ở Sầm Giang), Thiếu tá Steel cố vấn trưởng và một Đại úy là cố vấn phó cho liên đoàn. Trưởng Ban 1: Đại úy Trần Văn Bá, Trưởng Ban 2: Đại úy Nguyễn Văn Đông, Trưởng Ban 3: Đại úy Nguyễn Văn Thọ, Phụ tá Ban 3: Đại úy Nguyễn Văn Ngôn, Trưởng Ban 6 (Truyền Tin): Đại úy Lâm Văn Xê, Trưởng Trung Tâm Hành Quân kiêm Liên Lạc Không Trợ: Trung úy Hồ Công Bình, Y sĩ Trưởng Liên Đoàn: Trung úy Nguyễn Ngọc Ấn, Trung Đội Vận Tải (trước năm 1971 cấp đại đội): Đại úy Đặng Văn Thạnh, Trung Đội Công Binh (trước năm 1971 cấp đại đội): Trung úy Thắm (thế Thiếu tá Nghi ĐĐT, ĐĐP là Đại úy Khiêm), Đại Đội Trinh Sát Liên Đoàn 5: Trung úy Lê Văn Thu Đại Đội Trưởng, Trung úy Đỗ Minh Hưng Đại Đội Phó.

* Đơn vị đi đầu của LĐ 5 là TĐ30/BĐQ do Thiếu tá Võ Mộng Thúy (Thủy Tiên) làm TĐT, Đại úy Nguyễn Văn Nam (Hoàng Sa) là TĐP (TĐ30/BĐQ trong năm 1971 là đơn vị chiếm giải đầu của cấp tiểu đoàn xuất sắc nhất toàn quân).

Lúc tới thị trấn Đông Hà, TĐ30 BĐQ cùng Chi Đoàn 1 (15 chiếc M-48) thuộc Thiết Đoàn 20 Chiến Xa do Đại úy Đặng Hữu Xứng làm Chi Đoàn Trưởng rời QL1 tiến về hướng Tây, trục tiến quân của đơn vị này nằm phía Nam QL9 khoảng 2km. Khi tới gần Hương Lộ 559, cách Đông Hà khoảng 6km về hướng Tây, TĐ30/BĐQ và CĐ1 Chiến Xa dàn quân trên những đồi sim theo trục Bắc–Nam. Ba đại đội cùng hai chi đội chia nhau trấn giữ các ngọn đồi, vị trí xa nhất từ BCH khoảng hơn 1km. Đại đội còn lại và một chi đội thì bảo vệ BCH TĐ30/BĐQ và BCH CĐ1 trên Đồi Quai Vạc, ngọn đồi cao nhất ở vùng Động Lôn. Phòng tuyến này nằm về phía Đông Nam – Cam Lộ khoảng 4km và hướng Nam – QL9 khoảng 2km, kéo dài đến thượng nguồn sông Vĩnh Phước ở phía Nam.

* Tiểu Đoàn 38/BĐQ do Thiếu tá Vũ Đình Khang (Alpha) làm TĐT, TĐP Đại úy Trần Đình Tự, cùng Chi Đoàn 2 (M-113; TĐ 18/KB) của Đại úy Nguyễn Ngọc Bích (Bắc Đẩu) phòng thủ ở phía Nam TĐ30, tính từ bờ Nam thượng nguồn sông Vĩnh Phước (sông này chảy qua cầu Vĩnh Phước trên QL1, nằm giữa Đông Hà và Ái Tử trước khi nhập với sông Thạch Hãn ở hướng Đông).

* TĐ 33/BĐQ do Thiếu tá Hà Kỳ Danh làm TĐT, Đại úy Nguyễn Hồng Quang làm TĐP được giao trách nhiệm bảo vệ thị trấn Đông Hà, phòng tuyến trải dài về hướng Tây thị trấn này khoảng 2km, Chi Đoàn 3 (M-48) của TĐ 20 Chiến Xa do Đại úy Đoàn Chí Sanh làm CĐT được tăng cường cho TĐ 33/BĐQ (riêng Đại Đội Trinh Sát 5 thì bảo vệ BCH LĐ 5/BĐQ và BCH Thiết Đoàn 20CX ở hướng Tây Nam - Đông Hà khoảng 3km. Hai chi đoàn chiến xa của TĐ 20 cùng phòng thủ chung với LĐ 5/BĐQ ở khu vực quanh Đông Hà được chỉ huy tổng quát bởi Thiếu tá Hoàng Kiều, Thiết Đoàn Phó TĐ 20/KB (Chi Đoàn 2 TĐ 20 Chiến Xa của Đại úy Phạm Quang Anh làm CĐT, Đại úy Hà Mai Khuê là CĐP thì trấn giữ quanh khu vực căn cứ Ái Tử, nơi đặt BCH LĐ 1/KB; BCH LĐ 258/TQLC của Đại tá Ngô Văn Định LĐT và Trung tá Đỗ Đình Vượng LĐP. Trước đó một ngày (3 tháng 4), Đại úy Phạm Quang Anh tử trận, Đại úy Hà Mai Khuê lên làm CĐT Chi Đoàn 2 Chiến Xa). Vào lúc này, BCH Tiền Phương SĐ3BB đã rời Ái Tử cùng với các cố vấn của sư đoàn. Tuy nhiên tại Trung Tâm Hành Quân trong Ái Tử vẫn còn những cố vấn (Team 155) cấp quân đoàn như Thiếu tá David Brookbank (cựu phi công B-52 lo về Không Trợ), Thiếu tá Joel Eisentein (Hải Pháo), ThT J. F. Neary (Truyền Tin Yểm Trợ), và Thiếu tá Jon Easley cố vấn cho LĐ 258/TQLC, v.v.).

* Ngày 6-04, Liên Đoàn 4/BĐQ với hai Tiểu Đoàn 43 và 44 do Trung tá Lê Hưng Phê làm LĐT, Thiếu tá Nguyễn Hạnh Phúc LĐP, Y sĩ Trưởng Trung úy Phạm Đăng Hương được Thiết Đoàn 18/KB của Trung tá Bùi Văn Lộc (Đại Lộc) đưa ra rải quân lập phòng tuyến ở hướng Nam TĐ38/LĐ 5 khoảng 4km. Bộ Chỉ Huy LĐ 4/BĐQ và BCH TĐ 18/KB đặt ở bờ Bắc cầu Vĩnh Phước trên QL1.

* Tiểu Đoàn 43/BĐQ do Thiếu tá Kăng Tum Sơn làm TĐT, Đại úy Trần Hữu Danh TĐP, Đại úy Sơn Đos Trưởng Ban 3 vào lập tuyến phía Đông Nam căn cứ Tân Lâm khoảng 4km (Tây Bắc – Ái Tử khoảng 6km). Vị trí này không có thiết giáp yểm trợ, thay vào đó Lữ Đoàn 1/Kỵ Binh tăng cường một toán cố vấn về hải pháo và không trợ (rất tiếc không tìm được danh tính).

* Nối tiếp là TĐ 44/BĐQ của Thiếu tá Vũ Văn Thi cùng một chi đoàn M-113 của TĐ 18/KB đến trấn giữ căn cứ Phượng Hoàng, thế TĐ 1/TQLC của Thiếu tá Nguyễn Đằng Tống, Thiếu tá Đoàn Đức Nghi TĐP, cố vấn Đại úy Lawrence H. Livingston (Phượng Hoàng là một căn cứ có vị trí quan trọng, ở đây kiểm soát và ngăn chận đường vào thị xã Quảng Trị và căn cứ Ái Tử từ hướng Tây. Đến ngày 8-04, TĐ 44/BĐQ được lệnh rời căn cứ Phượng Hoàng để ra vị trí mới ở phía Tây cầu Vĩnh Phước, căn cứ Phượng Hoàng sẽ được TĐ 33/BĐQ đến thay thế. Tuy nhiên, lúc TĐ 33/BĐQ còn cách căn cứ Phượng Hoàng khoảng 2km thì được lệnh trở ra Đông Hà, TĐ 6/TQLC sẽ là đơn vị đến phòng thủ căn cứ này. TĐT TĐ 6/TQLC: Thiếu tá Đỗ Hữu Tùng là TĐT, Đại úy Nguyễn Văn Sử TĐP, cố vấn: Thiếu tá William Warren và Đại úy William Wischmeyer)

* Liên Đoàn 1/BĐQ từ Quảng Ngãi ra Quảng Trị tăng phái cho Bộ Tư Lệnh SĐ3BB với hai TĐ 21 và 37. Sau khi nhận hàng trăm quả mìn chống chiến xa ở chi khu Mai Lĩnh, liên đoàn này có trách nhiệm bảo vệ hướng Tây - Tây Nam thị xã Quảng Trị, dọc theo bờ Nam sông Thạch Hãn. BCH Liên Đoàn 1/BĐQ đặt tại nhà thờ La Vang với Trung tá Lê Phú Đào LĐT, Trưởng Ban 3 Đại úy Hồ Dzơn, Y sĩ Trưởng Trung úy Nguyễn Trung Tín.

* Tiểu Đoàn 21/BĐQ do Thiếu tá Quách Thưởng (Trùng Dương) làm TĐT, Đại úy Nguyễn Văn Gio (Giang Sơn) TĐP, Trung úy Trần Văn Quy (Bạch Mã) Trưởng Ban 3. Tiểu đoàn này đóng quân về hướng Nam – Hương Lộ 556, phía Tây nhà thờ La Vang khoảng hơn 3km, từ đây các đại đội lập tuyến phòng thủ kéo dài vào dãy đồi của Động Ông Đô.

* Tiểu Đoàn 37/BĐQ do Thiếu tá Võ Nhơn (Nam Hải) TĐT, Đại úy Nguyễn Cảnh Nguyên (Nam Tà) TĐP, Đại úy Phạm Thuận (Tam Phong) Trưởng Ban 3 thì lập phòng tuyến yểm trợ phía Nam TĐ 21 khoảng hơn 1km, kéo dài đến hướng Bắc căn cứ Barbara. (* Động Ông Đô là một dãy đồi thấp nằm theo trục Tây Bắc-Đông Nam, ở về hướng Tây Nam thị xã Quảng Trị khoảng 10km. Khu vực đồi nhỏ nhấp nhô này xen lẫn các khe, suối nhỏ và có rất nhiều các lùm cây thấp như sim, trâm, dẻ, bụi dây tơ hồng, v.v. mọc rải rác trên các đồi. Ngọn đồi trọc “trụi lủi” duy nhất và cao nhất ở đây là căn cứ hỏa lực Anne ở hướng Nam phòng tuyến TĐ 21/BĐQ, cao khoảng 275 thước. Căn cứ Anne vào lúc đó không có đơn vị nào phòng thủ, quân CSBV vẫn chưa chiếm).

 

 

Vị trí hai căn cứ Anne, Barbara ở Động Ông Đô
đường vào thung lũng Ba Lòng, đầu nguồn sông Thạch Hãn và sông Nhùng

 

Sau khi cầu Đông Hà bị phá sập quân Cộng sản quay vô hướng Tây, chiếm cầu Cam Lộ trên QL9 với toan tính xuống đánh cắt ngang tuyến phòng thủ của Thiết Giáp, BĐQ, TQLC. Để phá vỡ phòng tuyến này, quân địch đã huy động năm Trung đoàn bộ binh của hai SĐ 304 và 324, hai Trung đoàn chiến xa 203 và 204, hai Trung đoàn pháo binh 38 và 48... chia ra làm năm mũi tấn công vào vị trí TĐ 21, 30, 38, 43/BĐQ; TĐ 6/TQLC (tính theo trục từ Bắc xuống Nam).

Lúc 7 giờ sáng ngày 9-04, sau đợt pháo kích kéo dài suốt đêm, một đoàn xe tăng khoảng 25 chiếc và khoảng hai tiểu đoàn bộ binh từ QL9 tràn xuống tấn công vào vị trí TĐ 30/BĐQ ở Đồi Quai Vạc. Đơn vị của địch là Trung đoàn 88/SĐ 308/BB và Trung đoàn 202 Chiến Xa. Do bị phát giác từ xa dù sương mù còn bao phủ, đội hình của địch tuy ẩn hiện với đủ thứ “hoa lá cành” trên những đồi sim nhưng vẫn thấy rõ chiến xa địch dẫn đầu với khói xăng phun ra đen nghịt, bộ binh lúp xúp chạy theo sau. Thiếu tá Võ Mộng Thúy và Đại úy Nguyễn Văn Nam cho lệnh các đại đội vòng ngoài giữ vững vị trí phòng thủ, tập trung hỏa lực nhắm vào bộ binh, không được xung phong cận chiến để nhường xạ trường cho M-48 đối phó với T-54 của Cộng sản. Ngay phát súng thứ nhất ở khoảng cách hơn 1,500 thước, viên đạn 90ly từ nòng súng M-48 làm một chiếc T-54 bay pháo tháp và lăn xuống chân đồi, Chi Đoàn 1 Chiến Xa của Đại úy Đặng Hữu Xứng đã làm địch sững sờ mất vài giây sau phát súng mở màn. Quân địch bắt đầu hò hét om xòm và ôm súng chạy “khơi khơi” lên vị trí của BĐQ trên những ngọn đồi. Suốt bốn giờ liền, các tay súng BĐQ của TĐ 30 với hỏa lực cá nhân hùng hậu đã đè bẹp các đợt xung phong của địch. Trong khi đó, những chiếc M-48 quanh khu vực Đồi Quai Vạc thong thả bắn tỉa từng chiếc T-54 đang chạy tới từ phía xa. Khoảng 9 giờ sáng trên bầu trời bỗng có thêm ba chiếc phản lực A-37 đến trợ chiến đúng lúc. Khoảng 11 giờ trưa, tiếng gào thét từ quân Cộng sản không còn nghe nữa nhưng khói lửa từ 11 chiếc xe tăng T-54 đang bốc cháy thì thấy rất rõ, chưa kể 4 chiếc khác trên đường chạy trốn bị bắn hủy bởi phản lực A-37 của Không Quân. Khoảng 12 giờ trưa, đang lúc BĐQ và TG lo củng cố vị trí phòng ngự thì có ba chiếc xe tăng của địch bất ngờ từ dưới một khe suối rậm rạp phóng lên chạy vào phòng tuyến. Đây là ba chiếc T-54 bỏ trốn tìm chỗ nấp vào buổi sáng lúc những chiếc khác bị bắn cháy. Đợi tới khi không còn tiếng súng, ba chiếc này tìm cách tẩu thoát nhưng vì mất phương hướng nên chạy vô ngay BCH TĐ 30/BĐQ. Trong vòng năm phút, hai chiếc bị BĐQ bắn hạ bằng M-72, chiếc thứ ba vì sợ quá nên xa đoàn chạy trốn bỏ lại xe còn nổ máy. Ngay sau đó, chiếc T-54 mới toanh của Nga Sô được anh em Thiết Giáp lái đưa về Huế trưng bày ở Phú Văn Lâu. Đây là chiếc xe tăng T-54 thứ nhất do TĐ 30/LĐ 5 BĐQ tịch thu được ở chiến trường Quảng Trị (khi đưa về Phú Văn Lâu, vì LĐ 5 BĐQ là đơn vị tăng phái nên tấm bảng phía trước chiếc T-54 này ghi là của SĐ3BB tịch thu ở Cam Lộ).

 

 

Vị trí TĐ 30, 38/BĐQ và CĐ1/TĐ20CX bị tấn công ngày 9-04

 

Khoảng 2 giờ chiều ngày 9-04, quân Cộng sản quay lại hò hét xung phong lần thứ hai bằng biển người nhưng địch vẫn bị đẩy lui bởi hỏa lực của BĐQ và TG. Tổng kết chiến trưòng lúc 5 giờ chiều trong ngày: TĐ 30/BĐQ và CĐ 1 Chiến Xa có hơn 30 người tử trận, bị thương khoảng 50 người, 15 chiếc M-48 đều vô sự. Phía địch tổn thất gần 300 quân nằm quanh Đồi Quai Vạc, bắt sống 3 tù binh tuổi thiếu niên (khoảng 15–16), 11 chiếc T-54 bị M-48 bắn cháy, 4 chiếc khác do không quân bắn hủy, 2 chiếc bị triệt hạ và 1 tịch thu bởi BĐQ. Vũ khí các loại thu được 227 súng cá nhân và cộng đồng gồm AK-47, B-40, B-41; mười súng “thượng liên” 12.7ly (tương đương đại liên 50ly), 8 đại bác không giật 82ly (đại bác “sơn pháo” của Nga Sô).

Cũng trong ngày 9-04, khoảng 7 giờ 30 sáng địch tấn công vào vị trí TĐ 38/BĐQ sau khi pháo kích suốt đêm. Tại hướng này, quân Cộng sản không có chiến xa yểm trợ nhưng bộ binh đông khoảng ba tiểu đoàn của Trung đoàn 24/SĐ 304. Tuy nhiên địch không ngờ Thiếu tá Vũ Đình Khang và Đại úy Trần Đình Tự đã chia quân phòng thủ trên ba ngọn đồi liền, lập tuyến hình tam giác để có thể yểm trợ lẫn nhau. Tại mỗi vị trí đều được tăng cường một chi đội M-113 thuộc Chi Đoàn 2 (TĐ 18/KB) của Đại úy Nguyễn Ngọc Bích. Dù ở vào vị trí bất lợi là từ chân đồi chạy lên tấn công, quân Cộng sản vẫn điên cuồng xua quân tràn tới, dĩ nhiên địch bị đốn ngã dễ dàng từ hỏa lực cá nhân của BĐQ và đại liên 50ly của M-113. Sau ba lần xung phong bằng biển người nhưng vẫn bị đẩy lui, khoảng 2 giờ chiều quân địch phải bỏ chạy lúc lực lượng phòng thủ tung ra một cuộc phản công truy diệt. Quanh khu vực TĐ 38/BĐQ đầy những xác người của địch bỏ lại. Có khoảng 200 thiếu niên (tuổi từ 15 tới 17) miền Bắc đã bỏ mạng tại đây vì cấp chỉ huy điên cuồng là Cộng sản Bắc Việt. TĐ 38/BĐQ và CĐ 2/KB tịch thu khoảng hơn 150 súng các loại, trong đó có 3 súng cối 82ly, 8 đại bác không giật 75 và 82ly, 9 đại liên 12.7ly, v.v. Phía bạn tử trận 20 người, bị thương khoảng 50 người mà phần đông là do đạn pháo.

Lúc 7 giờ sáng ngày 9-04, sau một đêm bị pháo kích nặng nề như những nơi khác, TĐ 43/BĐQ bị địch tấn công cũng bằng chiến thuật biển người (vào tháng này, tuy ít mưa lớn nhưng hầu như vùng đất gần chân núi phía Đông dãy Trường Sơn ở tỉnh Quảng Trị, Thừa Thiên thường có sương mù dày đặc, bao phủ sát đất từ khoảng 5 giờ chiều đến 7-8 giờ sáng hôm sau. Sau giờ này sương mù có thể tan loãng ở gần mặt đầt, nhưng trên cao lại tụ những lớp mây thấp u ám nặng nề cùng với các cơn mưa phùn lạnh buốt cả người).

Cánh quân B với hai đại đội do TĐP Trần Hữu Danh chỉ huy là nơi bị tấn công trước. Dù quân địch nhiều lần cố tràn lên chiếm nơi đây nhưng liên tiếp bị đè bẹp trước sự gan lỳ của chiến sĩ TĐ 43/BĐQ. Khoảng 8 giờ sáng địch tung quân đánh luôn vào cánh quân A do TĐT Kăng Tum Sơn chỉ huy. Sau vài lần xung phong thảm bại, phía Cộng sản lùi quân xa khỏi tầm đạn để pháo binh bắn phủ đầu chừng nửa giờ vào quân bạn. Nhưng địch không ngờ, lúc buổi sáng do hai bên quá gần nên hải pháo không bắn được. Lần này do chạy lui hơi xa để tập trung quân, chờ xung phong lần nữa, thì cũng là lúc toán cố vấn yểm trợ hỏa lực đã điều chỉnh xong tọa độ cho hải pháo sẵn sàng. Khi vừa chấm dứt đợt pháo kích, địch đã gào thét hô xung phong vang dậy rồi đầy những bóng nguời từ phía Tây chạy tới... chỗ chết. Khi tiếng la hét xung phong của địch còn chưa ngưng thì đạn đại bác từ ngoài khơi bắn vào đã nổ vang khắp các nơi, và toàn loại đạn nổ chụp từ trên cao. Chỉ trong vòng 10 phút ngắn ngủi, bãi chiến trường nơi đây không còn nghe tiếng la hét, chỉ còn thấy xa xa thưa thớt những bóng người chạy lảo đảo về phía Tây. Hải pháo cũng ngưng bắn lúc quân phòng thủ cho các toán quân nhỏ ra “thu dọn” chiến trường, một viên Thượng sĩ của địch chấp nhận đứng lại đầu hàng vì quá sợ hãi không chạy nổi. Ngày hôm sau và hôm sau nữa, quân địch quay lại tấn công tiếp nhưng bị tổn thất nặng trước sự kiên cường của BĐQ và sự yểm trợ của hải pháo. Tuyến phòng ngự của TĐ 43/BĐQ từ ngày 14-04 về sau không còn bị bộ binh địch tấn công, nhưng vẫn bị những cơn mưa pháo dai dẳng của đối phương đổ vào đây như muốn trả hận cho Trung đoàn 29/SĐ 304 (kể từ phần này, chúng tôi sẽ hạn chế không ghi tổn thất của hai bên vì nhiều lần như vậy bài viết này sẽ dài thêm. Qua con số đã kể về hai TĐ 30 và 38/BĐQ sau trận đánh, người đọc có thể hình dung, phỏng đoán số quân bị tổn thất của địch qua lối đánh “lấy thịt đè người” thật man rợ của Cộng sản. Số xác chết của lính Cộng sản bỏ lại quanh khu vực như đã kể, sau vài ngày đã được BĐQ đào hố chôn lấp vì mùi thối nồng nặc khắp vùng. Riêng vũ khí tịch thu của địch, vài ngày đầu còn tập trung cho xe chở về Ái Tử nhưng sau đó chỉ gom lại phá hủy tại chỗ)

 

 

Còn tiếp…
BĐQ Đỗ Như Quyên

    

Bấm vào đây để in ra giấy (Print)

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Hình nền: Huy Hiệu Lục Quân VNCH (trái), Điện Capitol tại thủ đô Mỹ, BĐVN (giữa), & Bộ Huy hiệu các đơn vị Bộ Binh QLVNCH (phải). Để xem được trang web này một cách hoàn hảo, máy của bạn cần được trang bị chương trình Microsoft Internet Explorer (MSIE) Ấn bản 9 hay cao hơn hoặc những chương trình Web Browsers làm việc được với HTML-5 hay cao hơn.

 

Nguồn: Internet E-mail by BĐQ Đỗ Như Quyên chuyển

 

Đăng ngày Thứ Sáu, January 23, 2015
Ban Kỹ Thuật Khóa 10A-72/SQTB/ĐĐ, ĐĐ11/TĐ1ND, QLVNCH

Địa chỉ liên lạc: P.O. BOX 5055. Springfield, VA 22150
Điện thoại: 703-238-0736
E-Mail: lienlaclhccshtd@lhccshtd.org
Trở lại đầu trang