Bắc đẩu tinh

 

Quốc Hận 30-4-1975 * 2016 (Lần thứ 41)
Hồi ký Chiến trường

c Đảo Bị Bỏ Quên
T
ỨC TRẬN CHIẾN ĐỂ ĐỜI CỦA TIỂU ĐOÀN 88 BIỆT ĐỘNG QUÂN
BIÊN PHÒNG DAKPEK, KONTUM TRONG 57 NGÀY ĐÊM

Mũ Nâu Nhật Hồng Nguyễn Thanh Vân

Bấm vào đây để in ra giấy (Print)

      

Nhật Hồng Nguyễn Thanh Vân

- Sinh năm 1940 tại Bạc Liêu, Việt Nam
- Cựu học sinh Trường Trung Học Chu Văn An Sài Gòn
- Cựu Sinh Viên Sĩ Quan Khóa 8 Liên Trường Võ Khoa Thủ Đức
- Cựu Thiếu tá Tiểu Đoàn Trưởng Biệt Động Quân Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa
- Cựu Tù Khổ Sai 8 năm
- Định cư tại Hoa Kỳ (HO 19) ngày 16-11-1993
- Hiện ngụ tại Tiểu Bang Michigan.

 

Với tựa đề Ốc Đảo Bị Bỏ Quên có vẻ hấp dẫn này, nếu không có những dòng nói về “Trận Chiến Để Đời” theo sau, hẳn quý vị và các bạn có thể hiểu lầm đây là một mẫu chuyện thuộc loại hương xa, hoặc tiểu thuyết trinh thám, hay là chuyện hoang đường có màu sắc ly kỳ nào đó, mà bên trong chứa đầy trân châu, mã não, kim cương... và còn có cả một bầy tiên nữ khỏa thân, lồ lộ những “tòa thiên nhiên”, đang tắm bên bờ suối mộng, làm ngất ngây những kẻ được diễm phúc thưởng ngoạn đó chăng?

Thưa không! Đây là lời tuyên truyền rêu rao của Việt Cộng đối với Dakpek, một Căn cứ được gọi là Tiền Đồn Biên Phòng, cách Tỉnh lỵ đèo heo hút gió Kontum đến trên 80 cây số đường chim bay, lại chếch về hướng Tây Bắc trong một vùng rừng núi âm u, quanh năm sương mù bao phủ hơn là nắng ấm hiện về.

Những địa danh không thể quên được trong tâm khảm người chiến sĩ Cộng Hòa, nhất là những người lính từng tham chiến tại Vùng II Chiến Thuật như: Dak-tô, Tân Cảnh, Daksut, Benhet, Dakseang... mà Quốc Lộ 14, là con đường độc đạo hoang phế chạy ngang qua đó, thì Dakpek là một Căn cứ xa hơn hết, với phía bắc giáp ranh dãy núi rừng rộng lớn của Quận Ba-Tơ, trong Vùng I Chiến Thuật. Phía tây giáp biên giới Hạ Lào, và cách đường mòn Hồ Chí Minh khoảng 9 cây số. Còn phía đông là những dãy núi cao chớn chở trên dưới 1,000 mét, chạy dài hàng trăm cây số mới đến được Tỉnh lỵ Quảng Ngãi. Phía nam cách xa khoảng 28km là Căn cứ Biên Phòng Dakseang.

1. Tổng Quát:

Dakpek được dịch âm là “Đức Phong”, một địa danh của đồng bào Thượng ở vùng rừng núi Kontum, gồm đủ các sắc dân như: người Jhé, Cô-Hô, Ja-Rai, Mơ-Nông, Sê-Đăng, Bah-Nar, v.v. quần tụ lại và sinh sống trên những triền núi bao quanh một lòng chảo, khoảng gần hai cây số đường bán kính.

Chảy vòng quanh qua đó, là con sông Dak-pô-kô êm đềm thơ mộng trong mùa nắng, nhưng cũng sẽ gào thét ầm ì đầy hãi sợ trong mùa mưa, vì mực nước dâng cao như thác lũ, đổ về Kontum và xuôi ra biển.

Khi đi ngang qua vùng rừng núi Phú Bổn nó được đổi tên là Sông Ba, và khi đến vùng Thị xã Tuy Hòa thuộc Tỉnh Phú Yên, lại được đổi tên thêm một lần nữa, đó là sông Đà Rằng.

Với hơn 3,000 cư dân người sắc tộc, chia thành 11 làng sống chung quanh thung lũng Dakpek như vậy, nên Tỉnh Kontum đã đặt một Chi Khu tại đây lấy tên là Chi Khu Dakpek – cũng gồm đủ ban bệ: Công An, Cảnh Sát, Nghĩa Quân, v.v. nhưng người “Kinh” trong Bộ Chỉ Huy Chi Khu cũng chỉ đếm được trên đầu ngón tay. Họ sống trên một ngọn đồi phòng thủ khá vững vàng, chỉ chờ mỗi tháng hai lần trực thăng tiếp tế thực phẩm tươi đến, và hàng tháng lãnh lương mà thôi. Chứ công việc hành chánh giấy tờ ít khi được dùng tới, vì 11 làng Thượng của Chi Khu, cách nhau mỗi làng là từng dãy núi đồi cao thấp. Từ làng này muốn đến làng kia cũng phải leo núi... mệt thở, cho nên sự liên lạc giữa dân làng với giới hữu trách tại đây, cũng thỉnh thoảng mới xảy ra. Hơn nữa, người dân Thượng cũng ít khi cần đến những thứ giấy tờ lỉnh kỉnh như khai sanh, giá thú, chứng chỉ học bạ, học trình... thành ra Bộ Chỉ Huy Chi Khu dựng lên cũng để... làm vì.

Nhưng nếu chỉ bằng ngần ấy lực lượng bán quân sự, để bảo vệ Chi Khu và 11 làng Thượng kia, thì hẳn nhiên là không kham nổi. Lại nữa, bọn cộng sản Bắc Việt đang mỗi ngày một gia tăng quân số để đánh phá Miền Nam, và trên đường xuôi xuống vùng đồng ruộng trù phú... của Miền Tây nước ta giáp với Cao Miên, họ phải đi ngang cứ điểm này. Thế nên Lực Lượng Đặc Biệt Hoa Kỳ, đã phối hợp với Lực Lượng Đặc Biệt Việt Nam Cộng Hòa, thành lập một Trại Dân Sự Chiến Đấu (CIDG) ngay ở bên cạnh Chi Khu, cũng lấy tên là Trại Dakpek, hay là Căn cứ Biên Phòng Dakpek có nhiệm vụ bảo vệ Chi Khu, đồng thời thu thập tin tức xâm nhập của cộng sản Bắc Việt trên đường mòn Hồ Chí Minh. Hay nói một cách khác, thì có nhiều sắc dân Thượng vì chiến tranh loạn lạc, họ đã dắt díu nhau từng buôn làng, vào ẩn náu rải rác trong rừng sâu của vùng Hạ Lào. Nếu không tìm cách tập trung lại, để ổn định đời sống của họ, chắc chắn Việt Cộng sẽ tìm cách tuyên truyền, mua chuộc họ chống đối lại phe ta, thì càng nguy hại nhiều hơn. Cho nên Lực Lượng Đặc Biệt Mỹ, và Việt Nam [Cộng Hòa] mới thành lập Căn cứ Dakpek này, để hoàn thành những sứ mạng nêu trên.

Vấn đề tiếp tế lương thực, vật liệu xây cất, v.v. nhất nhất đều do Lực Lượng Đặc Biệt Mỹ lo liệu, rất dồi dào từ năm 1962 tới giờ. Nhiều sắc dân Thượng cũng vì đó mà tập trung về sinh sống mỗi ngày một đông, nên Chi Khu mới được thành lập để lo về việc hành chánh cho họ. Về sau này, khoảng năm 1969, 1970, vấn đề Việt Nam Hóa Chiến Tranh đã khiến cho việc vận chuyển, tiếp tế lương thực trở nên khó khăn. Phần thì đường bộ không có, phần thì Quân Đội Mỹ phải rút về nước, phương tiện phi cơ bị hạn chế tối đa, vấn đề ổn định đời sống của hơn 3,000 dân Thượng ở đây thật quá nhiêu khê.

Các cơ quan hữu trách của Việt Nam đưa ra giải pháp là di dời tất cả 11 làng Thượng này về sinh sống gần Tỉnh lỵ Kontum để dễ dàng yểm trợ họ. Giải pháp khá hợp lý, nhưng mắc phải trở ngại cũng khá to lớn. Đó là phải dùng phương tiện hàng không, chuyên chở toàn bộ 11 làng Thượng, từ người cho đến trâu bò, cùng vật dụng linh tinh cho mỗi gia đình người dân, rất là tốn kém và khó khăn không ít. Lại còn sợ theo thói quen của người Thượng, là họ thích sống trong vùng rừng núi, chứ không thích sống gần nơi thành thị. Cho nên sau một thời gian di dời. Có thể là họ lại dắt díu từng gia đình trở về chốn cũ làng xưa sinh sống, thì càng nguy hại không nhỏ cho chính quyền sở tại.

Bằng lập luận như thế, ông John Paul Vann, vị dân sự với chức vụ Cố Vấn Trưởng cho Quân Đoàn II và Quân Khu 2, tức Vùng II Chiến Thuật ở Pleiku, đã thẳng thừng bác bỏ chuyện di dời. Thế là giải pháp không thành, bởi vì bao nhiêu phương tiện chuyên chở đều nằm trong tay của vị Cố Vấn Mỹ này. Nếu Chính Phủ Việt Nam Cộng Hòa tự giải quyết, thì sự tốn kém quá nhiều, không có lợi trong tình hình chiến tranh như hiện tại. Cuối cùng thì vấn đề Dakpek vẫn không thay đổi, nhưng sự tiếp vận tiếp liệu và tiếp tế lương thực, mỗi ngày một yếu dần đi...

Đến đây, xin được phép mở một dấu ngoặc, nói qua đôi chút về nhân vật John Paul Vann, và trại Dân Sự Chiến Đấu của Lực Lượng Đặc Biệt Mỹ, cùng Lực Lượng Đặc Biệt Việt Nam [Cộng Hòa] thành lập. Dân Sự Chiến Đấu theo tiếng Mỹ gọi là CIDG, là chữ viết tắt của “Civilian Irregular Defense Group”. Người Mỹ quan niệm rằng có 2 lý do để thành lập các toán Dân Sự Chiến Đấu này:

– Một là Việt Cộng lợi dụng các sắc tộc Thượng, thường hay sống rải rác trong rừng sâu, để tuyên truyền móc nối họ chống lại chính quyền Việt Nam Cộng Hòa

– Hai là vì các sắc dân Thượng này, không bị ảnh hưởng bởi luật “Tổng Động Viên” của Việt Nam Cộng Hòa.

Do đó Lực Lượng Đặc Biệt Mỹ phối hợp với Lực Lượng Đặc Biệt Việt Nam, tìm cách quy tụ các thanh niên Thượng lại, thành lập từng Đại Đội Dân Sự Chiến Đấu không thống thuộc vào Quân Lực VNCH. Những Đại Đội này do người Mỹ huấn luyện riêng biệt và trả lương cho họ, đồng thời thiết lập những Căn cứ Biên Phòng, tức là những Trại Dân Sự Chiến Đấu dọc theo biên giới Việt-Lào, Việt-Miên, để khám phá, phát giác, và chiến đấu... chống lại sự xâm nhập của cộng sản Bắc Việt vào quấy phá Miền Nam Việt Nam.

Còn nhân vật John Paul Vann, nguyên là Trung tá Bộ Binh trong Quân Đội Mỹ, đã làm Cố Vấn Sư Đoàn 7 Bộ Binh VN ở Vùng IV Chiến Thuật năm 1962-1963, sau đó về Mỹ được giải ngũ. Ông trở lại Việt Nam năm 1966, làm Cố Vấn dân sự cho các Chương Trình Bình Định Phát Triển cũng tại Vùng IV Chiến Thuật. Đến tháng 8 năm 1970, Vann được đổi lên Vùng II Chiến Thuật, với nhiệm vụ Cố Vấn Trưởng cho Quân Đoàn II và Quân Khu 2. Vann có dáng dấp khá thanh tao, phong nhã... của một chính trị gia hơn là một nhà quân sự. Ông đã ly thân với bà vợ Mỹ, và nghe đâu đang xây dựng hôn nhân, với một thiếu nữ VN ở vùng Cần Thơ. Ông rất thông minh, gan dạ, hiếu thắng và thích làm anh hùng cá nhân, như thường hay lái phi cơ trực thăng loại “Cán Gáo” (OH58?) vào chiều tối, để đáp xuống các tiền đồn biên phòng hẻo lánh trong địa phận Vùng II Chiến Thuật, và ngủ qua đêm tại đó.

Trở lại Trại Dân Sự Chiến Đấu Dakpek, là do Toán A242 Lực Lượng Đặc Biệt Việt Nam, cùng các Cố Vấn Lực Lượng Đặc Biệt Mỹ thành lập vào cuối năm 1962. Đến năm 1970, theo đà Việt Nam Hóa Chiến Tranh dưới thời Tổng Thống Nixon, Quân Đội Hoa Kỳ phải rút khỏi Miền Nam Việt Nam, và toàn bộ 37 Trại Dân Sự Chiến Đấu nằm dọc theo biên giới Việt-Miên-Lào do các Toán A Lực Lượng Đặc Biệt Việt Nam chỉ huy, nay phải cải tuyển sang lực lượng quân sự của Việt Nam.

Một ít trại chuyển sang Địa Phương Quân, còn đa số thì sáp nhập vào Binh Chủng Biệt Động Quân, để thành lập từng Tiểu Đoàn Biệt Động Quân Biên Phòng. Riêng Trại Dân Sự Chiến Đấu Dakpek, hay còn gọi là Căn cứ Tiền Đồn Dakpek, được chính thức cải tuyển thành Tiểu Đoàn 88 Biệt Động Quân Biên Phòng Dakpek, vào ngày 30 tháng 11 năm 1970.

Nhiệm vụ của các Tiểu Đoàn Biệt Động Quân Biên Phòng, vẫn giống như nhiệm vụ của các Trại Dân Sự Chiến Đấu trước đây, nhưng từng Tiểu Đoàn Biên Phòng lại được bổ sung thêm sĩ quan, hạ sĩ quan, và binh sĩ Biệt Động Quân theo Bảng Cấp Số đề ra. Tuy nhiên, mỗi Tiểu Đoàn BĐQ Biên Phòng, chỉ có một Đại Đội Chỉ Huy Công Vụ và 3 Đại Đội tác chiến mà thôi. (Thay vì có 4 Đại Đội tác chiến như các Tiểu Đoàn BĐQ Tổng Trừ Bị.)

2. Mô Tả Chi Tiết Về Tiểu Đoàn 88/BĐQ/BP:

Quân số của Tiểu Đoàn chỉ thực hiện được khoảng 550 người, gồm 42 người Kinh, còn lại hoàn toàn là người Thượng. Doanh trại của Tiểu Đoàn là do Trại Dân Sự Chiến Đấu để lại, phòng thủ trên 7 ngọn đồi liên tiếp nhau ở cao độ 700 mét, so với mặt nước biển. Có sân bay Caribou dài 700 mét nằm bên ngoài hàng rào, và bãi đáp trực thăng bên trong doanh trại. Có đầy đủ vũ khí do Mỹ để lại, với đạn dược rất dồi dào, và luôn có 90 ngày lương khô, và 90 ngày gạo dự trữ. Hàng tháng hai lần được Chinook hoặc Caribou của Mỹ, tiếp tế thực phẩm tươi song song với Chi Khu Dakpek. Nhưng từ khi các Cố Vấn Mỹ rút đi, thì việc tiếp tế không còn đều đặn như trước nữa. Đó là khó khăn chung của một quân đội nhà nghèo, khi anh bạn đồng minh đang tìm cách bỏ của... chạy lấy người...

Về hỏa lực súng nặng, gồm một Trung đội pháo Binh Biên Phòng với 2 khẩu 105ly. Ngoài ra còn có 1 khẩu 90ly, 1 khẩu 75ly, 2 khẩu 57ly, 2 khẩu 4.2. Sáu khẩu Súng Cối 81ly, 8 khẩu Súng Cối 60ly và trên 40 khẩu Đại Liên cùng Trung Liên phòng thủ vững chắc.

Từ xa, cách Căn cứ khoảng 5km trở về cho đến sát hàng rào kẽm gai của trại, đều có đặt nhiều loại máy Sensor rải rác khắp nơi, để kịp thời phát giác kẻ địch đến gần. Về kế hoạch hành quân bảo vệ khu vực, theo lệnh cấp trên, phải thường xuyên có 2/3 quân số tuần tiểu, phục kích ở bên ngoài với bán kính 15km. Mục đích chính của việc tuần tiểu phục kích này, là theo dõi, phát giác sự di chuyển của địch quân trên đường mòn Hồ Chí Minh. Còn 1/3 quân số, thì phòng thủ ở bên trong. Vào cuối năm 1971, Tiểu Đoàn 88/BĐQ/BP còn phải tuân hành theo khẩu lệnh, chỉ thị trực tiếp của Chuẩn tướng Lam-Sơn – Tư Lệnh Phó Lãnh Thổ thuộc Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn II và Quân Khu 2 – bằng cách chỉ huy và kiểm soát các đơn vị chiến đấu của Chi Khu Dakpek. Đồng thời còn cắt cắt cử 6 Hạ sĩ quan người Kinh của đơn vị, đến chung sống với 6 ngôi làng Thượng ở cách xa Căn cứ nhất. Cứ nửa tháng họ phải trở về bản doanh một lần để nhận thực phẩm tiếp tế. Nhiệm vụ của họ là ngầm theo dõi những sinh hoạt hàng ngày của dân làng, cũng như cố vấn về phương cách phòng thủ buôn làng, và hướng dẫn các Nghĩa Quân người Thượng canh gác về đêm.

Sở dĩ phải kể tỉ mỉ về địa hình, địa vật, cách phối trí lực lượng, và tầm mức chiến thuật của Căn cứ Dakpek nêu trên... là để quý độc giả tiện hình dung được một cách rõ ràng hơn, khi trận chiến xảy ra tại nơi đây với 57 ngày đêm tử thủ sống còn.

Thật vậy, tưởng cũng xin phép lật lại phần nào trang sử oai hùng của Quân và Dân tỉnh Kontum, dưới thời Đệ Nhị Cộng Hòa... Vì họ đã đánh tan ý đồ xâm lăng của bọn ngông cuồng khát máu Cộng nô, trong cái thời điểm mà cả nước đều biết: Đó là “MÙA HÈ ĐỎ LỬA 1972”, khi mà Quảng Trị – Kontum – An Lộc đều ngập chìm trong máu lửa đạn bay. Xác thù chồng chất đầy ngoài chiến lũy, vắt ngang chiến hào, và có lẽ từng đồi cây ngọn cỏ, cũng đều oán giận căm hờn thay cho lũ đầu sỏ Hà Nội!

Vì bọn chúng đã nỡ nhẫn tâm, xua hàng nửa triệu thanh thiếu niên Miền Bắc, vào Nam chịu chết một cách thương đau!

Chính thời điểm đó... Căn cứ Dakpek do Tiểu Đoàn 88 Biêt Động Quân Biên Phòng trú đóng, cũng được phần tham dự, ngay khi cuộc chiến khốc liệt vừa mới mở màn!

Bản đồ vùng Dakpek và nơi cao độ 1270m là Tiền Đồn Quan Sát của Chi Khu.

Phi trường Caribou dài 700m. Đồi bên trái là ĐĐ1, đồi bên phải là Tiền Đồn ĐĐ1

VỊ TRÍ PHÒNG THỦ CĂN CỨ DAKPEK VÀ CÁC ĐIỂM TRONG YẾU

 

 

Căn cứ Dakpek

 

(1) – Ngọn đồi bố trí các hầm trú ẩn của Trung Đội 1/Đại Đội 3/Tiểu Đoàn 88 BĐQ Biên Phòng Dakpek, còn gọi là Đồi Tiền Đồn của Đại Đội 3. Đồi này cao nhất trong 7 ngọn đồi phòng thủ của Tiểu Đoàn.

(2) – Ngọn đồi bố trí các hầm trú ẩn của Đại Đội 3/TĐ88BĐQ/BP.

(3) – Vùng vực sâu có Bãi Mìn cá nhân không thể vượt qua được.

(4) – Ngọn đồi bố trí các hầm của Bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn, gồm Truyền tin, Quân y, Kho gạo, Lương khô, và máy phát điện dã chiến, do Trung đội trinh Sát phòng thủ.

(5) – Ngọn đồi bố trí các hầm trú ẩn của Đại Đội Chỉ Huy Công Vụ của Tiểu Đoàn.

(6) – Bãi đáp Trực thăng trong vòng rào phòng thủ Căn cứ của Tiểu Đoàn.

(7) – Ngọn đồi bố trí các hầm trú ẩn của Đại Đội 1/TĐ88BĐQ/BP.

(8) – Cổng chính vào BCH/Tiểu Đoàn.

(9) – Đầu phi đạo Caribou, nơi bắt sống Tổ Súng 57ly Không Giật gồm 3 tên cán binh CSBV.

(10) – Ngọn đồi bố trí các hầm trú ẩn của Trung Đội 1/Đại Đội 1/TĐ88BĐQ/BP, còn gọi là Đồi Tiền Đồn của Đại Đội 1.

(11) – (12)- Hai làng Thượng ở trước Cổng Chính của Tiểu Đoàn đều theo VC khi trận vây hãm xảy ra.

(13) – (22) – Sông Dak-pô-kô chạy ngoằn ngoèo chung quanh vùng Dakpek.

(14) – Hướng đi về các làng Longnan 1, 2, 3 cách xa Tiểu Đoàn khoảng 3km trên đồi cao gần 900m.

(15) – Bãi tập họp của Tiểu Đoàn chung quanh đều có đồi cao bao phủ, và cũng là nơi chôn xác của SQ, HSQ và Binh sĩ của Tiểu Đoàn trong trận bị VC vây hãm 57 ngày đêm.

(16) – Cổng hậu ra Phi Trường Caribou có phi đạo dài 700m.

(17) – Kho Vũ khí và Đạn dược của Tiểu Đoàn.

(18) – Ngọn đồi bố trí các hầm trú ẩn của Đại Đội 2 bao gồm kho vũ khí đạn dược.

(19) – Ngọn đồi bố trí Trung đội pháo Binh 105ly.

(20) – Vùng vực sâu có Bãi Mìn Cá Nhân không thể vượt qua được.

(21) – Điểm lấy nước duy nhất của Tiểu Đoàn.

(23) – Bộ Chỉ Huy Chi Khu Dakpek và một số các làng Thượng nằm rải rác phía sau Chi Khu.

(24) – Bãi tắm công cộng.

 

CĂN CỨ TĐ88/BĐQ/BP/DAKPEK TỪ TRÊN CARIBOU NHÌN XUỐNG

 

Đại úy Tiểu Đoàn Trưởng và gia đình. (Hình do Chuẩn úy Nguyễn Văn Vinh chụp – 1971)

3. Mùa Xuân Trên Đỉnh Non Cao.

Trước khi tường thuật một cách khá trọn vẹn, trận tấn công mạnh mẽ, bởi 2 Tiểu Đoàn Đặc Công, cùng 6 Đại Đội Pháo của cộng sản Bắc Việt, tràn ngập một phần vào Căn cứ Biên Phòng Dakpek; chúng tôi cũng xin được phép lược qua về hoàn cảnh sinh sống của các chiến sĩ trong Căn cứ, cùng sự phát giác nội tuyến, ngay trong mùa Xuân của vùng núi cao rừng rậm này. Từ đó chúng ta mới có thể cảm thông được phần nào, nỗi niềm tâm sự của những người lính “Trấn Thủ Lưu Đồn”, và chiến thắng đáng được khích lệ của họ...

... Đó là mùa Xuân của năm Nhâm Tý (1972), trời đất có vẻ âm u lạnh lẽo hơn các năm về trước. Buổi sáng ở đây đến 11 giờ trưa mới tan hết sương mù, nhưng “trần mây” vẫn còn thấp và tầm quan sát vẫn còn hạn chế, cho đến quá Ngọ mới được trong trẻo hơn. Rồi đến khoảng 4 giờ chiều, thì sương mù lại giăng phủ cho đến hôm sau. Cứ thế... kéo dài cái thời tiết lạnh lẽo đó trong nhiều tháng liền... làm cho tâm sự của người “lính thú” luôn sắt se nỗi nhớ, mang mễnh niềm thương. Nhất là vào nửa đêm “Trừ Tịch”, và các ngày kế tiếp, lòng người chiến sĩ thật là u hoài khôn tả. Thêm vào đó, ở cái Tiền Đồn heo hút của vùng rừng núi cực Bắc Kontum này, khiến cho người ta liên tưởng đến những “đồn ải biên quan”, ở tận miền bắc xa xôi cô lẻ... của những người lính chiến thưở xa xưa... Bản nhạc “Xuân Này Con Không Về Nữa”, được một anh lính người Kinh hãy còn rất trẻ, đang ôm súng ngồi trên lô-cốt gác giặc, miệng hát nghêu ngao trong buổi sáng Mồng Một Tết giá buốt này, thật thấm thía vô cùng!

Một Sĩ quan đứng gần đó, đang phóng tầm mắt nhìn dãy núi mờ sương ở phía xa, dường như cảm hứng với lời hát của kẻ thuộc quyền, cũng cất tiếng ngâm khe khẽ:

... Biên phòng heo hút thân đồn trú,
Ta sống cuộc đời lính thú xưa!
Tâm sự miên man hờn giấc ngủ,
Võ vàng thân xác lạnh hồn thơ...

Vào Xuân rừng núi mờ sương phủ,
Ải Bắc... buồn theo dãy chiến hào.
Nhớ thuở mài gươm cười chính khí,
Đăng trình ta nhập cuộc binh đao.

Ra đi không rượu, người đưa tiễn...
Và mắt giai nhân... đẫm lệ sầu!
Chỉ có trăng nghe lời ước nguyện,
Đem chí bình sinh lấp bể dâu.

Rồi theo năm... tháng dài dong ruổi...
Biên trấn đồn xa mộng nát nhầu.
Nếp áo Tương Như giờ để lệch,
Hồn thơ chìm lặng bến Giang Châu!

Phiếm tơ chùng tiếng đàn Tư Mã,
Rượu chửa kề môi thấy nhạt mầu!
Lầu bích áo xiêm nào rạng rỡ,
Cho ta thèm... ấp mộng Hồng Lâu!

Ý Xuân dù hiện niềm hoan lạc
Mà nẻo Cam Tuyền ta biết đâu?
Vạn lý thành xưa... thân trấn thủ,
Chào Xuân... bằng nỗi nhớ niềm đau!.
..

Giọng ngâm tuy không có cái âm độ lão luyện chuyên nghiệp, nhưng cũng có phần nào truyền cảm vào lòng người đồng chung cảnh ngộ.

Có sống nơi tiền đồn xa tít mù khơi, giữa vùng núi cao rừng rậm, biệt lập với thế giới bên ngoài này, lòng của người trai thời loạn mới thấy thấm thía tiếng nhạc lời thơ... Mới thấy hắt hiu nỗi nhớ dâng lên man mác trong lòng! Và... cảm thương cho cuộc đời mình... có đôi lúc dường như vô nghĩa, thân phận của mình sao lại quá “đen đủi” đến thế là cùng! Trong gần 50 người kinh được đổi lên đây, kể cả hai bên Chi Khu Dakpek, và Tiểu Đoàn 88 BĐQ, tại sao lại có mình? Có ai thương xót cho người trai lính chiến, đóng ở biên phòng hẻo lánh này không?

Ôi! Với tuổi đời trên dưới đôi mươi. Nhựa sống lại căng đầy, mà bị đổi ra cái tiền đồn ốc đảo này, hàng năm mới được đi phép vài ngày, thật là đáng thương cho tuổi trẻ biết là bao! Không biết bài hát của ai đó với những câu như: “Tôi ở miền xa, trời quen đất lạ. Nhiều Đông lắm Hạ, nối tiếp đi qua, thiếu bóng đàn bà...” sao mà đúng với tâm trạng của những quân nhân người Kinh ở đây quá cỡ...

Và... hàng loạt những Tiền Đồn Biên Phòng, với những địa danh dọc theo biên giới Việt-Lào từ Quảng Trị trở vào, như: Minh Long, Ba-Tơ, Gia Vực, Trà Bồng, Dakseang, Benhet, Đức Cơ, Pleime, v.v. cũng đều có những chàng trai lính thú như vậy, mà đời cũng gần như quên lãng họ!...

Nếu những người lính của các Sư Đoàn chiến đấu, thường xuyên đối đầu với cái chết trong lúc hành quân tìm và tiêu diệt địch, cũng có lúc dừng quân ngơi nghỉ ở một bìa làng, hay một nơi thị tứ nào đó. Hoặc trở về “hậu cứ” an toàn dưỡng sức, cũng còn nhìn được “ánh mặt trời bình yên” nơi mái ấm gia đình. Dù cho chỉ có nghỉ ngơi trong một vài ngày ngắn ngủi, rồi phải trở lại lặn lội hành quân đi nữa, cũng còn hạnh phúc hơn những người lính biên phòng rất nhiều. Vì những người lính biên phòng – nhất là ở những tiền đồn “Ốc Đảo” của Vùng I và II Chiến Thuật, quả thật là không thấy được “ánh mặt trời bình yên” trong cuộc sống, và kể cả tâm hồn. Bởi lẽ, bên trong vòng rào hàng hàng lớp lớp giây kẽm gai là ta. Còn bên ngoài là địch. Ngay như Tiền Đồn Dakpek có 11 làng Thượng ở rải rác chung quanh, vẫn chưa gọi là an ninh được. Nào là ngôn ngữ bất đồng... nào là hành động và tư tưởng của họ rất khó lòng kiểm soát... Hay... như hàng mấy trăm binh sĩ Thượng ở trong Căn cứ, cũng còn chưa đánh giá một cách chắc chắn... về đầu óc Quốc Gia của họ thay!... thì nói chi tư tưởng của dân làng. Hàng ngày, hầu như gần hết tất cả người Thượng trong các làng, và vợ con binh sĩ trong trại, đều bồng bế trẻ em ra rừng, lên rẫy để tìm miếng sinh nhai. Đến chiều tối họ mới trở về... thì làm sao kiểm soát nổi sự tuyên truyền, mua chuộc, sách động của địch quân đối với họ?

Kinh nghiệm trong nhiều năm trước đây, hồi còn là các trại Dân Sự Chiến Đấu – tiền thân của các Tiểu Đoàn BĐQ Biên Phòng hiện giờ – do người Mỹ chỉ huy, tiếp tế lương thực một cách dồi dào thừa mứa; thế mà vẫn có một vài nơi bị Việt Cộng móc nối mua chuộc, khiến họ nổi loạn ngay trong doanh trại. Chứ đừng nói chi bây giờ, lực lượng Mỹ đã rút đi, Quân Lực VNCH phải chiến đấu trong thế tự lực... đánh giặc “kiểu nhà nghèo”, thì làm sao điều khiển họ trung thành với mình, một cách trọn vẹn cho được. Lại nữa, người Thượng ở trong các buôn làng, khi nói chuyện thì gọi người Mỹ là “Ông Mỹ”, gọi Việt Cộng cũng là “Ông Cộng”, nhưng kêu đại úy của ta là “Thằng Đại úy”.

Đứng trước tình huống đó, ta phải đành chấp nhận, và tìm cách khéo léo hướng dẫn họ. Còn các hệ thống tình báo chiến, tâm lý chiến của ta, đối với một tiền đồn biên phòng xa xôi hẻo lánh như vầy, nhìn bề ngoài thì thấy rất dễ thực thi, nhưng thật sự bề trong rất khó lòng phân rõ địch và ta. Thế nên, trong Tiểu Đoàn với hơn 40 người Kinh chỉ biết tin tưởng vào nhau, và ngầm dặn dò nhau đề phòng những biến động, nếu lính Thượng có dấu hiệu bất mãn hoặc thiên tả. Tiếng là đóng tiền đồn biên phòng chỉ có ngồi yên một chỗ, ít khi phải lặn lội gian truân như các đơn vị tác chiến khác, tưởng rằng chữ “THỌ” được cao. Nhưng sự thật thì cái nguy hiểm không biết đến tự lúc nào, thần kinh luôn căng thẳng. Lúc nào cũng phải thường xuyên dè dặt, đề phòng cả ngày lẫn đêm, chẳng những lo địch quân tấn công qui mô từ bên ngoài vòng rào, mà còn phải lo sợ sự nổi loạn bên trong nữa... Đó là chưa kể cái lạnh lẽo, cái giá buốt, cùng sự “chói nước” khiến cho bệnh “sốt rét rừng” hoành hành thân thể, và nỗi đìu hiu quạnh quẽ của tâm hồn... Nếu là một tiền đồn dù cho ở giữa vùng Bắc Cực băng giá đi chăng nữa, chung quanh toàn là kẻ địch; nhưng bên trong là phe ta thuần nhất, không như cái kiểu của vùng Căn cứ Dakpek này, địch ta cơ hồ như lẫn lộn, thì thần kinh cũng có phần đỡ căng thẳng đi rất nhiều. Có lẽ bọn Việt Cộng cũng nhìn thấy được như thế, nên kể từ ngày Lực Lượng Đặc Biệt Mỹ rút đi khỏi Căn cứ cho đến giờ, chúng đã hàng chục lần rải truyền đơn viết tay, gọi vùng Dakpek này là “ỐC ĐẢO BỊ BỎ QUÊN”, để lung lạc tinh thần chiến đấu của hơn 40 người Kinh đang trấn thủ.

... Thế còn những người lính Thượng ở đây thì sao? Họ có nao núng hãi sợ vì những truyền đơn đó không? Có lẽ là không vì các yếu tố sau đây:

– “Một là, họ vốn dĩ sinh trưởng trong núi rừng, thì rừng núi là quê hương của họ, và gia đình thân nhân lại ở kề bên. Cái nỗi nhớ nhà, nhớ vợ con, thương cha mẹ... thì không có.

– “Hai là, họ không hề đem so sánh thân phận mình với sự ăn chơi đàng điếm, rượu ngon gái đẹp giữa nơi son phấn phồn hoa... của một số người ở Thành đô chuyên sống trên mồ hôi, và xương máu của các chiến sĩ chiến đấu gian lao ngoài mặt trận... để rồi lại đâm sau lưng họ... thì những lính Thượng ở đây không có, vì cả đời họ làm gì biết được những cuộc truy hoan như thế, để mà so sánh?

– “Ba là, nếu nơi này bị áp lực nặng nề của địch quân, những người lính Thượng kia, có thể cùng với gia đình tìm cách bỏ trốn. Chỉ cần cởi bỏ bộ quần áo trận, đóng vào “cái khố”, nửa đêm lẻn trốn ra đi. Họ có thể dắt dìu nhau cả một làng, đi sâu vào bên trong biên giới Hạ Lào, phát rẫy làm nhà để sinh sống, như họ đã từng làm trong nhiều năm về trước”.

Với họ... thì không có tư tưởng lớn, tư tưởng nhỏ gì ở trong đầu cả, chỉ có tiền lương gạo muối, mới có thể giữ họ ở lại trong quân ngũ, khi không có đánh nhau lớn. Nếu đụng trận mạnh, họ bỏ súng và tự rã ngũ là chuyện thường... Vả lại, bọn Thượng Cộng cũng đã tuyên truyền rằng nếu họ “đóng khố” và tự bỏ đơn vị ra đi, thì VC sẽ không làm khó dễ... mỗi khi bắt gặp họ trong rừng. Trong vài ba năm trở lại đây, những trường hợp đến mùa làm rẫy gặt lúa, có một số lính Thượng bỏ ngũ, trở về buôn làng xa xôi trong rừng sâu để gặt lúa làm rẫy của họ, và đến hết mùa, họ lại trở về đơn vị tiếp tục làm lính... thì không còn thấy xảy ra nữa. Có lẽ vì chiến trận mỗi ngày một rộng khắp, binh lính của Việt Cộng từ Miền Bắc, xâm nhập vào Miền Nam mỗi ngày một đông, cho nên các buôn làng Thượng ở trong rừng sâu, thường hay có bộ đội cụ Hồ đến trú quân, và đương nhiên là dân trong buôn làng phải chiêu đãi họ. Nào là... thanh niên thì phải đi lính cho họ. Nào là... thực phẩm hoa màu trồng trọt được, cũng phải cung ứng cho họ... Buôn làng sống giữa rừng sâu đã thiếu thốn, nay lại càng thiếu thốn hơn nữa, cho nên người Thượng đã bồng bế nhau, đến lập làng chung quanh những tiền đồn biên phòng, để được giúp đỡ về thực phẩm gạo muối hơn. Nếu chồng đi lính, thì vợ con cùng vào trong Căn cứ, đào hầm chung quanh giao thông hào phòng thủ trong doanh trại mà ở. Mỗi ngày thì vợ con lính ra khỏi trại vài ba cây số, phát rừng làm rẫy trồng trọt thêm hoa màu, đến chiều mới trở về Căn cứ. Mỗi người lính hàng tháng đều được phát gạo, muối, và những nhu yếu phẩm khác. Hai tuần thì được phát thực phẩm tươi như gà, heo, bò, v.v. được chở từ Kontum lên. Lương của họ và vợ con, được Phát Ứng Viên hàng tháng từ Pleiku đi trực thăng lên phát. Họ có thể mua thêm lương thực từ Câu Lạc Bộ của trại, và ngôi chợ “chồm hổm” bên Chi Khu.

Tóm lại, thì đời sống của một người lính Thượng, đóng ở các tiền đồn biên phòng như vậy là quá hạnh phúc. Họ không có mong muốn gì hơn, cho nên họ không bỏ ngũ trở về rừng sâu để làm rẫy gặt lúa nữa, là như vậy. Lại nữa, theo những quân nhân Thượng sống nhiều năm trong Căn cứ cho biết, thì lúc còn là lính Dân Sự Chiến Đấu do người Mỹ tuyển mộ, chỉ huy và phát lương bổng, họ có bỏ ngũ cũng không bị phạm vào quân pháp. Sau khi họ về làng làm rẫy đến hết mùa trở lại, thì đơn vị lại ghi danh, phát súng và trả lương cho họ kể từ lúc đó. Nhưng khi toàn bộ những lính Dân Sự Chiến Đấu này, được cải tuyển sang Biệt Động Quân, để thành lập những Tiểu Đoàn BĐQ Biên Phòng, tức có nghĩa là lính chính quy, có số quân, có cấp bậc, có quân bạ đàng hoàng. Tự bỏ ngũ về buôn làng, làm hết mùa rẫy rồi trở lại đơn vị thì không được, vì đó là tội đào ngũ sẽ bị trừng phạt theo quân luật...

 

 

Trở lại khung cảnh của Tiền Đồn Dakpek, với cái khí hậu của sơn lam chướng khí, với cái u buồn hiu quạnh của vùng rừng núi biên cương, và với cái căng thẳng thần kinh của cuộc chiến như thế, ngày TẾT ở đây thật là buồn tẻ vô cùng...!

Hơn 40 người Kinh trong Tiểu Đoàn, ngoài trừ Đại úy Tiểu Đoàn Trưởng với số tuổi vừa quá 30 có gia đình ra, số còn lại ở khoảng trên dưới 25 tuổi đều độc thân. Nhất là vài ba sĩ quan vừa mới ra trường được bổ nhậm về đây, gặp ngay cái Tết đầu tiên, khi ra đơn vị tác chiến một cách ảm đạm như vầy... thì hỏi sao mà vui sướng được bao giờ? Cũng có một số ít sĩ quan, và hạ sĩ quan vốn là người Kinh, thuộc Dân Sự Chiến Đấu của trại được cải tuyển sang BĐQ. Những người này luôn có gia đình chung sống với họ ở trong trại, từ nhiều năm trước đến giờ... thì có được cái không khí vợ chồng, con cái ấm cúng phần nào trong căn hầm riêng của họ. Nhưng bánh chưng, bánh tét, thịt mỡ, dưa hành, cây nêu, tràng pháo... tượng trưng cho ngày Tết thiêng liêng của dân tộc, thì không có ở đây... Bởi lẽ trước đó hơn hai tháng, “trần mây” luôn luôn rất thấp, ngày nào cũng có sương mù che khuất ánh sáng mặt trời... Trực thăng tiếp tế lương tươi từ Kontum không cất cánh được, cho nên cả Căn cứ đều “xực” lương khô, thì lấy đâu mà có thịt mỡ dưa hành, mặc dù Ban Tiếp Liệu của Tiểu Đoàn đã mua sẵn ở Pleiku, chờ gởi lên. Rốt lại, cả Tiểu Đoàn ăn Tết với câu khẩu hiệu trơ trẽn, mà Sĩ quan Ban 5 đã phải hì hục khòm lưng, cắt giấy dán lên tấm vải “Băng-đờ-rôn” duy nhất của đơn vị, và được căng treo trước cột cờ từ mấy ngày qua: VUI XUÂN KHÔNG QUÊN NHIỆM VỤ. Thật là mai mỉa! Nào có Xuân có Tết đâu mà vui! Mà quên nhiệm vụ?

Còn người Thượng ở vùng này, họ không biết ăn Tết theo kiểu người Kinh. Phần lớn họ theo Đạo Tin Lành, nhưng vẫn giữ phong tục (hoặc thói quen?) mỗi năm “Cúng Giàng” một lần vào ngày Lễ Giáng Sinh. Cúng Giàng có nghĩa là cúng Trời cho mưa thuận gió hòa, “để cái rẫy cái nương có khoai có lúa mà ăn”. Đó là lời giải thích của Thượng sĩ Thường Vụ Krong-Sem. Nhân dịp này, họ mổ trâu ăn mừng, nhảy múa theo tiếng “Khèng”, tiếng “Coòng” – những nhạc cụ của riêng họ – rồi uống “rượu Cần”, già trẻ gái trai vui chơi quây quần chung quanh “Nhà Làng”...

Nhà Làng tức là ngôi “nhà sàn” có phần to lớn hơn các nhà sàn thường của dân làng. Đó là nơi dùng để hội họp, lễ lạc, cúng bái, xử kiện do Trưởng Làng quản lý. Còn tại sao gọi là Rượu Cần? Có lẽ khi uống người ta dùng một đoạn cây trúc già, nhỏ cỡ ngón tay, dài cả thước tây được uốn cong cong, và các “mắt trúc” được làm cho thông suốt với nhau. Cắm một đầu ống trúc này vào sâu trong “Ché rượu”, rồi đưa vào miệng hút đầu còn lại, uống ừng ực chất rượu chảy ra. Vì dùng một đoạn cây trúc... như cái “cần câu” ngăn ngắn này để uống rượu, nên gọi đó là Rượu Cần, tức rượu uống bằng cái “Cần” chăng? Nếu đút đầu của cái Cần rượu này xuống gần sát đáy của “ché” rượu, thì khi uống rượu mới đậm đà và mau say. Còn đút cái Cần không sát gần đáy “ché” thì chỉ uống rượu lạt, hoặc có khi là nước lã mà thôi.

Người này uống xong, thì đưa cái Cần cho người khác uống. Cứ thay phiên hết người này đến người khác. Nếu ta là khách quý thì cái Cần đó dành riêng cho ta, hoặc ta cùng người chủ làng hay chủ gia đình đó uống chung mà thôi. Còn các cái Cần khác, cũng cắm chung vào “ché rượu” thì dành cho các người khác. Nhìn cái Cần uống rượu bóng lưỡng, thì biết là đã có trăm ngàn lượt người ngậm qua nó để uống rượu. Mới đầu ngậm vào Cần rượu, ai mà không thấy lờm lợm nơi miệng lưỡi của mình, nhất là uống chung với “Già Làng” móm mém hom hem... cùng hàm răng cái lồi cái lõm đóng bợn đen xì... Nhưng phải tỉnh bơ mà uống... mới đúng cách xã giao... mới được lòng người thiểu số.

Thế nhưng, khi đã uống rượu vô miệng rồi thì thấy ngòn ngọt, chua chua khá hấp dẫn. Mềm môi uống mãi không thấy say, nhưng gục té hồi nào thì cũng chẳng hay. Còn “Ché” là một cái hũ bằng sành, lớn nhỏ đủ cỡ, giống như những bình hoa kiểng của ta thường dùng. Có cái cao hằng năm bảy tấc, hoặc lớn hơn, với hai đầu túm lại, ở giữa phình ra, bên trong đựng rượu, bên ngoài bóng láng có những nét hoa văn nhiều màu sắc. Một phần ba dưới đáy “Ché”, là gạo, nếp, hoặc bắp, v.v. được ủ với men làm thành rượu. Khi uống, người ta chặt một số lá cây mọc chung quanh nhà bất kể là loại lá cây nào, nhét đầy vào trong “Ché rượu”. Sau đó đổ hàng thùng nước suối vào cho đầy tới miệng “Ché”. Gặp buổi lễ quan trọng uống bằng “Ché” lớn, phải do hai người lực lưỡng gánh ra, và phải đổ vài ba thùng nước suối mới đầy. Thế là cắm Cần vào uống rượu. Nếu Cần cắm vào lưng chừng “ché”, thì chỉ uống nước suối mà thôi.

4. Câu Chuyện “Có Vô Có Ra”.

Những quân nhân người Kinh ở trại uống rượu Cần riết rồi cũng ghiền, lúc mới uống thì len lén kéo cái Cần lên cao, để khi uống rượu lạt đỡ say, nhưng bị chủ nhân lấy tay ấn xuống phải đành “bể mánh”. Về sau này, khi uống rượu Cần, lại uống chung với vài sơn nữ kiểu “Sơn Nữ Phà Ca”, thì nó cũng gợi cảm và khoái khẩu làm sao? Các sơn nữ Phà Ca này là con cháu của quân nhân Thượng trong Căn cứ, hoặc trong làng, tuổi vừa 15, 17 tròn trăng xinh đẹp. Cô nào cũng có những đường cong tuyệt mỹ, với bắp thịt nơi hai tay trông khỏe mạnh rắn chắc. Có lẽ hàng ngày họ phải lên non, xuống núi, làm rẫy, giã gạo, và đến chiều, lại gùi hàng chục ống tre đầy nước mang về làng, hoặc về trại để dùng, mà thân hình nảy nở tự nhiên, cộng với gương mặt khá thanh tú, nhưng có đôi phần man dại... đáng yêu. Lại cũng có một hai cô mang nét lai tây phương, với nước da trắng hồng trông càng hấp dẫn... ưa nhìn. Khi có lễ lộc gì đặc biệt, thì các phụ nữ Thượng mới mặc áo kiểu sắc tộc của họ, tức là những chiếc áo có tua, có viền những chỉ màu xanh, trắng, đỏ, vàng trông cũng đẹp mắt. Còn bình thường thì các cô mặc các loại áo thun có tay dài, ngắn, hoặc không có tay, loại bó sát người thường bán ngoài chợ bình dân. Đặc biệt hơn hết là họ luôn luôn mặc váy, giống như kiểu “sà-rông” của người Cao Miên, mà bên trong các quần áo đó, theo như các cậu lính Thượng cho biết, là ít khi thấy có những cái mà người ta gọi là “đồ lót”... bao giờ. Mặc váy là một phong tục bắt buộc, nghe nói là “lệ làng” sẽ đuổi cổ cô nào ở trong làng mà mặc quần hai ống. Cho nên cũng theo lời kể, trong thời Lực Lượng Đặc Biệt Mỹ còn ngự trị tại đây, thì ngày nào cũng có trực thăng đến trại. Vì vậy mà thỉnh thoảng cũng có vợ lính, hoặc dân làng xin đi Kontum mua sắm. Khi ra tới Kontum, thì các cô thay quần Jean đi dung dăng dung dẻ dạo phố. Nhưng khi trở về, thì các cô vội vàng thay lại “sà-rông” mới dám về làng.

Tóm lại, thì các cô “Sơn Nữ Phà Ca” nói trên, cũng khoái uống rượu Cần với các quân nhân người Kinh lắm... chớ chẳng phải là không. Vì uống với mấy anh chàng này, thì vừa có rượu uống, rồi được cho “gạo sấy” khá nhiều nữa... đó là điều mà mấy cô rất thích. Gạo sấy là tiêu chuẩn của họ, khi đi hành quân mới được cấp phát. Thường thì 15 ngày cho mỗi lần đi hành quân như vậy. Họ chỉ cần mang theo nửa tiêu chuẩn, là đủ dùng cho 15 ngày đó rồi. Số còn lại, họ đưa cho mấy người vợ của lính Thượng làm rượu, để khi hành quân về... có rượu mà uống, mà đỡ nhớ thành đô... Hoặc có anh dành một ít gạo sấy lại, để tặng cho các cô gái Thượng... khi uống rượu nhảy múa vui vẻ cùng nhau. Với cây đàn ghi-ta, lính Kinh vừa đàn vừa hát những bản nhạc lính, theo các điệu Boléro hay Slow... là các cô gái Thượng đã múa những điệu vũ của họ được rồi. Hoặc giả... mở máy thâu băng các bản nhạc kiểu “Em Pleiku má đỏ môi hồng”... để nhảy thì cũng hết sẩy. Đến Thứ Bảy hoặc Chủ Nhật đôi khi có lính Thượng tham dự, họ thổi “khèng”, đánh “coòng”. Các Cô gái Thượng lại cất giọng líu lo vừa hát vừa nhảy múa... Các chú lính ta cũng uốn éo nhảy múa theo, thì coi như là một bữa nhảy đầm... có “nhạc sống”, và có rượu ngon vậy. Nhưng có điều là... ta không biết mấy cô hát gì, lắng nghe thì cũng êm tai. Và... mặc dù nhìn thấy các cô vừa uống rượu, vừa ca hát nhảy múa như vậy, cũng chỉ là mua vui mà thôi... Chứ chung đụng xác thịt, hay sờ mó bậy bạ, thì không anh nào dám đụng đến. Vì các cô này sẽ đi khoe rùm lên, và bắt anh chàng “thích bẻ hoa sơn cước đó” phải làm chồng. Nếu quất ngựa truy phong... thì nghe đồn là sẽ bị “thư ếm” bụng to như “cổ trướng”, hoặc trong bụng đầy “sắt vụn” hay đầy “cát” mà đau đớn cho đến chết.

Thật ra thì chưa có ai trong số những SQ, HSQ, và binh sĩ người Kinh trong trại, thấy một người bị thư bụng to bằng cái trống bao giờ. Cho nên cũng không thấy mấy ông “Thầy ngải”, lấy “ngải thư” từ trong bụng của các người bị thư, nghe nói có khi là miếng da trâu, có khi là mấy miếng sắt vụn, hoặc hàng chục cây đinh rỉ sét... Toàn là lời đồn có tính cách dị đoan mà thôi. Sự thật thì SQ người Kinh trong trại, không ai muốn dính líu về xác thịt với các thiếu nữ người Thượng cả, vì sẽ có hại cho tương lai là điều khó tránh được. Còn nói về tình cảm thì lại rất khó xảy ra, vì các cô gái Thượng không biết nói tiếng Việt. Riêng HSQ và binh sĩ người Kinh, thì trong suốt ba năm sống ở Dakpek; người viết có hai lần phải xử phạt một HSQ, và một binh sĩ người Kinh ăn nằm với gái Thượng, xin kể ra một cách đại lược, vì ký ức không còn ghi nhớ được cặn kẻ như sau:

“Vào cuối năm 1971, Trung sĩ Nguyễn Văn N không biết làm cách nào, mà ăn nằm được với vợ của Trung sĩ Y-Prong, trong lúc Y-Prong phải đi hành quân bên ngoài trại 15 ngày. Trung sĩ N không ngờ được rằng, người phụ nữ Thượng vợ của Y-Prong, sáng hôm sau đã đi khoe với vài người vợ của HSQ và binh sĩ Thượng khác. Cô ta khoe một cách tự nhiên và hãnh diện với đại khái là: Người Thượng ‘bắt cái nước’ thì không ‘có vô có ra’, còn người Kinh thì ‘có vô có ra’, thích lắm.

Trung sĩ Y-Prong sau khi hành quân về nghe được, thưa Trung sĩ N đòi bồi thường thiệt hại, là một con heo sống trên 10 ký, và hai ché rượu Cần loại lớn. Lúc đó thì heo, gà, vịt sống, và nhiều nhu yếu phẩm khác, tại Câu Lạc Bộ của đơn vị đều có bán, cho nên BCH Tiểu Đoàn đã y theo đơn thưa, bắt Trung sĩ N phải bồi thường như vậy. Điều đặc biệt là khi heo được làm ra, có đánh tiết canh khá ngon miệng do chính Y-Prong đầu bếp. Tiểu Đoàn Trưởng và một vài SQ người Kinh cùng Thượng, được mời tới ăn tiết canh, uống rượu Cần để chứng kiến. Có cả Trung sĩ N, vợ chồng Trung sĩ Y-Prong, cùng một vài HSQ và binh sĩ Thượng tham dự.

Thượng sĩ Krong-Sem Thường Vụ Tiểu Đoàn cho biết theo phong tục của họ, là sau khi bồi thường như vầy, thì không có chuyện thù hằn gì về sau nữa. Thượng sĩ Sem cũng cho biết là còn hai lần xử phạt nữa, đó là Trung sĩ Y-Prong sẽ phạt vợ y nào là... gà, hoặc vịt, và rượu Cần tùy theo sự thỏa thuận giữa hai người. Họ cũng sẽ mời Thượng sĩ Sem đến dự để chứng kiến, cùng với một vài người bạn thân. Sau đó thì vợ chồng của Trung sĩ Y-Prong, vẫn ăn ở với nhau như lúc bình thường, và không có điều gì ghen tương xảy ra.

Lần phạt thứ ba, là do ‘Già Làng’ của họ quyết định phạt vợ của Y-Prong, với lý do là gái trong làng đã có chồng, còn tư thông với người khác, là phạm luật của làng. Rồi thì cũng phạt rượu Cần, gà, vịt, hoặc heo sống... lần này cũng có mời Tiểu Đoàn Trưởng, hay người đại diện đến làng của họ uống rượu chứng kiến, và lần đó Thượng sĩ Sem được cử làm đại diện.

Được hỏi, nếu một anh Thượng này thông dâm với một chị Thượng khác, mà cả hai đều cũng có gia đình, thì việc xử phạt ra sao? Thượng sĩ Sem giải thích là chồng ngoại tình thì vợ phạt chồng. Vợ ngoại tình thì chồng phạt vợ, và ‘Già Làng’ thì phạt cả hai đứa ngoại tình. Sau khi chịu phạt rồi thì không có thù hằn gì nữa. Đây là phong tục tập quán của họ, Thượng sĩ Krong-Sem giải thích như thế.

Nếu không chịu phạt thì có tội lớn, tức anh em trong làng khinh rẻ. Làng sẽ không thừa nhận họ và không được trở về làng, mà người Thượng thì rất tôn trọng ‘Già Làng’, và cũng rất sợ bị đuổi ra khỏi làng”.

5. Câu Chuyện “Con Trâu Trắng”.

Đến đầu năm 1973, lại xảy ra một chuyện ăn nằm giữa một anh lính trẻ đẹp trai người Kinh, và một cô gái Thượng 16 tuổi khá trắng trẻo xinh đẹp, sự việc đại khái như sau:

“Binh Nhì Lê Văn Q và một cô gái Thượng mới 16 tuổi (không còn nhớ rõ tên) cùng ăn nằm với nhau, bị ‘Chú ruột’ mà cũng là ‘Cha nuôi’, và lại là người ‘Chồng tương lai’ của cô bắt gặp. Anh này là Binh Nhất Y-Xiêng. Sự việc được đưa lên Tiểu Đoàn xét xử, với đơn thưa đòi bồi thường một con trâu trắng. Đây là một câu chuyện khá rắc rối, nếu không được Thượng sĩ Sem giải thích cặn kẽ, về một vài phong tục tập quán có liên quan đến vụ việc, thì thật là khó lòng phân xử.

Số là trong các làng Thượng ở đây có một phong tục khá kỳ lạ, đó là khi người anh chết, thì người em vừa đến tuổi trưởng thành còn độc thân, làng xử là phải lấy chị dâu, để nuôi dưỡng đàn con của người anh để lại. Rồi thì đứa con gái lớn nhất trong đàn con đó, khi được 18 tuổi sẽ phải lấy chú ruột của mình, tức là người em đã phải hy sinh lấy chị dâu đó, coi đây là phần thưởng cho anh ta vậy.

Phong tục này đã khiến vấn đề tính sổ lương, cho người lính Thượng khi cải tuyển qua BĐQ, phải điên đầu. Bởi khi anh lính này còn là Dân Sự Chiến Đấu do Mỹ trả lương, thì rất đơn giản. Nhưng khi cải tuyển sang BĐQ thì đã trở thành lính chính quy, có quân bạ và hưởng quân lương với đầy đủ qui chế hiện hành. Bấy giờ có nhiều anh lính Thượng mới có 19, 20 tuổi, mà lại nạp hồ sơ xin ăn lương một vợ 6 con thì không thể nào tin nổi. Đơn vị phải làm văn bản giải thích rành mạch, và chứng nhận những người lính Thượng đó có vợ con thật sự như vậy, mới được xét cho hưởng lương, và phụ cấp gia đình đầy đủ theo hồ sơ khai báo.

Binh Nhất Y-Xiêng rơi vào trường hợp nêu trên, và đứa cháu gái lớn cũng là người vợ tương lai của anh ta, phải chờ đến năm 18 tuổi mới động phòng hoa chúc. Nay mới 16 tuổi hơ hớ đào tơ, mà bị anh lính Kinh đớp mất, thì thử hỏi anh Binh Nhì Lê Văn Q này làm sao tránh được một tràng đạn vào người?

Thế mà không có chuyện đó xảy ra, chỉ cần anh ‘đền’ một con trâu trắng theo phong tục (?) của họ là xong, không thù oán gì về sau nữa. Một con trâu nghé lúc đó giá cũng năm bảy chục ngàn đồng, còn trâu trắng ước lượng chắc phải mắc hơn. Nhưng làm sao tìm ra con trâu trắng để mua mà ‘đền’ đây? Chưa chắc lùng sục khắp cả Kontum mà tìm cho có được, may ra là ở Pleiku hoặc Qui Nhơn mới có loại trâu trắng này. Giả vụ mua được thì làm sao đưa lên Dakpek đây? Nếu không có trâu trắng để ‘đền’, thì tính mạng anh lính này có thể bị lâm nguy, tức là có thể bị giết, hoặc bị ‘thư’ cho một bụng toàn da trâu thì tiêu đời.

Tiểu đoàn có đề nghị là bắt tên Q thay vì đền trâu trắng, thì đền tiền hoặc đền năm ba bao gạo chỉ xanh cho Y-Xiêng. Nhưng anh ta không chịu, nói đây là tục lệ bắt buộc, nếu không bắt đền như vậy thì con ‘Quỷ’ sẽ vật chết nó, tức Y-Xiêng (?). Cũng may là khi đơn thưa được đưa lên Tiểu Đoàn, thì cũng vừa lúc có tin: trực thăng tiếp tế lương tươi đến trại trong ngày hôm sau. BCH Tiểu Đoàn liền cho phân xử ngay nội vụ trong ngày hôm nay, với sự chứng kiến của Thượng sĩ Sem và Trung úy Wan, để thông dịch lại cho Binh Nhất Y-Xiêng rõ. Đó là Tiểu Đoàn Trưởng sẽ ký giấy phạt 10 ngày tù cho Binh Nhì Lê Văn Q, đồng thời cho y mượn một trăm ngàn đồng, và ký phép cho về Pleiku tìm mua trâu trắng.

Binh Nhất Y-Xiêng nếu đồng ý, cũng sẽ được phép đi theo Binh Nhì Q để cùng mua trâu. Nếu mua được, Tiểu Đoàn sẽ xin Chinook chở trâu theo lưới hàng tiếp tế lương tươi kỳ sau. Số 10 ngày tù sẽ được thi hành giam giữ, sau khi mua trâu trắng trở về, và cũng sẽ trừ một năm lương của Binh Nhì Q cho đủ số tiền một trăm ngàn đồng, hoàn lại cho Tiểu Đoàn Trưởng.

Đây là lối giải quyết có tính cách ‘ma giáo’ của BCH Tiểu Đoàn, vì các lẽ sau:

- Làm sao tìm mua trâu trắng cho được, nhất là ở vùng cao nguyên trong thời buổi chiến tranh này?

- Giả sử có mua được trâu trắng, thì làm sao chuyển về Dakpek cho được? Phương tiện Chinook thời bấy giờ rất hiếm hoi, và cũng không thể nào xử dụng như vậy được.

- Binh Nhì Q khi về Pleiku với giấy phép cầm tay, hắn sẽ đào ngũ luôn thì không còn gì để nói.

- Binh Nhất Y-Xiêng sẽ không đi theo với Binh Nhì Q về Pleiku và Qui Nhơn tìm mua trâu trắng, vì tâm lý chung của lính Thượng ở đây, không ai muốn rời xa vợ con của mình cả.

Nếu Xiêng có đi theo Q ra Pleiku chăng nữa, thì với cái ngơ ngác của anh lính Thượng về thành phố, sẽ bị tên lính Kinh ma mãnh như Q tìm cách đánh lừa bỏ rơi, là chuyện rất dễ dàng.

- Số 100 ngàn đồng đó, đưa cho Q trước mặt Y-Xiêng để anh ta tin tưởng, rồi sau đó lấy lại chứ làm sao ‘trao trứng cho ác’ được?

Quả thật đây là kế lợi dụng tấm lòng ngây ngô, chân thật, của người lính Thượng mà giải quyết vụ việc cho êm đẹp. Binh Nhất Y-Xiêng đồng ý theo lối xử phạt này, nhưng không chịu đi Pleiku. Còn Binh Nhì Lê Văn Q được cấp giấy phép về Qui Nhơn là quê quán của anh ta, với lời rỉ tai là đừng bao giờ trở lên trại nữa. Tức là đào ngũ đi đăng lính khác. Y-Xiêng chờ mãi không thấy Q mang trâu trắng lên, thì cũng phải bỏ qua mà thôi.”

Nhân chuyện bắt đền con trâu trắng, cũng xin nói ra đây một vài tập tục hay là quan niệm sai lầm, mà người viết được nghe hai ông Trung úy Y-Wan, và Thượng sĩ Krong-Sem kể lại trong nhiều năm về trước:

– Khi một người lính Thượng có vợ sinh con, thì vợ phải ra ngoài hè nhà, dùng cây lá che lại mà sinh, không được sinh trong nhà sàn. Còn nếu ở trong trại, thì dùng poncho quây kín một đoạn giao thông hào cho vợ sinh, chứ không được sinh trong hầm trú ẩn của hai vợ chồng.

– Họ luôn từ chối để Sĩ quan Trợ-Y hoặc Y-Tá của đơn vị hộ sinh cho sản phụ, mà do bà mụ người sắc tộc của họ đỡ đẽ. Sinh con xong là người vợ mang con thơ, cùng xuống suối tắm rửa.

– Trong khi sinh, chẳng may người mẹ bị băng huyết chết, thì người cha cũng đập đầu cho đứa con chết theo, vì họ cho đó là “con Ma” hiện ra giết chết vợ họ, chứ không phải là con của họ. Phải giết “con Ma” để trả thù cho vợ. Mãi về sau này, lính trong trại được học tập nhiều, cũng lần lần để y tá hộ sinh cho vợ họ. Nhờ thế mà những “ca khó sinh” cũng được giải quyết kịp thời, không còn có cảnh “con Ma” nghiệt ngã đó xảy ra nữa.

– Có những dị đoan rất khó lòng thuyết phục họ bỏ được, như câu chuyện có hai căn hầm trú ẩn, của hai gia đình lính Thượng ở kề nhau trong Tiểu Đội.

Con của gia đình bên này bị bệnh, thay vì đem lên bệnh xá Tiểu Đoàn chữa trị, thì họ chữa trị bằng thuốc ngải rừng. bệnh càng ngày càng nặng, họ đổ thừa cái hầm nhà kế bên có nuôi con gà, nay con gà đó hiện thành “con Ma” làm con nó bị bệnh, bắt buộc nhà đó phải giết chết con gà đó mới được, nếu không thì lại thưa lên cấp trên giải quyết. Có khi đó là... con vịt, con chó, con heo... nếu hầm nhà bên cạnh nuôi con vật nào, thì đổ thừa con vật đó là “Ma”. Cũng may là những thưa kiện lặt vặt này, đều do cấp Trung đội trưởng, hoặc Trung đội phó người Thượng xử kiện với nhau.

– Cũng có trường hợp con hay vợ bị bệnh, họ cũng cho uống thuốc ngải rừng, rồi van vái nếu hết bệnh sẽ “cúng Giàn” một con heo, hoặc gà, hoặc vịt... bằng cách bẻ một đoạn nhánh cây vài tấc làm “ni”... Sau khi hết bệnh, họ đến câu lạc bộ Tiểu Đoàn dùng “ni” đó, đo từ đầu cho tới đuôi con vật đó, thí dụ là heo chẳng hạn, nếu đúng như cái “ni” hoặc lớn hơn, là họ mua con heo đó về để cúng, giá mắc bao nhiêu cũng mua. Nếu lúc đó trong Câu Lạc Bộ không còn súc vật nào để bán, thì họ chờ chuyến tiếp tế sau mà mua cúng, chứ không dám bỏ luôn. Càng về sau này, các y tá người Thượng ở từng Đại Đội, được lệnh theo sát gia đình từng binh sĩ để cho thuốc cảm, cúm, nhức đầu, sổ mũi... lần lần cũng thuyết phục được họ khi bị bệnh, thì đến y tá mà xin thuốc của Mỹ chữa trị sẽ lành bệnh, thay vì uống ngải rừng.

– Con nít Thượng lại khoái ăn sống bột ngọt. Chúng thường đến Câu Lạc Bộ Tiểu Đoàn, mua từng gói bột ngọt cỡ bằng bàn tay, mở ra bốc từng nhúm bỏ vô miệng nuốt ngon lành. Hết bao này đến bao khác. Giải thích thế mấy, cha mẹ của chúng cũng làm ngơ. Có lẽ vì kẹo bánh cho trẻ nít thiếu thốn, nên con cái của họ khóc đòi ăn bột ngọt như thế, họ cũng phải đành chịu mà thôi...

6. Phát Giác Nội Tuyến.

Thế rồi “Trời Xuân con én đưa thoi”... mấy ngày được gọi là Tết đó cũng qua đi. Bổn phận của một đơn vị biên phòng vẫn thi hành, không lúc nào dám chểnh mảng. Mà... chểnh mảng làm sao được, khi mình bị đặt vào cái “Ốc Đảo” chỉ có kẻ thù luôn rình rập chung quanh, chớ không có đơn vị bạn khả dĩ có thể giúp mình khi đụng trận. Tiếp tế thực phẩm tươi sống, cho hàng mấy trăm con người ở đây đã là khó như vậy rồi, hà huống chi tiếp viện người... khi đơn vị bị địch bao vây? Nếu chểnh mảng thì tự mình tiêu diệt lấy mình... Cho nên câu thơ cuối cùng “Chào Xuân bằng nỗi nhớ niềm đau” ở đoạn trên, áp dụng vào thực cảnh của nơi này thật là sát ý!

Tháng Tết rồi cũng qua, nhịp sống nơi đây vẫn ngày nào giống như ngày ấy. Hai Đại Đội tác chiến vẫn tuần tiểu bên ngoài, một Đại Đội tác chiến phòng thủ bên trong cùng với Đại Đội Chỉ Huy Công Vụ. Đó là theo lý thuyết. Còn thực tế thì mỗi Đại Đội tác chiến có hơn nửa quân số ở bên ngoài, gần nửa còn lại căng mỏng ra phòng thủ bên trong. Bởi vì vị trí của 7 ngọn đồi nối tiếp nhau bên trong Căn cứ quá rộng, nếu theo đúng lý thuyết thì không đủ quân phòng thủ hữu hiệu được. Gặp đêm sáng trăng, ai nấy cũng cảm thấy đỡ lo bọn Việt Cộng, mà họ thường gọi là “bọn chuột” tập kích. Còn những buổi tối trời, lại có nhiều sương mù hoặc mưa rơi rả rích liên miên, thì thật là phập phồng lo sợ khiến giấc ngủ chập chờn...

Cho nên mạnh ai nấy cầm “đèn pin” đi tuần tra vị trí của lính gác giặc suốt đêm. Các binh sĩ Thượng gác giặc, phần đông đều tốt, biết làm tròn trách nhiệm được giao phó. Nhưng thỉnh thoảng cũng bắt gặp một vài anh ngủ gục, vì đã lỡ uống quá nhiều rượu Cần trong lúc đầu hôm... Cho dù... nửa đêm ngồi gác co ro trong cái mền trùm phủ qua vai, nghe gió núi rì rào hắt cái lạnh tê buốt vào da thịt, và muỗi rừng thi nhau chích xuyên qua quần áo trận, thế mà vẫn ngủ một cách ngon lành. Không hẹn mà gặp, hầu như những người cầm “đèn pin” đi kiểm soát, đều là các sĩ quan trong đơn vị từ Đại úy Tiểu Đoàn Trưởng trở xuống, dù cho có người không đến phiên trực của mình... Mới hay tâm trạng bị mất ngủ vào những đêm tối trời ở đây, là cái tâm trạng chung!... Phần sợ đặc công cộng sản lén bò vào, phần lo lính Thượng bị địch quân móc nối làm nội tuyến, có thể nửa đêm nổi loạn hay làm phản bất ngờ... Nhưng có lẽ cái tâm trạng mất ngủ chung của hầu hết các sĩ quan, hạ sĩ quan và binh sĩ người Kinh ở đây là nỗi nhớ nhà, nhớ người yêu da diết khôn cùng!

Có một điều rất đáng quan tâm cho toàn thể người Kinh, đó là hơn 500 quân nhân Thượng ở trong Căn cứ này, chỉ có 2 người được coi là tin cẩn về ý thức chống Cộng hơn hết, số còn lại chưa đánh giá được rõ ràng. Bởi ngôn ngữ bất đồng, và số lớn hạ sĩ quan cùng binh sĩ Thượng không nói rành tiếng Việt. Vì vậy mà mỗi khi muốn sinh hoạt học tập về chính trị, hoặc truyền mệnh lệnh cho họ, đều phải có người thông dịch. Hai người được tín cẩn và cũng kiêm luôn thông dịch, đó là Trung úy Y-Wan Đại Đội Trưởng Đại Đội 3, đóng ở ngọn đồi phòng thủ xa Bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn, và gần bìa rừng phía Tây nhất. Người thứ hai là Thượng sĩ Krong-Sem Thường Vụ Tiểu Đoàn. Họ đều có học chữ Việt đến hết bậc Tiểu học, và tiếng Anh tiếng Pháp cũng nói được khá nhiều. Có lẽ vì thế mà khi cải tuyển, họ được đồng hóa cấp bậc cao hơn hết, trong số hơn 500 quân số lính Thượng của Tiểu Đoàn...


Một buổi chiều kia, Thượng sĩ Krong-Sem lên gõ cửa hầm trú ẩn của Tiểu Đoàn Trưởng cho biết: Có một lính Thượng tên là Y-Blua thuộc Đại Đội 3, đã vắng mặt bất hợp pháp 5 ngày, nay mới trở về hồi trưa...

Tiểu Đoàn Trưởng hỏi:

– Trung úy Wan có nói gì với Thượng sĩ không? Y-Blua thuộc làng nào?

– Dạ thưa Đại úy, Trung úy Wan cho biết nó thuộc làng Longnan 2.

Có hai ý nghĩ đi qua trong đầu của Đại úy Tiểu Đoàn Trưởng và Krong-Sem.

Họ đều cùng chung một điểm nghi ngờ tên Y-Blua này có vấn đề, vì các làng Longnan 1, Longnan 2 và 3 thuộc sắc dân Cô-Hô ở xa Căn cứ nhất, và cũng nằm trên những triền núi cao nhất. Gần như hai phần ba dân làng này đều thiên Cộng, phần còn lại cũng không biểu lộ được gì về ý thức Quốc Gia... kể cả các “Già Làng” là người có địa vị cao trọng nhất trong làng, được ăn lương Xã Trưởng của Quốc Gia, nhưng trong lý lịch vẫn bị đánh dấu hỏi về “thành phần tư tưởng?”.  Ta có gởi Trung sĩ Nguyễn Hai, khá già dặn về chiến đấu cũng như về an ninh tình báo, đến làm cố vấn cho Xã Trưởng Longnan 2, nhưng cho đến nay vẫn chưa thấy báo cáo “MẬT” nào của Hai gửi về.

– Thượng sĩ có xem qua lý lịch của tên Y-Blua chưa?

– Dạ... Em có coi rồi. Cha của nó là lính Việt Cộng, bị chết tại trận Dak-tô trong nhiều năm về trước, nhưng nó giấu dữ lắm.

– Trận Dak-tô? Sao Thượng sĩ biết?

Vừa hỏi, nhưng Đại úy Tiểu Đoàn Trưởng cũng vừa thoảng nhớ đến vùng Dak-tô, nơi mà ông khi mới ra trường, nhận nhiệm vụ Trung đội trưởng Bộ Binh lần đầu, và đã thoát chết trong đường tơ kẻ tóc tại đây. Cuốn phim vừa mới lướt nhanh qua ký ức của ông, thì cũng vừa lúc Sem đáp:

– Dạ hồi mấy ông Mỹ còn ở đây, có kêu em theo dõi nó, và cho biết như vậy.


Cho lệnh Thượng sĩ Sem lui ra xong, Đại úy Tiểu Đoàn Trưởng ngồi trầm ngâm suy nghĩ: “Làm sao khai thác được tên Y-Blua đây? Có phải hắn ta là ‘nội tuyến’ của Viêt Cộng không? Vắng mặt bất hợp pháp 5 ngày, thì bất quá chịu sự rầy la một chập của Đại Đội Trưởng là xong. Hoặc nếu có phạt nặng hơn, thì bắt đi ‘kích’ một tuần là quá lắm rồi”.

Lúc đó, trời chưa tối hẳn. Tiểu Đoàn Trưởng liền cho lệnh thực tập báo động. Ông cắt cử Sĩ Quan Trưởng Ban 3, đi kiểm soát vị trí phòng thủ của Đại Đội 1. Sĩ quan Trưởng Ban 2 kiểm soát vị trí của Đại Đội 2. Trưởng Ban 1 kiểm soát vị trí Đại Đội Chỉ Huy Công Vụ. Còn đích thân ông ta đi kiểm soát Đại Đội 3 (Tiểu Đoàn đang khuyết Tiểu Đoàn Phó). Đây cũng là một việc làm thường xuyên của Căn cứ, cho nên sự “báo động giả” chiều tối hôm nay, không có ảnh hưởng gì đến tâm lý của Y-Blua, nếu thật sự nó là nội tuyến.

Tiểu Đoàn Trưởng cũng đã cân nhắc kỹ về điểm này, tránh trường hợp “bức mây động rừng” trước khi thi hành ý định của mình. Trong lúc đi xem từng hầm trú ẩn chiến đấu chung quanh ngọn đồi, viên Tiểu Đoàn Trưởng thường có thói quen, là lúc nào cũng kiểm tra kỹ càng các khẩu súng nặng... mà nhất là xem xét từng khẩu Đại Liên 30, Đại Liên 60 cùng đạn dược. Ông ta cũng không quên để mắt quan sát những “bệ” xi măng nhỏ, nơi xây cố định những quả mìn Claymore – do Lực Lượng Đặc Biệt Mỹ thiết lập chung quanh hàng rào, còn để lại. Mỗi “bệ” có một quả, được chuyền giây và bộ phận kích hỏa... vào tận trong hầm chiến đấu. Mỗi người lính chịu trách nhiệm vài ba “bệ”, nếu thấy “đặc công Việt Cộng” bò vào, cứ việc bấm bộ phận kích hỏa là tiêu diệt chúng ngay. Dù cho kẻ địch có “chiến thuật biển người” đi chăng nữa, cũng khó mà tấn công lên được. Bởi vì hàng hàng lớp lớp mìn Claymore phòng thủ dày đặc như vậy, người lính trong hầm chỉ cần quan sát kẻ địch cho kỹ, rồi bấm từng quả mìn một, thì hiệu quả tiêu diệt rất cao. Nhưng trọng tâm của ông đi xem hệ thống phòng thủ lần này còn có dụng ý khác:

– Kín đáo nhìn mặt tên Y-Blua, xem vị trí chiến đấu và nơi ở của hắn, để lượng định sự “nội tuyến phản bội” của hắn nếu có, hắn sẽ làm gì khi Việt Cộng tấn công vào Căn cứ?

– Giả vờ phàn nàn Trung úy Wan, về việc tắc trách không kiểm soát kỹ lưỡng vũ khí nặng như Đại Liên, Súng Cối, và các hầm chứa đạn để dơ bẩn, kể cả hàng rào kẽm gai chung quanh đồi, không được làm cỏ sạch sẽ để có tầm quan sát tốt, v.v. Nhưng... cố ý xài xể lớn tiếng, và hăm “ký củ” Trung úy Wan nữa. Mục đích để cho một số các quân nhân đang ngồi trong hầm trú ẩn nghe được, kể cả tên Y-Blua. Tuy họ không biết tiếng Việt, nhưng nhìn thái độ và cử chỉ... thì cũng hiểu được Trung úy Wan đang bị khiển trách nặng. Tội nghiệp Trung úy Wan, một người Thượng hiền lành, lại có cha đi lính cho Pháp đã bị Việt Minh giết. Ông rất căm thù cộng sản và cũng rất siêng năng làm việc... Vậy mà phải bị một trận xài xể khá oan uổng của thượng cấp, đành đứng thế nghiêm cứng người ra chịu trận. Wan không hiểu sao mà thượng cấp hôm nay lại giận dữ như vậy, có lẽ trong lòng ông cũng thấy bất mãn phần nào... Bây giờ thì Tiểu Đoàn Trưởng đã trở về hầm trú ẩn của ông ta rồi, tất cả 7 ngọn đồi phòng thủ của Căn cứ, đều đã kéo thêm kẽm gai Concertina ngang dọc, ngăn chận tất cả các lối đi thông thương qua lại giữa các ngọn đồi. Có nghĩa là sau 7 giờ 30 tối mỗi đêm, tất cả các sự di chuyển từ ngọn đồi này sang ngọn đồi khác đều bị các hàng rào Concertina bít lối. Nhưng Trung úy Wan muốn sang Bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn để gặp riêng Tiểu Đoàn Trưởng, ngõ hầu tìm cách bào chữa cho khuyết điểm của mình. Đồng thời ông cũng sẽ cố dùng lời lẽ mềm dịu, để làm nguôi cơn giận của xếp, nhất là lời hăm phạt trọng cấm theo quân kỷ (tức ký củ) ban nãy... Nhưng ông lưỡng lự, vì muốn sang ngọn đồi của Bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn vào giờ này, là phải đi qua hai ngọn đồi phòng thủ của Trung đội pháo Binh và Đại Đội 2, mà hai nơi này hiện đã kéo kẽm gai chận hết các lối ra vào, cũng như đã gài Mìn Claymore tự động khắp nơi. Muốn đi như thế phải xin phép Tiểu Đoàn Trưởng mới được. Ông dự định dùng điện thoại riêng, giữa ông và Tiểu Đoàn Trưởng để xin phép. Nhưng ông chưa kịp liên lạc... thì chính chiếc điện thoại đó lại reo lên, tức Đại úy Tiểu Đoàn Trưởng đang gọi ông. Vừa nhấc ống “liên hợp” để đàm thoại, Wan vừa nghĩ bụng: “chắc lại xài xể mình nữa đây”.

– A lô! Trung úy Wan đó phải không?
– Thưa Đại úy, Wan đây.
– Vừa rồi tôi hơi lớn tiếng, ông có buồn không?

Câu hỏi có vẻ hòa dịu của thượng cấp, làm Trung úy Wan thấy như vừa trút được gánh nặng trong lòng. Vậy là chuyện ông sắp bị phạt ký củ, cũng có cơ được giải tỏa rồi. Ông ấp úng trả lời không thành câu:

– Dạ... dạ...

– Thôi bỏ qua chuyện đó đi! Bây giờ nghe tôi hỏi đây. Anh đã phạt Y-Blua chưa?

– Dạ thưa... hồi chiều tôi định tập họp Đại Đội lại, tuyên bố phạt nó lau chùi tất cả các vũ khí nặng của Đại Đội, thì Đại úy lại đến kiểm tra phòng thủ, nên phải để ngày mai mới tuyên bố.

– Phạt nó như vậy cũng được, nhưng mà đổi lại, bắt nó làm sạch mấy bãi cỏ rậm hồi nãy tôi chỉ cho anh đó, anh còn nhớ không?

– Dạ... nhớ!

– Đêm nay anh phải kiểm soát lính gác cho kỹ đó nghe. Đừng để tụi nó uống rượu Cần nhiều. Sáng mai anh lên đây gặp tôi.

Sau tiếng dạ... nhỏ của người thuộc cấp, viên Tiểu Đoàn Trưởng gác máy điện thoại, rồi lững thững bước ra sân cờ. Trong đầu ông ta lúc đó cũng đang cố sắp đặt một phương pháp để điều tra khai thác tên Y-Blua, và với tính thật thà chất phác của người Thượng, chuyện điều tra này cũng không có gì là khó khăn cho lắm. Người Thượng nói chung, có một ưu điểm là rất quý mến bản làng và vợ con. Dù cho có đi lính, nhưng phải phục vụ tại địa phương của họ, còn nếu đổi đi xa, thì thế nào họ cũng đào ngũ trở về. Ưu điểm đó nếu biết khai thác là một điểm lợi cho ta. Chẳng hạn như hăm he đổi một người quân nhân Thượng nào đó, đi xa xuống vùng Ban Mê Thuột, hoặc đi xa hơn nữa là họ rất sợ. Cũng vì thế mà họ rất kỷ luật, luôn tuân hành mệnh lệnh, ít khi có thái độ ngang bướng như quân nhân người Kinh ở trong trại. Còn vấn đề đào ngũ của quân nhân người Thượng tại Căn cứ Dakpek này thì không có. Bởi lẽ nếu đào ngũ thì chỉ có trốn theo Việt Cộng, chứ khó lòng về sống ở Kontum, hoặc trở về bản làng của họ được. Qua các điểm này, một kế hoạch rất đơn giản để khai thác Y-Blua được đề ra...

Trung úy Wan sẽ đóng vai “người bất mãn đơn vị” vì bị Tiểu Đoàn Trưởng phạt ký “8 củ”, tức là bị phạt 8 ngày tù trọng cấm, vì không kiểm soát binh sĩ thuộc quyền làm sạch sẽ khu vực phòng thủ, để cỏ mọc quá cao làm hạn chế tầm quan sát về đêm... cũng như không đốc thúc binh sĩ lau chùi vũ khí nặng. Trung úy Wan cho việc “ký củ” này quá khắt khe, và đã cãi tay đôi, cũng như la lối múa tay múa chân với Tiểu Đoàn Trưởng trước hàng quân. Vì thế mà sau đó, có lệnh cho Trung úy Wan phải chuẩn bị về Pleiku trình diện Bộ Chỉ Huy Biệt Động Quân/Quân Khu 2, để đáo nhậm đơn vị khác. Đại Đội 3 của Wan sẽ do Đại Đội Phó, là Chuẩn úy Ngô Cự Tùng tạm thời Xử Lý Thường Vụ, chờ cấp trên bổ nhiệm người thay thế. Kèm theo là danh sách một lô các binh sĩ Thượng, có thành tích uống rượu say, ngủ gục nhiều lần trong giờ gác, hoặc trốn về làng ăn nhậu trong một hai ngày vắng mặt bất hợp pháp, đều bị cho về trình diện ở Pleiku như Trung úy Wan, để đổi đi các đơn vị khác. Lẽ tất nhiên trong đó có Y-Blua. Tất cả đều chờ một hai tuần sau, khi có máy bay Caribou đến tiếp tế thực phẩm tươi, là sẽ lên đường...

Lệnh được ban hành, Trung úy Wan càng bất mãn ra mặt, thường nói xấu thượng cấp bằng tiếng Thượng với những binh sĩ sắp đổi đi. Sau đó ông ta uống rượu li bì, lại rủ các binh sĩ đồng cảnh ngộ, uống hết “ché rượu Cần” này đến ché rượu khác, rồi nguyền rủa tên Tiểu Đoàn Trưởng ác ôn, đã đổi họ đi xa cái bản cái làng của họ. Đã vậy mà vợ con của họ cũng không được đi chung một chuyến phi cơ, mà phải chờ hàng tháng sau nữa khi có chuyến phi cơ tiếp tế khác, mới tháp tùng đi được. Điều này càng khiến họ oán ghét Tiểu Đoàn Trưởng nhiều hơn. Sự thật thì từ khi các Cố Vấn Mỹ rút khỏi Căn cứ này rồi, phương tiện phi cơ tiếp tế rất là hiếm hoi. Nếu Chinook có lên tiếp tế lương tươi cho Tiểu Đoàn hoặc bên Chi Khu Dakpek, thì chỉ thả lưới hàng xuống rồi bay đi, họa hoằn lắm mới đáp xuống chở người. Còn Trực Thăng loại UH1B, nếu có đến Căn cứ, cũng chỉ với nhiệm vụ chở phái đoàn của Bộ Chỉ Huy BĐQ Quân Khu 2, hay Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn II, hoặc Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu Kontum đi thanh tra, đi phát lương theo định kỳ, hoặc thăm viếng đơn vị mà thôi. Lượt về, cũng chỉ chở thêm một, hai người đi công tác đặc biệt, chứ đâu có chỗ trống để chở vợ con binh sĩ. Chỉ còn chờ có phương tiện duy nhất là máy bay Caribou, mỗi tháng đáp xuống một lần, để tiếp tế đồ tiếp liệu, đạn dược, thực phẩm, v.v. thì chừng đó mới chở các bệnh binh, các quân nhân thuyên chuyển, nghỉ phép... và nếu còn chỗ trống mới đến lượt vợ con của họ. Lại có nhiều khi vì lý do này hay lý do khác, hoặc là điều kiện thời tiết không cho phép, vài ba tháng mới có Caribou một lần. Do vậy, có nhiều khi các quân nhân người Kinh đi công tác, đi phép, phải chờ dài người ra mới lên phi cơ được. Đó cũng là chuyện thường! Còn quân nhân người Thượng và vợ con họ, thì gần như là không có nhu cầu phải đi phi cơ. Muốn cho họ cùng vợ con ra Kontum nghỉ phép vài bữa rồi rước về, họ cũng không chịu... Vì tất cả những nhu yếu phẩm như gạo cơm, muối mắm, v.v. thì được Ban Tiếp Liệu Tiểu Đoàn hay Chi Khu phát theo tiêu chuẩn. Nếu thiếu thì họ mua thêm ở Câu Lạc Bộ của đơn vị. Câu Lạc Bộ này do Đại Đội Chỉ Huy Công Vụ chịu trách nhiệm cử người về Kontum, mua khá đầy đủ hàng hóa gởi theo từng chuyến phi cơ tiếp tế, để bán lại cho mọi người. Thế nên họ không có nhu cầu gì bức thiết phải đi ra Kontum cả. Điều rõ nhất, là họ sợ không có phi cơ trở về trại, vì có khi phải chờ đến hàng tháng trời, thì tiền lương đâu mà xài?...

...Càng uống rượu, càng nghĩ đến chuyện vợ con của họ phải hàng mấy tháng sau mới đi theo được, họ càng oán than nhiều hơn nữa... Và... Trung úy Wan tìm cách khai thác họ, thậm chí còn rủ họ đào ngũ theo Việt Cộng nữa là đàng khác... Vì nếu mang súng đạn trốn đến “Mật Khu Bông Hồng tức Mật Khu 609”, cách trại trên 30 cây số về hướng Tây-Tây-Bắc là an toàn. Ở đó, nghe đâu là Bộ Chỉ Huy Mặt Trận B3, do Tướng Hoàng Minh Thảo của Việt Cộng từ miền Bắc vào chỉ huy. Mang súng đạn đào ngũ đến đó sẽ được tưởng thưởng tiền bạc, gạo muối xứng đáng, theo như những truyền đơn viết tay, mà họ đã lén lút bỏ vào các rẫy của dân làng... Có điều là toàn thể dân Thượng ở đây đã từng nghe đồn về “Mật Khu” này toàn là rừng núi rậm rạp, sương mù bao phủ quanh năm, địa thế hiểm trở, và cũng là vùng “Oanh kích tự do”.

Theo như dân làng kể lại, từ trước đến nay, chưa có một đơn vị Quân Lực VNCH, và đơn vị Mỹ nào hành quân vào đấy cả, cho nên nó coi như “bất khả xâm phạm”. Chỉ có thỉnh thoảng máy bay thả bom của phe ta đi ngang, trút bỏ bom còn thừa xuống rồi bay mất. Nếu đứng từ chỗ cao nhất của Căn cứ Dakpek, hoặc trên trực thăng phóng tầm mắt nhìn về mật khu này, cũng chỉ thấy núi, mây, sương phủ mịt mù, rừng lá dày đặc xanh um đầy vẻ sơn lam chướng khí. Cách trại trên 30 cây số, và dù cho đi đường núi cao hiểm trở, nhưng với người sắc tộc ở đây, kể cả già trẻ lớn bé, đều có thể đi đến đó một cách dễ dàng. Trung úy Wan khích động mọi người rằng, nếu mình có đào ngũ đến Mật Khu Bông Hồng, rồi vợ con mình cũng sẽ tìm theo một cách dễ dàng... Chứ để bị đổi đi Ban Mê Thuột quá xa xôi kia, thì vợ con biết bao giờ mới theo được... Nhưng muốn đào ngũ theo Việt Cộng, thì phải cần có người của họ hướng dẫn mới được an toàn... Và kết quả như ý muốn... tên Y-Blua đã thố lộ sự tình...

Sở dĩ y vắng mặt trong đơn vị 5 ngày, là được người trong làng Longnan 2 móc nối, đưa vào mật khu đó để nhận chỉ thị của tên Y-Doan. Doan là một cán bộ có vẻ cao cấp, lại khoe là chỉ huy toàn bộ du kích Thượng trong mật khu. Nhiệm vụ mà Doan giao cho Y-Blua là cắt đứt hết các giây mìn Claymore, và tìm cách bỏ cát vào tất cả các Đại liên phòng thủ trên ngọn đồi của Đại Đội 3, mà phải hành động hoàn tất trước 12 giờ khuya ngày N, không được sớm hoặc muộn. Đến 1 giờ sáng ngày N+1, tức là sau khi nhiệm vụ của Y-Blua hoàn tất khoảng một giờ, thì các toán “Đặc Công Việt Cộng” sẽ bò vào cắt hàng rào kẽm gai, cho tới đúng 3 giờ sáng thì khai hỏa và tràn vào tiêu diệt Căn cứ.

Khi Y-Blua cắt hết giây mìn Claymore, và tìm cách bỏ cát vào tất cả các súng Đại liên xong, thì trốn vào trong hầm trú ẩn, tháo súng cá nhân của mình ra. Đến khi Việt Cộng tấn công tràn vào Căn cứ, sẽ giết hết những tên lính chống trả ngoài hầm chiến đấu... Rồi sau đó sẽ đi lục soát và tiêu diệt từng tên lính một trong các hầm ngủ, nếu thấy ai tháo rời vũ khí để trước cửa hầm, thì biết là bạn mà không giết.

Ngày N sẽ có người liên lạc với Y-Blua cho biết sau, nhưng sẽ khai diễn vào khoảng tháng tới. Còn dò hỏi về Mật Khu Bông Hồng, tên Y-Blua đã cho Trung úy Wan biết, y chỉ gặp Y-Doan ở ngoài bìa rừng sát mật khu, chớ không được vào bên trong. Nhưng theo hắn quan sát, thì bên trong có nhiều đường mòn chằng chịt chạy sâu trong rừng rậm. Hắn còn thấy thấp thoáng một vài tên bộ đội Việt Cộng người Kinh, ra gần bìa rừng nhổ khoai mì và bẻ bắp, vì có nhiều khoảnh đất trồng các loại này, kể cả khoai lang và bầu bí nữa. Thỉnh thoảng hắn cũng còn nghe có tiếng động cơ, từ bên trong theo chiều gió vọng ra, nhưng không biết là loại động cơ nào? Tên Thượng Cộng Y-Doan cho Blua biết nhiệm vụ chỉ có thế, và hành động tại ngọn đồi của Đại Đội 3 mà thôi. Còn các ngọn đồi kia, đã có các “đồng chí nội tuyến khác” phụ trách. Blua cũng không biết các người nội tuyến khác đó là ai? Ám hiệu nhận diện nhau, sẽ có người thông báo cho Y-Blua vào giờ phút chót. Sau khi chiếm được Căn cứ Dakpek, kể cả hai bên Biệt Động Quân và Chi Khu, giết chết hết bọn “ngụy” người Kinh, Y-Blua sẽ được “phong hàm” Trung úy Đại Đội Trưởng, tên Doan đã hứa như vậy. Blua được ngủ lại đó hai đêm, nằm trong cái hang nhỏ bên triền núi với hai người du kích Thượng. Hai người này trên 40 tuổi, cũng là dân làng Longnan 2, nhưng họ đã theo Việt Cộng từ mười mấy năm về trước, lại được huấn luyện về quân sự ở Nam Lào. Họ tiết lộ: “Bộ Đội Bắc Việt ở trong mật khu này rất đông, và phen này sẽ san bằng từ Dakpek cho tới Kontum...”

 

Nghe Trung úy Wan báo cáo khai thác tin tức nội tuyến của Y-Blua, viên Tiểu Đoàn Trưởng hơi nhíu đôi chân mày đăm chiêu suy nghĩ. Quay sang Thiếu úy Trần Văn Hà Trưởng Ban 2, ông hỏi:

– Thiếu úy Hà nghĩ sao về nguồn tin này?

Hỏi để mà hỏi, chứ ông ta cũng đã tin vào sự khai thác của Wan. Tuy rằng Wan chưa qua lớp tình báo nào, cho nên không khai thác được nhiều về địch tình tại Mật Khu Bông Hồng, chẳng hạn như quân số, vũ khí, và tiếng động cơ nổ từ trong rừng sâu của mật khu vọng lại, v.v. nhưng xem ra lời thố lộ của Y-Blua là đúng sự thật.

– Thưa Đại úy, nguồn tin có giá trị rất cao. Thiếu úy Hà trả lời.

Chuẩn úy Nguyễn Văn Vinh, Xử Lý Thường Vụ Trưởng Ban 3 của Tiểu Đoàn lo lắng hỏi:

– Anh nghĩ rằng Việt Cộng có thể đánh ta?

Hà trả lời:

– Theo sự phối hợp nguồn tin này, với nguồn tin từ Phòng 2 Bộ Chỉ Huy Biệt Động Quân/Quân Khu 2 ở Pleiku, thì việc Việt Cộng tấn công Kontum và các trại biên phòng ở vùng này rất phù hợp. Trại của ta là nơi xa Kontum nhất, khả năng bị tấn công không thể loại trừ được.

Thiếu úy Nguyễn Tôn Tòng, Đại Đội Trưởng Chỉ Huy Công Vụ nói xen vào:

– Lần này có thể có tăng T-54 của chúng tham dự nữa.

Mọi người nghe đều im lặng. Tất cả có vẻ suy nghĩ, vì gần đây các truyền đơn viết tay của bọn chúng, dân làng lượm được đem giao nộp cho ta, đều hăm dọa là sẽ cho xe tăng cày nát Căn cứ. Nhưng hai tiếng “lần này” mà Thiếu úy Tòng vừa nói đó, làm mọi người lo lắng hơn hết... Thiếu úy Tòng là một Sĩ quan của Binh Chủng Lực Lượng Đặc Biệt, đã ở trại này từ nhiều năm trước. Đến khi trại cải tuyển thành Tiểu Đoàn 88 Biệt Động Quân Biên Phòng, anh ta đương nhiên là sĩ quan của Tiểu Đoàn, chỉ đổi màu Mũ Bê-rê Xanh của Lực Lượng Đặc Biệt, sang mầu Mũ Bê-rê Nâu của Binh Chủng BĐQ mà thôi. Tòng cũng đã từng đương đầu với trận tấn công ác liệt của Việt Cộng, vào Căn cứ Dakpek này hồi năm 1970, lúc đó do Lực Lượng Đặc Biệt Mỹ và Việt Nam chỉ huy. Bằng phương tiện về tiếp vận, tiếp viện và hỏa lực dồi dào, Lực Lượng Đặc Biệt Mỹ và Việt Nam [Cộng Hòa] đã chiến thắng vẻ vang.

Trước đó 2 năm, tức năm 1968, anh nghe kể lại, Việt Cộng cũng đã tấn công Dakpek, và cũng bị thất bại chua cay với LLĐB Mỹ-Việt, và lính Dân Sự Chiến Đấu của trại. Năm 1968 Việt Cộng bị thua, nhưng chúng rải truyền đơn hẹn năm 1970 sẽ san bằng Dakpek. Năm 1970 chúng giữ lời hứa, nhưng vẫn bị thua nữa, và lại hẹn năm 1972 sẽ tái đấu... Cho nên anh dùng hai tiếng “lần này”, vô tình đã nhắc nhở mọi người rằng... biết đâu chúng giữ lời hứa như năm 1970? Mà “lần này”, rõ ràng là thực lực của ta đã giảm đi gần như trọn vẹn... về sự yểm trợ của Quân Đội Mỹ! Chúng lại có xe tăng xâm nhập vào Miền Nam như tin tức tình báo, và báo chí ở Sài Gòn đã từng loan, thì việc có xe tăng tham dự như Thiếu úy Tòng vừa nói, không phải là vô căn cứ? Lính của Tiểu Đoàn đa số là người Thượng, tuy có kinh nghiệm quần thảo với Cộng nô trong mấy trận trước. Nhưng chưa lần nào họ được huấn luyện về việc chống xe tăng... thậm chí phần lớn trong số họ, cũng chưa nhìn thấy chiếc xe tăng của ta, chứ đừng nói gì là xe tăng T-54 của địch. Nếu “lần này” có xe tăng của Việt Cộng tấn công vào Căn cứ, họ dám tốc hầm bỏ chạy lắm chớ chẳng phải là không? Mọi người cũng đồng lo lắng thêm điểm này nữa!

(Quả thật, năm 1974, VC lại tấn công Dakpek thêm một lần nữa và có xe tăng T-54 tham dự. Lính Thượng đã tốc hầm bỏ chạy, Căn cứ bị san bằng! Ghi chú của người viết).

Cuộc họp “MẬT” của Bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn, để nghe Trung úy Wan thuật chuyện khai thác tên Y-Blua, đến đây coi như kết thúc. Mọi người lần lượt rời khỏi hầm riêng của Tiểu Đoàn Trưởng, trở về hầm của mình với sự nặng trĩu trong lòng... Đại úy Tiểu Đoàn Trưởng cũng không kém phần lo âu. Quả thật, bọn VC đã điều nghiên khá kỹ về Căn cứ Dakpek này. Căn cứ có 6 ngọn đồi liên tiếp bao quanh ngọn đồi của Bộ Chỉ Huy ở giữa. Mỗi ngọn đồi đều có xây nhiều ụ bằng xi măng để đặt súng Đại Liên 30, Đại Liên 60, và nhiều bệ nhỏ cũng bằng xi măng để đặt mìn Claymore cố định, dùng vào việc phòng thủ. Giả sử mà tất cả các nòng súng Đại Liên đều bị bỏ cát vào, và giây Claymore đều bị cắt rời với bộ phận kích hỏa, thì còn đâu hỏa lực hùng hậu cho việc phòng thủ nữa? Một thoáng rùng mình cho vị Tiểu Đoàn Trưởng, khi ý nghĩ đó vừa lướt qua trong đầu! Ông suy nghĩ tiếp: Cả một Căn cứ rộng lớn như thế này, mà quân số thực hiện không được đầy đủ theo Bảng Cấp Số! Rồi phải thường xuyên có quá nửa quân số hành quân tuần tiểu bên ngoài, số còn lại phòng thủ bên trong quá ít, quá mỏng. Nếu địch tấn công thật sự, mà hỏa lực chủ yếu là Đại Liên và mìn Claymore không bị tê liệt, thì không đáng ngại. Có thể cầm cự được qua đêm, để khi trời sáng điều động lực lượng tuần tiểu bên ngoài phản công lại. Hoặc dùng bom trút xuống chung quanh vị trí Căn cứ, theo như “Kế Hoạch Phòng Thủ” đã được ước tính, và cũng đã đệ nạp lên Phòng 3/BCH/BĐQ/Quân Khu 2 từ trước. Những ước tính địch tấn công từ mọi hướng vào Căn cứ, cũng như kế hoạch phản công, tiếp viện, đánh bom để giải vây Căn cứ, và tiêu diệt đặc công... đều đã được BCH/Tiểu Đoàn soạn thảo kỹ càng từ nhiều tháng trước. Chỉ cần cầm cự qua đêm, thì sáng hôm sau, cấp cao ở Pleiku sẽ theo đó mà hành động yểm trợ dễ dàng. Nhưng vấn đề nội tuyến này, quả thật là khúc xương hóc búa, nằm chặn ngang cổ họng của viên Tiểu Đoàn Trưởng... Ông đứng lên bước sang phòng làm việc kế bên, mở ngăn kéo lấy ra một tập hồ sơ khá dầy, bên ngoài có bìa cạc-tông cứng với chữ “MẬT” đỏ chói. Đó là bản “Kế Hoạch Phòng Thủ và Phản Công” của đơn vị. Bên trong, ngoài một xấp giấy đánh máy, còn có nhiều sơ đồ, phóng đồ được vẽ kỹ lưỡng trên giấy bóng mờ, với những vòng cao độ, những mũi tên xanh đỏ đối đầu nhau... Xem hồ sơ đó một lúc lâu, ông ta xếp lại trong tiếng thở dài, bởi vì những dự liệu, tiên liệu phản công khi bị địch quân tấn công trong hồ sơ này, đáng tiếc, sẽ bị coi như vô hiệu hóa... nếu ta không phát giác được nội tuyến kịp thời. Giả dụ trước khi địch tấn công, kẻ nội tuyến đã làm cho các mìn Claymore cố định, và hàng chục khẩu Đại liên 30, 60, đều bị bất khiển dụng cả, thì trời chưa sáng địch đã tràn ngập Căn cứ và hủy diệt hết rồi. Còn đâu nữa sự yểm trợ bằng Không Quân, nếu có, cũng phải vào khoảng 11 giờ trưa... sau khi sương mù tan hết? May mắn là ta phát giác được nội tuyến, nhưng khai thác, cũng chưa nắm vững được nhiều về ý đồ tấn công của đối phương.

Trong Sơ Đồ Phòng Thủ ngoài vị trí của các súng nặng như Cối 81, Cối 60, Đại bác 57ly không giật, Đại liên 30, v.v. còn chỉ rõ có hàng trăm thùng lựu đạn loại phòng thủ, được đặt rải rác chung quanh giao thông hào của cả 7 ngọn đồi. Thêm vào đó, với nhiều vòng rào “đánh rối” chống đặc công bò vào, cùng với hàng hàng lớp lớp những “cây chông” dày đặc kia, liệu có cản được bước tấn công liều lĩnh của địch không? Nhưng điều chủ yếu nhất là đã có bao nhiêu người lính Thượng bị mua chuộc làm nội tuyến rồi đây? Nếu địch quân dùng Bangalo chuyên phá hàng rào kẽm gai phòng thủ, để tấn công phối họp với nội tuyến bên trong, thì sự việc sẽ diễn biến ra sao?

Các Trưởng Ban 2, Ban 3, và các nhân viên An ninh Tình báo của Tiểu Đoàn, lại là những sĩ quan vừa mới ra trường, hoặc thiếu kinh nghiệm chiến đấu. Các hạ sĩ quan thì cũng thế. Nếu đụng trận thật sự, và ngay phút đầu, Tiểu Đoàn Trưởng bị loại khỏi vòng chiến, thì ai có khả năng thay thế đây? Tiểu Đoàn chưa được bổ sung Tiểu Đoàn Phó. Người Kinh có cấp bậc cao nhất sau Đại úy Tiểu Đoàn Trưởng là Trung úy Thành đang là Đại Đội Trưởng Đại Đội 2. Cấp bậc của anh ta cũng vừa mới lên chưa được bao lâu... Liệu anh ta có thể thay thế được nhiệm vụ chỉ huy Tiểu Đoàn, trong lúc dầu sôi lửa bỏng này hay không? Chắc chắn là một gánh nặng trên khả năng, và kinh nghiệm của anh ta rồi! Trong tổng số 42 người Kinh kể cả Tiểu Đoàn Trưởng, thì có 6 người gởi đi cố vấn các làng Thượng như đã nêu ở đoạn trên. Lại còn có 8 người gồm 3 binh sĩ và 5 Hạ sĩ quan trong tình trạng bất mãn thượng cấp. Thượng cấp đây là Bộ Chỉ Huy BĐQ/QK2, vì các quân nhân này vốn là những tay xì-ke nặng, chuyên đánh bạc, rượu chè, quấy rối dân chúng ở các đơn vị BĐQ tổng trừ bị cho Quân Đoàn. Họ bị thuyên chuyển lên Tiểu Đoàn Dakpek này để cai nghiện. Lên tới Dakpek là coi như không có đường bộ về lại Kontum, vì với khoảng cách độ 80 cây số đầy núi non hiểm trở này, đã không có tay BĐQ giang hồ mã thượng nào dám đào ngũ trở về Kontum cả. Thuốc xì-ke thì không có, họ bị cơn ghiền vật vã rất thảm thương. Tối ngày họ chỉ biết uống rượu loại nặng độ, cho say để quên đi ma túy, nhưng rồi rượu cũng không còn vì máy bay tiếp tế cũng không có. Rượu Cần của người Thượng thì nhẹ độ, phải uống cả một hai “ché” mới “phê”. Tấm thân tàn ma dại của họ chỉ biết vừa ngáp, vừa run cầm cập, vừa chửi thượng cấp ở BCH/BĐQ ngoài Pleiku. Cuối cùng rồi họ phải ra bờ suối trầm mình cả ngày... để tự cai nghiện. Đây là phương pháp cai nghiện ma túy không biết do ai nghĩ ra, nhưng ngày nào cũng trầm mình như thế độ hai tuần lễ, thì tạm coi là quên được xì-ke. Và rồi thì... họ cũng cai được ma túy, nhưng lại mang lấy chứng nghiện rượu nặng, và thường tìm cách trốn vào các làng Thượng để lấy “gạo sấy” đổi rượu Cần.

Các sĩ quan người Kinh trực tiếp chỉ huy họ cũng thông cảm, và dễ dãi để họ muốn làm gì thì làm, nhưng không được đánh lộn hoặc làm ồn ào trong Căn cứ. Gần như có họ... mà cũng như không? Các Tiểu Đoàn BĐQ Biên Phòng đều có một toán chuyên viên về máy Sensor, có nhiệm vụ dùng máy móc tối tân, theo dõi sự di chuyển của địch quân khi đến gần Căn cứ. Tiểu Đoàn Dakpek cũng không ngoại lệ, nhưng hiện thời toán Sensor này cũng đang bị thất nghiệp, vì các máy đặt bên ngoài Căn cứ gặp lúc này là mùa khô, dân làng đốt rừng làm rẫy để chuẩn bị cho mùa mưa gieo trồng, vô tình đã thiêu rụi đi tất cả. Theo các chuyên viên cho biết, Trại Dakpek được cài đặt loại máy Sensor cảm ứng theo tiếng động, và loại này, có cái hay mà cũng có cái dở của nó. Loại Sensor trên Trực Thăng phóng xuống, hay là loại đào đất đặt máy bằng tay, tất cả cũng chỉ trồi lên mặt đất có mỗi cái “ăng ten” mỏng như lá lúa. Hễ địch quân hoặc trâu bò, nai, heo rừng... đi gần, nó cảm nhận được tiếng bước chân di động trên mặt đất, lập tức màn ảnh tại Tổng Đài của Trại chớp sáng lên. Cứ một bước chân đi gần là nó chớp một cái. Nhiều bước chân thì chớp tắt liên miên. Người chuyên viên chỉ cần đếm bao nhiêu cái chớp tắt đó, để đánh giá về quân số của địch... Nhiều khi nửa đêm máy chớp tắt liên hồi, Tiểu Đoàn Trưởng phải cho lệnh “báo động”, mọi người phải chạy nhanh ra giao thông hào sẵn sàng tác chiến... Đến sáng hôm sau, cho người ra xem, thì đó là một bầy heo rừng đã đi qua... còn để lại dấu chân trên sương ướt. Kiểu báo động “bé cái lầm” này, vẫn là chuyện thường xảy ra, nhưng thà có “lầm” còn hơn là không có máy Sensor. Toán chuyên viên do Quân Đoàn biệt phái xuống, gồm một Thiếu úy và hai Hạ sĩ quan người Kinh, vì không có phi cơ để trở về Quân Đoàn II tại Pleiku, để xin máy Sensor mới và hoán chuyển với toán khác, họ đành ngồi chơi xơi nước... Tuy nhiên có họ vẫn còn hơn không. Dầu sao thì cũng có 3 tay súng tăng cường cho trại. Giá mà máy Sensor vẫn còn hiệu dụng trong lúc này, thì cũng đỡ lo cho mọi người trong Căn cứ phần nào!

Trưa hôm sau, Trung úy Wan lại ngầm báo với Tiểu Đoàn Trưởng, thêm môt nguyên nhân nữa khiến tên Y-Blua làm nội tuyến. Thì ra y mê một nàng Thượng tên Keng-Thi, từng được coi là “hoa khôi” của làng Longnan 2 trong 3 năm về trước. Hồi nhỏ, Blua và Keng-Thi rất mến nhau. Nhưng lớn lên, Keng-Thi lại phải lòng và lấy tên du kích Y-Drong rất đẹp trai, lại thổi “khèng” rất hay. Vợ chồng họ đều tham dự trận đánh vào Căn cứ Dakpek hồi năm 1970, và Y-Drong tử trận. Keng-Thi trốn vào Mật Khu Bông Hồng... Nay Keng-Thi lại móc nối Y-Blua... Tình cũ nghĩa xưa qua cái liếc mắt đưa tình của người đẹp, và cái cấp Trung úy Đại Đội Trưởng mà tên Y-Doan đã hứa, là những cái mồi có hiệu quả cao... dẫn đưa Y-Blua làm nội tuyến. Chứ cha y bị “lính ngụy” giết trong trận Dak-tô, khiến y ôm hận theo VC để trả thù, chỉ là thứ yếu. Còn tin vào chủ thuyết và giáo điều của cộng sản, thì đối với một tên Thượng dốt nát như Y-Blua, chắc không bao giờ có? Đại úy Tiểu Đoàn Trưởng đã đánh giá như thế.

 

Bao nhiêu những diễn biến của tình hình nội tuyến, và tình trạng máy Sensor hết hiệu dụng nêu trên, đều được báo bằng công điện về Bộ Chỉ Huy BĐQ/Quân Khu 2 ở Pleiku, để xin chỉ thị và yểm trợ. Nhưng ở đây cũng không giúp đỡ được gì, chỉ khuyên nên cẩn thận phòng thủ mà thôi. Bởi vì tất cả các tin tức tình báo chiến lược và chiến thuật đều cho biết:

– cộng sản Bắc Việt đang rầm rộ chuyển quân vào Nam, qua ngõ đường mòn Hồ Chí Minh – và hàng loạt những Căn cứ Biên Phòng do BĐQ trấn đóng, dọc theo biên giới Việt-Lào, và Việt-Miên của Vùng I và II Chiến Thuật, đều có cùng chung một bầu không khí căng thẳng, không biết chúng sẽ bất thần tập kích vào Căn cứ lúc nào?

Riêng các Căn cứ Biên Phòng ở Vùng II Chiến Thuật có phần chịu áp lực nặng nề hơn, khiến Đại tá Nguyễn Văn Đương, Chỉ Huy Trưởng BĐQ/QK2, và Bộ Tham Mưu của ông cũng mất ăn mất ngủ. Tất cả 12 Căn cứ Biên Phòng trong lãnh thổ Quân Khu 2, dưới quyền chỉ huy của ông, đều đồng loạt gởi báo cáo về địch tình khá căng thẳng, nơi vùng trách nhiệm của họ. Trong đó có hai Căn cứ Benhet và Dakseang – theo sự lượng giá về tình báo của cấp cao – là chịu áp lực của địch quân nhiều hơn hết. Còn tình trạng nội tuyến của Dakpek, dù cho có khai thác rõ ràng như vậy, cũng chỉ được thượng cấp đánh giá là, ít có khả năng tấn công của địch vào đấy.

Tại sao vậy? Vì Dakseang là một Căn cứ tương đối ít quân số hơn Dakpek, lại nằm trong một vùng đồi thoai thoải, cách Dakpek khoảng 28 cây số về hướng Nam, có nghĩa là gần tỉnh lỵ Kontum hơn. Nhưng nếu địch dùng xe tăng và đại pháo ào ạt tấn công, thì Dakseang khó lòng cầm cự để chờ tăng viện được. Căn cứ Benhet ở về hướng Nam của Dakseang, có lợi điểm về địa thế phòng thủ và nhân sự hơn Dakseang. Nhưng nó lại là cái “yết hầu” của thủ phủ Kontum. Muốn đánh Kontum thì địch phải cầm chân, hoặc xóa sổ nó. Cả Dakseang lẫn Benhet, VC có thể điều động tăng T-54 dễ dàng hơn Dakpek.

Tóm lại, địch sẽ đe dọa Dakpek, có thể “hốt” Dakseang, cầm chân Benhet, và đánh ác liệt vào Kontum trong một thời gian ngắn sắp tới... Đó là sự suy tính của một số Sĩ quan Tiểu Đoàn 88/BĐQ/Biên Phòng Dakpek, mà dường như trùng hợp với sự suy tính của thượng cấp cũng chưa biết chừng, cho nên sự quyết tâm yểm trợ mạnh mẽ cho Dakpek không được chú trọng nhiều... Nhưng riêng Tiểu Đoàn Trưởng thì nghĩ ngược lại, nếu bỏ lơ không yểm trợ tối đa... thì Dakpek có thể bị tế thần trước hết. Chẳng những không yểm trợ tối đa, mà ngày 12 tháng 3 năm 1972, tức là sau 2 ngày báo cáo phát giác nội tuyến Y-Blua, Bộ Chỉ Huy BĐQ/QK2 gởi công điện “Thượng Khẩn”, bắt buộc Tiểu Đoàn 88 BĐQ/Biên Phòng Dakpek, phải tăng cường một Đại Đội cho Tiểu Đoàn 90 BĐQ/Biên Phòng, tức Căn cứ Dakseang trong vòng 10 ngày, thi hành ngay lập tức và phải hoàn tất việc di chuyển nội trong ngày. Thật là một nhát búa khủng khiếp bổ vào đầu của Tiểu Đoàn 88! Eo ôi! được lệnh của thượng cấp, mà toàn thể sĩ quan và hạ sĩ quan người Kinh trong Căn cứ, đều bồn chồn lo lắng... Quân số của Tiểu Đoàn đang thiếu hụt, VC có thể tập kích bất cứ lúc nào, mà lại phải biệt phái một Đại Đội cho Dakseang, khiến ai nấy cũng đều ăn ngủ không yên. Thế là Đại Đội 2 do Trung úy Thành chỉ huy cấp tốc ra đi, chỉ mang theo một cấp số vũ khí đạn dược và đồ ngủ gọn nhẹ. Thực phẩm dùng trong thời gian biệt phái, và những trang cụ linh tinh khác, sẽ do Tiểu Đoàn 90 chịu trách nhiệm. Với khoảng cách không đầy 30 cây số, họ di chuyển đến chiều tối thì tới nơi.

Sở dĩ phải cắt cử Đại Đội 2 của Trung úy Thành đi tăng phái cho Dakseang, là vì hai Đại Đội 1 và 3 sẽ gặp nhiều trở ngại trong nhiệm vụ này. Đại Đội 1 do Thiếu úy người Kinh tạm thời xử lý thường vụ, kinh nghiệm chỉ huy chưa thích ứng với việc xuất quân đi xa. Nhất là phải điều quân theo chiến thuật di hành... trong đường núi quanh co hằng 30 cây số, và rất dễ dàng bị địch phục kích bất ngờ. Còn Đại Đội 3 của Trung úy Wan... thì lại càng không thể tăng phái được, bởi vì khu vực phòng thủ của Đại Đội này rất quan trọng. Việt Cộng nếu muốn đánh vào Căn cứ, thì chủ yếu là phải xung phong vào khu vực của Đại Đội 3 này trước. Cho nên xáo trộn phòng thủ khu vực của Đại Đội 3 trong lúc này, thì rất nguy hại nếu bị địch tấn công... Sự phòng thủ về đêm của Căn cứ Dakpek, vốn dĩ đã mỏng, giờ lại càng mỏng hơn.

Tiểu đoàn phải điều động Trung đội trinh Sát do Chuẩn úy Nguyễn Văn Giờ chỉ huy, thay vì phòng thủ ngọn đồi của Bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn, nay lại phải sang phòng thủ khu vực của Đại Đội 2. Ngọn đồi của Bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn đành phải bỏ trống, nhưng nhờ nó nằm giữa 6 ngọn đồi kia bao bọc, nên cũng đỡ lo. Quân số hoạt động liên tục bên ngoài vẫn phải duy trì, tuy có ít số người hơn như đã ấn định, nhưng không dám rút về co cụm lại. Vì nếu co cụm, là tự mình bịt mắt quan sát của mình. Vấn đề đỡ lo ngại phần nào, là gần 400 lính Thượng còn lại của Tiểu Đoàn, họ không biết nhiều về sự phát giác nội tuyến, cũng như không biết gì về áp lực của địch đang đè nặng. Họ vẫn làm việc một cách bình thường, không có gì biểu lộ về sự giao động tinh thần. Suy cho cạn cùng, việc tăng phái Đại Đội 2 cho Căn cứ Dakseang, cũng đem lại lợi điểm về tinh thần, cho người Thượng của Dakpek chớ chẳng phải là không? Vì với đầu óc suy nghĩ giản dị của họ, việc tăng phái Đại Đội 2 là chứng tỏ Dakseang nguy ngập hơn Dakpek... Kẻ đi tăng phái mới đáng lo hơn kẻ ở lại... Chính Thượng sĩ Krong-Sem và Trung úy Wan, đã cho người tín cẩn dò hỏi như thế! Lại nữa, tiền đồn quan sát của Chi Khu Dakpek nằm trên cao độ 1270m (cao nhất vùng), báo cáo về cho biết: “Trong mấy đêm liên tiếp vừa qua, họ nhìn về phía hướng Dakseang, thấy có nhiều tia sáng của đèn pha xe hơi, và thỉnh thoảng theo chiều gió, họ cũng nghe được tiếng máy xe nổ văng vẳng...”

Rõ ràng là xe tăng của địch đang di chuyển không sai! Nhưng Ban 2 Tiểu Đoàn theo lời dặn của Tiểu Đoàn Trưởng, phải cho binh sĩ biết đó là xe tăng của ta, đang bí mật đến tăng cường cho Benhet và Dakseang, nên phải đi suốt ngày đêm (!) Thế mà họ cũng tin! Lời nói dối tuy có trấn an được tinh thần binh sĩ. Nhưng các cấp chức có trách nhiệm của đơn vị, thì lo lắng rất nhiều về áp lực của địch, đang mỗi ngày một đè nặng thêm hơn.

Địch đã điều động tăng T-54 thật sự trong vùng. Tiếng máy xe nổ, mà Tiểu Đội quan sát trên đỉnh 1270m nghe được, nếu không phải Motova, thì xe tăng chứ còn gì nữa? Mà chắc là xe tăng, nên tiếng nổ mới nghe xa như vậy? Bao nhiêu câu tự hỏi đó cứ lởn vởn trong đầu họ. Còn về phía ta, xe tăng cũng chỉ phòng vệ Tỉnh lỵ Kontum, chứ đâu lên đến gần Dakseang được? Điều này thì các Sĩ quan người kinh đã biết chắc là như vậy. Nhân việc tăng phái Đại Đội 2, Tiểu Đoàn càng thiếu hụt quân số phòng thủ nhiều hơn, cho nên Tiểu Đoàn Trưởng cho lệnh các quân nhân chờ đổi đi, bây giờ được ở lại đơn vị. Trung úy Wan vẫn bị phạt 8 ngày trọng cấm, nhưng được cho tạm giữ lại nhiệm vụ Đại Đội Trưởng Đại Đội 3, vì chưa có người thay thế. (Tất nhiên là 8 ngày phạt ma!). Được lệnh này, tất cả những người ở lại đều vui mừng ra mặt. Y-Blua cũng rất vui mừng. Nhưng Blua và Wan ngầm hiểu nhau, sẽ phản bội đơn vị, sẽ làm nội tuyến. Họ chờ lệnh giờ chót của Y-Doan từ Mật Khu Bông Hồng đưa tới, là hành động. Còn Wan được chỉ thị phải theo sát Y-Blua, để kịp báo cáo những chi tiết VC tấn công trại nếu có xảy ra. Wan phải giả vờ xin Y-Blua khi thành công, nhớ nói dùm với Y-Doan, cho Wan được làm Trung úy Đại Đội Trưởng Thượng Cộng, như Y-Blua là mãn nguyện. Y-Blua hứa hết lòng giúp đỡ, và cũng sẽ nhờ Keng-Thi nói thêm vào. Từ đó, Wan dành cho Blua nhiều ưu đãi, như không cắt đi “kích đêm”, ngầm cho Blua thêm gạo, muối và lương khô... Sáu viên Trung sĩ được cài đặt vào 6 làng Thượng, để làm cố vấn cho trưởng làng như đã nêu trên, họ cũng đã lần lượt gởi tin về... Chỉ có 6 làng là Longnan 1, Longnan 2, Longnan 3 cùng Daktung 1, Daktung 2, và 3 là có dấu hiệu khác thường. Chẳng hạn như dân làng ít ra rẫy hơn, có nghĩa là họ không thiết gì việc trồng tỉa cho đúng thời vụ. Họ lại lôi những “ché rượu Cần” loại đặc biệt ra để uống. Loại rượu đặc biệt này làm bằng nếp, hoặc bắp với “men rượu” đắt tiền. Thường thì các “Ché” rượu này chôn kín trong nhà, hoặc giấu kỹ ở một nơi nào đó, để khi có tiệc tùng lễ lộc gì quan trọng mới đem ra dùng. Như vậy là họ sắp sửa bỏ làng đi xa...? mới đào rượu này mà uống...

Cả 6 viên HSQ này đều cho biết, họ vẫn thường xuyên theo dõi sự hoạt động của dân làng, và sẽ báo cáo kịp thời mọi biến chuyển của tình thế. Cũng như họ đều có đường lối thoát thân, sẽ chạy về Căn cứ nếu gặp sự nguy hiểm. Mọi người trong số họ, cũng đều nắm vững tinh thần, và hành động của trưởng làng, cũng như huấn luyện được một ít thanh niên trong làng, trung thành và bảo vệ họ. Nếu VC có đánh vào Căn cứ, họ cũng sẽ là lực lượng, có thể phối hợp với các toán tuần tiểu phục kích ban đêm ở bên ngoài, sẽ tùy cơ ứng biến hơn là rút về bên trong Căn cứ.  Họ nêu ra lý do có vẻ hợp lý như vậy, để Tiểu Đoàn Trưởng yên tâm, và họ tình nguyện tiếp tục nhiệm vụ.

Đây là lệnh của Chuẩn tướng Lam Sơn, Tư Lệnh Phó Đặc Trách về Lãnh Thổ của Quân Khu 2, mà Tướng Lam Sơn Phan Đình Thứ, là một người nổi tiếng hắc búa và nóng tính, lại thường hay đánh thuộc cấp. Muốn rút 6 HSQ này về lại Căn cứ, tất phải xin lệnh của ông ta, chứ không thể tự ý làm ngang được. Nay 6 HSQ này đều biết được việc đó, và tình nguyện tiếp tục nhiệm vụ, tuy là làm nhẹ đi nỗi lo của Tiểu Đoàn Trưởng, về mặt không trái lịnh thượng cấp. Nhưng Tiểu Đoàn Trưởng vẫn phải chỉ thị cho Ban 3, thảo văn thư xin rút họ về, vì áp lực nặng nề của địch. Sự hoạt động ban ngày của Căn cứ, vẫn giữ nguyên như thường lệ. Riêng ban đêm, từ 7 giờ 30 tối cho đến 7 giờ sáng, mọi di chuyển phải đi bằng lối giao thông hào, ngoài trừ các cấp trưởng từ Tiểu Đội Trưởng trở lên mới được phép đi bên trên giao thông hào, nhưng cũng chỉ trong phạm vi khu vực phòng thủ của Tiểu, hoặc Trung Đội của mình mà thôi. Trong số các cấp trưởng đó, có một số tín cẩn do Wan và Sem tuyển chọn. Họ phải theo “Mật Lệnh” của Tiểu Đoàn Trưởng là:

1. Phải đi kiểm soát lính gác giặc gần như thường trực, đặc biệt là phải lưu ý đến các khẩu súng nặng, nhất là Đại Liên 30 và 60.

2. Phải kiểm soát các giây mìn Claymore cùng bộ phận kích hỏa, xem coi còn tốt và còn dùng được không.

3. Phải tự mình đặt nhiều mìn Claymore gài tự động, và lựu đạn gài tự động trong phạm vi trách nhiệm vào lúc 9 giờ đêm, gỡ ra vào 5 giờ sáng hôm sau.

Loại Claymore và lựu đạn gài được gọi là tự động này, do binh sĩ tự biến chế: “Bằng cách cột một quả mìn Claymore, hoặc lựu đạn vào một cây cọc, cắm ở vị trí chọn lựa, có giây cước cột gài vào bộ phận kích hỏa. Vị trí chọn lựa thường là lối đi, đường mòn, hoặc những nơi mà ban đêm VC có thể bò vào, đột kích hoặc tấn công đơn vị. Còn sợi giây cước thường rất nhỏ và có màu xanh đậm, để dễ ngụy trang vì tiệp với màu cỏ, được cột vào một cây cọc khác, hoặc cột trong bụi cây nào đó. Cái đặc điểm đáng phục của sự biến chế này, theo như sự biểu diễn cho ta thấy, là nếu ta dẫm đạp, hay kéo hoặc cắt sợi giây cước đó, lập tức bị nổ chết khó toàn thây”.

Độ “nhạy nổ” của nó quá nhanh, vì thế mà hễ ai gài thì người đó phải gỡ, mới được an toàn. Cũng vì sự “nhạy nổ” này mà lắm người gài nó, phải bị sinh nghề tử nghiệp không phải là ít. Có nhiều binh sĩ sau khi gài loại tự động này xong, lại uống rượu say, đến sáng sớm hôm sau trời còn chập choạng tối, lại chếnh choáng hơi men, quên những chỉ dấu đặc biệt, để làm vô hiệu hóa quả lựu đạn tự động do chính tay mình gài, khiến phát nổ và lãnh đủ. Đơn vị tùy trường hợp mà có khi phải báo cáo, là đi tuần tiểu bên ngoài dẫm phải lựu đạn gài của VC mà tử thương, để gia đình vợ con dễ dàng trong việc lãnh tiền tử tuất, cũng như tránh sự điều tra lôi thôi về sau này nếu có. Cũng có trường hợp nửa đêm, có luồng gió mạnh thổi qua làm rung động sợi giây, hoặc có chuột, thỏ, chó, hay mèo, v.v. chạy ngang, mìn phát nổ là chuyện thường. Tuy có nhiều những trở ngại như thế, nhưng việc dùng loại “tự động” này, vẫn được hầu hết các đơn vị tác chiến của ta thường xử dụng, vì đạt được những hiệu quả về phòng thủ, và sát địch rất cao. Có điều là trong hành quân tác chiến thật sự, các binh sĩ thường “gài nổ” ở mức độ chậm hơn, tức là phải đá vào sợi giây cước căng khá thẳng trong cỏ, thì mới bị nổ. Còn đụng nhẹ, hoặc cắt bỏ sợi giây cước cũng không phát nổ. Đó là cả một kỹ thuật khéo léo, khi phải lược bỏ một phần thuốc cháy chậm, nơi nối liền với ngòi nổ của quả mìn hay lựu đạn. Hoặc phải mài những kim loại kích hỏa cho trơn, để dễ dàng kích hỏa, khi sợi giây cước cột hờ nó, bị kéo tuột ra. Mật lệnh được thi hành khá chu tất, cũng khiến cho Bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn an tâm hơn. Nếu nửa đêm, nội tuyến có lén cắt được giây mìn Claymore cố định đi nữa, vẫn còn hệ thống mìn, và lựu đạn gài tự động này. Điều mà những cấp chỉ huy có trách nhiệm trong đơn vị mong muốn là: Vạn bất đắc dĩ mà VC tấn công thật sự, thì những tên nội tuyến nếu có đi cắt giây mìn cố định, có thể sẽ bị vướng vào lựu đạn gài theo hệ thống mật lệnh này trước đã... Rồi vì đó... đơn vị sẽ kịp thời báo động, trước thời hạn bọn “chuột” VC tiến sát vào Căn cứ. Lúc đó hàng chục trái hỏa châu bằng đạn súng Cối, hoặc bằng hỏa châu giựt tay được sắp đặt trước, sẽ làm sáng rực cả Căn cứ, bọn đặc công VC sẽ bị lộ, và ta dễ dàng làm chủ tình hình. Hệ thống giao thông hào sâu quá đầu người, đào theo hình chữ chi vòng quanh từng ngọn đồi, đã được đốc xuất binh sĩ tu bổ kiên cố hơn. Sát giao thông hào về phía trong, là hầm ngủ của hạ sĩ quan, binh sĩ và gia đình họ. Mỗi hầm được phân phát thêm 3 cấp số đạn cá nhân nữa, để dự trữ ngay tại chỗ.

Vấn đề gay go nhất là nước uống, cũng được cấp tối đa cho từng binh sĩ những thùng sắt rỗng. Đây là loại thùng sắt đựng đạn cỡ lớn, bắt buộc phải chứa đầy nước suối... ngoại trừ hàng chục ống tre, ống nứa đựng đầy nước của cá nhân họ. Bởi vì muốn lấy nước, phải tuột dốc xuống đầu phi đạo, mới gặp bờ suối Dak-pô-kô là địa điểm gần nhất. Nếu địch quân vây trại, khống chế nơi lấy nước này, thì nguy hại vô cùng. Trên dưới một ngàn nhân mạng, kể cả đàn bà con nít, nếu không có nước đủ trong nhiều ngày, chắc là không tử thủ được!

7. Trận Đánh Khai Diễn:

Tuy Trung úy Wan không cắt đặt Y-Blua đi hành quân tuần tiểu, và đi kích đêm theo như thông lệ, là... để dễ bề theo dõi. Lại còn cho ăn ở thân cận với Wan nữa, để lấy lòng tin của y. Bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn sợ rằng khi đi tuần tiểu hàng tuần lễ ở ngoài rừng, hoặc đi kích hằng đêm, biết đâu Blua bỏ trốn. Tệ hại hơn nữa, có thể y theo lệnh của Y-Doan, đưa cả Trung Đội hoặc Tiểu Đội vào ổ phục kích, hay là dẫn dắt VC nửa đêm đột kích vào vị trí đóng quân dã ngoại của ta. Thế nên cầm chân y ở trong trại là tốt hơn hết. BCH Tiểu Đoàn cũng đã từng bàn thảo là có nên đánh Công Điện “Thượng Khẩn”, xin Trực Thăng đến bốc Y-Blua về Pleiku khai thác cấp tốc, để có thể biết nhiều chi tiết về địch tình hơn. Nhưng lập luận rằng: một phần vì thời tiết xấu, nên cả hơn hai tháng nay Trực Thăng Chinook, cũng như Trực Thăng UH1 không đến tiếp tế lương tươi cho trại được, và kể cả bên Chi khu Dakpek nữa, thì việc cho phương tiện đến để đưa Blua về Pleiku, chưa chắc được cấp trên chấp thuận. Phần khác lại lo ngại nếu BCH/BĐQ/QK2, thật sự cho Trực Thăng đến đem Y-Blua về Pleiku khai thác, thì sẽ có nhiều rắc rối xảy ra. Bởi đem Blua đi, sẽ khiến “động” đến các nội tuyến khác, hoặc Mật Khu Bông Hồng biết tin, lại áp dụng kế hoạch hành động khác, sẽ khiến ta trở tay không kịp. Hơn nữa theo sự đánh giá, khai thác nội tuyến của BCH Tiểu Đoàn, đối với Y-Blua như thế là đã khai thác cạn cùng rồi, vì khả năng của Blua cũng chỉ biết đến thế mà thôi. Chi bằng tạm thời cứ thả lỏng Blua, để âm thầm theo dõi sẽ có kết quả tốt hơn. Sau này, mới được biết quan niệm của BCH/BĐQ/QK2 cũng giống như vậy, vì sợ “bức mây động rừng”, và nếu muốn đem tù binh về khai thác, cũng khó có phương tiện phi cơ thỏa mãn trong lúc này...

Đến ngày 15-3-1972, Blua cho Trung úy Wan biết, y được lệnh hành động vào 10 ngày sau, tức đêm 25-3 sắp tới. Các nội tuyến ở những ngọn đồi khác, cũng sẽ hành động giống như Blua. Nhưng không cho dấu hiệu nhận bạn, mỗi nơi tự hành động riêng rẽ. Trung úy Wan đã sơ xuất, không theo sát Blua để biết y nhận lệnh từ đâu và của ai? Hỏi Blua thì sợ bị lộ, đành chịu sự khiển trách nhẹ của Tiểu Đoàn Trưởng. Nhưng theo suy nghĩ của Wan, thì chắc Blua đã nhận lệnh ngay tại bãi tắm ở bờ suối, và bọn Thượng Cộng đã trà trộn theo dân làng tắm suối để truyền lệnh.

Bãi tắm này được coi như là nơi công cộng duy nhất trong vùng. Nó ở cuối phi đạo gần ngọn đồi của Đại Đội 2. Bên kia suối là ngọn đồi cao, với dốc thẳng đứng của Bộ Chỉ Huy Chi Khu. Có chiếc cầu khỉ bắc ngang ở bãi cát thoai thoải gần đó. Tất cả dân làng chung quanh Chi Khu, và binh sĩ cũng như gia đình BĐQ đều tắm giặt ở đó. Xa một chút là chỗ tắm của phụ nữ. Từ giữa trưa nắng cho đến gần xế chiều, không lúc nào là chẳng có hàng vài chục người tắm rửa đùa giỡn, cho nên việc thông tin, liên lạc của bọn Thượng Cộng ở đây cũng khá an toàn. Được mật tin, Tiểu Đoàn Trưởng nhẩm tính: Ngày 25 tây nhằm Thứ Bảy 11 tháng 2 âm lịch (năm Nhâm Tý), tức đang tuần trăng sáng... Có lý nào bọn “chuột” dám tấn công? Dù cho ban đêm thường có sương mù dày đặc đi chăng nữa, tầm quan sát từ trên các vọng gác nhìn ra các vòng rào phòng thủ, vẫn còn tốt hơn là đêm tối không trăng? Nhất là với máy “Dạ Tinh Viễn Kính”, chỉ cần ánh sáng trăng mờ mờ, cũng có thể nhìn thấy từng bụi cây lá phất phơ theo chiều gió, ở cách xa gần cả trăm thước. Có thể từ trên vọng gác bên này, dùng Dạ Tinh Viễn Kính nhìn xéo qua sườn đồi bên kia, sẽ thấy rõ ràng mọi vật lay động. Nếu VC từ dưới chân đồi bò lên, cũng sẽ thấy mồn một. Các Căn cứ biên phòng đều được cấp phát một máy này. Chẳng lẽ chúng không biết yếu tố “sáng trăng”, là điểm thuận lợi cho việc phòng thủ hay sao, mà lại ra lệnh hành động vào thời điểm này. Hay đây là một đòn ngụy tạo, nhằm đánh lạc hướng suy đoán của ta? Có điều yên tâm đôi chút, đó là Đại Đội 2 biệt phái Dakseang sẽ trở về ngày 22, tức là trước ngày Y-Blua nhận lệnh hành động 3 ngày. Trưa hôm đó, Sĩ quan Truyền Tin của Tiểu Đoàn dò theo máy “Siêu Tần Số”, đã cho mọi người biết trong bữa cơm như sau: “Có tin phong thanh là lính Nhảy Dù sẽ được điều động lên Kontum, theo lời yêu cầu của Quân Đoàn II”. Mọi người được đề cập ở đây, là những Sĩ quan Tham mưu của Tiểu Đoàn, gồm các Trưởng Ban 1, 2, 3, 4, 5, và Truyền Tin... Vì họ toàn là Sĩ quan độc thân, và Tiểu Đoàn Trưởng cũng không mang gia đình theo, nên tất cả cùng ăn chung với nhau trong hầm riêng của Tiểu Đoàn Trưởng. Viêc ăn chung này có từ ngày Tiểu Đoàn Trưởng đến bàn giao Tiểu Đoàn, vào khoảng tháng 9 năm 1971 cho đến giờ. Có thể nói cái tin có lính Dù được điều động đến Kontum, dù là tin nghe lóm được mà phần chính xác ở mức độ thấp, nhưng cũng làm cho các SQ tham mưu này có nhiều người mừng, nhưng cũng có người lo. Mừng là hy vọng các đơn vị Dù này, sẽ quần thảo với giặc Cộng ở những vùng sát với tỉnh Kontum, thì tất nhiên áp lực địch tại các trại biên phòng xa xôi sẽ nhẹ hơn. Hoặc giả nếu các trại biên phòng bị tấn công, thì lính Dù có khả năng giải vây hữu hiệu hơn hết. Nhưng lo... là tình hình chiến sự tại vùng này có thể là rất nặng nề, nên mới điều động lính Dù lên giúp đỡ. Trong bữa ăn đó cũng có Thiếu úy Nguyễn Tôn Tòng, Đại Đội Trưởng Đại Đội Chỉ Huy Công Vụ của Tiểu Đoàn cùng tham dự, và anh đã kể lính Lực Lượng Đặc Biệt Mỹ và VN, từng nhảy xuống Dakpek này trong hai lần VC tấn công trước đây. Cho nên lúc này có lính Dù hiện diện ở Kontum, thì cũng hy vọng là họ sẽ nhảy vào Dakpek, nếu bị áp lực bao vây nặng của địch. Cũng nhân tin có lính Dù được gởi tới Kontum này, Tiểu Đoàn Trưởng cho lệnh thông báo đến từng Đại Đội, để truyền đạt xuống binh sĩ. Tác dụng của tin này sẽ làm cho binh sĩ vững tin hơn, và nếu lọt vào tai mắt của VC ở Mật Khu Bông Hồng, thì có thể hy vọng là họ đình lại việc tấn công vào Dakpek chăng?

Riêng tâm trạng của Tiểu Đoàn Trưởng thì lo nhiều hơn là mừng, bởi ở thời điểm “Việt Nam Hóa Chiến Tranh”, Mỹ đã rút đi hết rồi, làm sao có phương tiện phi cơ để nhảy dù vào mặt trận xa xôi, và không mấy gì quan trọng này. Ngay như việc tiếp tế lương tươi, là việc khá sinh tử cho BĐQ và Chi Khu Dakpek, mà còn chậm trễ quá lâu như vầy, thì việc nhảy dù giải vây là chuyện khó có thể xảy ra. Điều lo lắng trong gan ruột của Tiểu Đoàn Trưởng ở đây là kho gạo, và kho lương khô dự trữ 90 ngày. Địch rất quan tâm đến vấn đề trọng yếu này. Nếu trong chớp nhoáng, họ chiếm được Dakpek, thì việc vận chuyển lương khô, gạo muối, về một nơi an toàn nào đó, có thể nuôi hàng Sư đoàn binh lính của họ trong cả tháng trời là chuyện dễ dàng... Đừng nói chi với biết bao nhiêu là vũ khí, đạn dược mà họ chiếm được. Lại nữa, với trên ba ngàn dân Thượng, sống trong 11 làng chung quanh Chi Khu và Căn cứ Biên Phòng Dakpek, hiển nhiên sẽ là những “dân công” tốt, để tải những chiến lợi phẩm đó đi nơi khác.

Nhiều lần thuyết trình với những phái đoàn cao cấp của Quân Đoàn II, của các phái đoàn Hoa Kỳ, v.v. trong năm 1971, BCH/Tiểu Đoàn 88/BĐQ/Biên Phòng Dakpek luôn khẳng định, là VC sẽ chọn nơi này để đánh chiếm, vì hai lý do vũ khí và lương thực như đã nêu. Đồng thời cũng đã từng vạch rõ với các phái đoàn, về điểm chiến thuật giữa hai Căn cứ Dakseang và Dakpek. Dakseang với địa thế bằng phẳng, không có các làng Thượng sống gần, dễ dùng xe tăng đánh chiếm hơn, nhưng khó có thể cướp được kho lương khô, và kho gạo dự trữ 90 ngày cho mỗi thứ. Bởi vì khi mất Căn cứ, phi cơ của ta sẽ lập tức dội bom liên tục để tiêu hủy tất cả. Lúc đó, bộ đội của VC làm sao dám bám trụ, để tải lương thực đi nơi khác nhiều được. Đó là chưa kể Dakseang nằm gần Kontum hơn, ta rất dễ dùng Trực Thăng Võ Trang săn lùng bọn chúng khi tải gạo về mật khu. Dakpek sẽ có lợi điểm hơn, nếu họ đánh chiếm được, thì lùa mấy ngàn dân tải lương thực, sẽ làm chùn bước cho việc phi cơ thả bom hủy diệt Căn cứ, vì sợ chết dân. Còn vấn đề trực thăng đối với Dakpek, thì có lần được nghe thuyết trình của cấp cao, cho biết: Với 80 cây số đường chim bay từ Kontum đến Dakpek, trực thăng loại UH1 khi tới trại này, chỉ còn không đầy 30 phút để bay vòng vòng quan sát trên không phận, là phải lập tức quay về vì sợ hết xăng. Chưa kể vấn đề thời tiết thường có sương mù quanh năm, làm hạn chế việc xử dụng không quân. Kết luận là Dakpek chịu áp lực địch nặng hơn Dakseang, nhưng dường như không được hợp lý đối với cấp trên... Cho nên cấp trên mới tăng phái một Đại Đội cho Dakseang, như đã trình bày qua. Ngay đêm hôm 15 tháng 3, 1972 đó, tức nhằm 01 Tháng Hai Nhâm Tý, trời tối đen vì sương mù bao phủ. Tiểu Đoàn Trưởng ban lệnh thực tập báo động, từ 10 giờ đêm cho đến 2 giờ sáng. Tất cả đều phải sẵn sàng tác chiến tại vị trí được ấn định, trong các giao thông hào. Các sĩ quan phụ trách từng khu vực, phải đi tuần tra liên tục. Thế rồi đêm hôm sau... và đêm hôm sau nữa... lệnh báo động vẫn được thi hành gắt gao, và tình hình vẫn được bình yên. Mọi người đều có vẻ mệt mỏi... Tiểu Đoàn Trưởng vẫn ra lệnh báo động, dự định là liên tiếp trong một tuần lễ, mặc dù các cấp dưới có phần ta thán. Sự thi hành của họ cũng uể oải... lấy lệ... Ngay cả bản thân của Tiểu Đoàn Trưởng cũng mệt mỏi không kém. Ba đêm liên tiếp, mỗi đêm gần 4 tiếng đồng hồ, ngồi co ro trong những hầm trú ẩn, với tư thế sẵn sàng nhả đạn, quả thật là mỏi mệt vô cùng... Đến đêm thứ tư, mọi sự cẩn thận quan sát của lính gác giặc, mọi sự tuần tra kiểm soát của cấp chỉ huy có vẻ lơ là. Từ 9 giờ đêm trở đi, sương mù dày đặc, tối đen... Nào ngờ... chính đêm đó qua đến 4 giờ sáng hôm sau 18-3-1972, bọn “chuột” tấn công mãnh liệt, vào 4 ngọn đồi phòng thủ Căn cứ, của Tiểu Đoàn 88 BĐQ/Biên Phòng Dakpek. Đó là các ngọn đồi:

1- Tiền Đồn Đại Đội 3
2- Đồi Đại Đội 3
3- Đồi Chỉ Huy Công Vụ và
4- Tiền Đồn của Đại Đội 1.

Cùng lúc đó, chúng cũng tấn công vào ngọn đồi phòng thủ của Chi Khu Dakpek, bên kia dòng sông Dak-pô-kô. Tiếng mìn nổ đầu tiên, đã làm toàn thể Căn cứ choàng tỉnh... Tiếp theo là hàng loạt những tiếng nổ khác, từ súng lớn cho tới súng nhỏ đều thi nhau nổ giòn giã, kèm với tiếng hô xung phong vang dội của địch, nhằm trấn áp tinh thần của binh lính trong trại. Cả một vùng trời sáng rực vì đạn hỏa châu... Những tiếng nổ nhiều nhất là tiếng mìn và lựu đạn... Lúc bấy giờ địch đã tràn ngập trên đỉnh đồi Tiền Đồn của Đại Đội 3, đồi Đại Đội 3, đồi Chỉ Huy Công Vụ, và một phần của đồi Tiền Đồn Đại Đội 1 ở đầu phi đạo. Riêng ngọn đồi lớn của Đại Đội 1, đồi Đại Đội 2, đồi Bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn, và đồi Pháo Binh là không có bọn chúng tràn vào, nhưng bị pháo kích dữ dội bằng Cối 61, và 82ly của VC, nhưng không có thiệt hại nào đáng kể. Tất cả quân nhân phòng thủ ở những ngọn đồi này, từ trong hầm trú ẩn đồng loạt bắn xéo sang yểm trợ cho các đồi đang bị tràn ngập. Chính họ thấy rõ ràng địch quân đang chạy ngược chạy xuôi trên các ngọn đồi đó. Tại sao lại chạy ngược xuôi? Bởi vì VC không dám nhảy xuống giao thông hào, mà nếu có nhảy xuống thì bị bắn gục ngay tại chỗ. Binh sĩ các nơi chạm địch, phút đầu có lúng túng thật, nhưng dưới ánh hỏa châu sáng rực, họ từ trong chòi kiên cố đã bắn tỉa từng tên địch một, rất là hữu hiệu. Đồi Bộ Chỉ Huy được phân công từ trước, phần lớn đạn súng Cối 60 và 81ly đều tập trung vào đây kể cả đạn chiếu sáng. Các tay súng chuyên môn cứ việc bắn hỏa châu liên tục, và bắn đạn cối cầu vòng vào các đồi đang bị VC tràn ngập.

(Xin xem phóng đồ tấn công vào Dakpek)

CÁC MŨI CẮT HÀNG RÀO KẼM GAI VÀ ĐẶT BANGALO CÙNG BỘC PHÁ, ĐỂ TẤN CÔNG CĂN CỨ DAKPEK TRONG THỜI GIAN ĐẦU

Ghi Chú: 1 là Tiền Đồn của Đại Đội 3; 2 là Đại Đội 3; 5 là Đại Đội Chỉ Huy Công Vụ; 10 là Tiền Đồn của Đại Đội 1 đã bị địch tràn ngập ngay lúc đầu.


Có điều không ngờ, các HSQ và binh sĩ Thượng, phần đông trông hiền lành đến ngơ ngáo, nhưng họ bắn súng Cối 60ly không “bàn tiếp hậu”, và bắn ở độ gần như thẳng đứng Cối 81ly thật là chính xác. Chính những ngọn đồi không bị địch uy hiếp, đã bắn đủ các loại súng yểm trợ cho những đồi chạm địch rất hữu hiệu. Tiểu Đoàn Trưởng và các SQ Tham Mưu, trong khi chạy ra giao thông hào đốc xuất binh sĩ chiến đấu, đã chứng kiến tận tường tài nghệ bắn yểm trợ của họ. Có lẽ, đó là do công phu huấn luyện của Lực Lượng Đặc Biệt Mỹ-Việt để lại, và kể cả sự kinh nghiệm chiến trường, mà họ đã tích lũy được trong mấy lần VC tấn công trước đây. Ngọn đồi của BCH Chi Khu Dakpek ở bên kia bờ suối, cũng bị địch tràn ngập ngay buổi đầu, tình trạng cũng giống như bên BĐQ. Địch không dám nhảy xuống giao thông hào, và làm mồi cho đạn Cối 81ly yểm trợ do bên BĐQ bắn sang, cũng như làm mồi cho các tay súng Địa Phương Quân trong hầm kiên cố của Chi Khu, có dịp bắn tỉa. Thật tâm mà nói, ngay buổi đầu nổ súng, tất cả quân nhân trong Căn cứ rất bàng hoàng hãi sợ, vì vừa mới báo động xong được khoảng 2, 3 tiếng đồng hồ thì địch tấn công như một đám quân ma! Chỉ sau vài phút, khi hỏa châu được bắn lên sáng rực cả bầu trời, thì phe ta mới lấy lại bình tĩnh, và binh sĩ cứ ở trong hầm ẩn nấp mà bắn tỉa từng tên VC. Lúc đó Tiểu Đoàn Trưởng liên lạc vô tuyến với Đại Đội 3, và được Chuẩn úy Ngô Cự Tùng Đại Đội Phó cho biết là ta giết địch chết rất nhiều. Tiểu Đoàn Trưởng cũng cho biết là BCH Tiểu Đoàn đang xin thượng cấp ở Pleiku, sẽ cho lính Nhảy Dù đến tiếp viện vào vài giờ nữa, khi mặt trời lên cao. Tất cả phải thông báo cho binh sĩ vững tay súng chiến đấu. Chuẩn úy Tùng vui mừng vâng dạ. Thông báo về việc tiếp viện này, cũng được loan truyền cho khắp các đồi phòng thủ khác, để binh sĩ có lòng tin chiến đấu. Thật ra thì làm gì Dakpek lại được cái may mắn này! Sĩ quan Truyền Tin của Tiểu Đoàn, đang gào thét trong máy Siêu Tần Số, gọi về Trung Tâm Hành Quân của Bộ Chỉ Huy BĐQ Quân Khu 2, để báo cáo địch tấn công Dakpek... Nhưng... họ đang say ngủ, một lúc sau mới có tiếng trả lời của hiệu thính viên là sẽ trình lên sĩ quan trực. Điều mà Tiểu Đoàn Trưởng biết rõ, Bộ Chỉ Huy BĐQ Quân Khu 2 đặt tại Pleiku là để theo dõi hành quân, bổ sung quân số, yểm trợ về tiếp vận tiếp liệu... mà thôi, chứ không có trực tiếp chỉ huy hành quân. Ngay như Bộ Chỉ Huy BĐQ Trung Ương ở Sài Gòn, cũng chỉ có nhiệm vụ tương tự như thế mà thôi.

Cho nên muốn xin quân tiếp viện cho một Căn cứ tiền đồn nào đó, thì BCH/BĐQ/QK2 phải trình lên Quân Đoàn II để xin. Nhưng kể từ khi quân Mỹ rút đi, Quân Lực VNCH phải căng mỏng ra để giữ diện địa, thì làm gì có quân số trừ bị, để nhảy vào giải cứu các tiền đồn biên phòng hẻo lánh này. (Cho nên từ năm 1972 cho đến các năm sau, có khá nhiều tiền đồn BĐQ biên phòng lần lượt bị địch đánh lấy, mà không thể nào tái chiếm lại được.)

Dẫu biết như vậy, nhưng Tiểu Đoàn Trưởng vẫn phải cho tin tức “láo” để an lòng quân lính. Láo nhưng mà lính Thượng vẫn tin, bởi vì chính họ trong những năm trước cũng từng bị địch đột kích như vầy, và có lính Biệt Kích nhảy xuống tiếp viện đẩy lui quân địch... Hỏa châu vẫn liên tục cháy sáng, súng vẫn nổ, nhưng tiếng hò hét xung phong lại thưa dần... Và... ánh bình minh cũng lần lần ló dạng ở chân trời, như cố xua tan đi những lớp sương mù dày đặc, trộn lẫn với khói súng bao phủ khắp cả Căn cứ. Hơn hai giờ súng nổ đạn bay như thế, có thể nói là chính Tiểu Đoàn Trưởng hoặc Đại Đội Trưởng, gần như không có chỉ huy, hay điều động gì trực tiếp đến binh sĩ cả, mà họ tự chiến đấu cùng với việc tải đạn do vợ con họ giúp đỡ. Có nghĩa là vợ chồng con cái của binh sĩ cùng chiến đấu với nhau. Vì vợ con lính Thượng trong trại cũng rất thành thạo trong việc bắn súng, ném lựu đạn sát hại địch quân không phải là ít. Tuy “Sơ Đồ Phản Công” do trại dự trù vẽ ra, dùng để trình bày với thượng cấp:

...Nào là sẽ xử dụng Trung đội trinh Sát của Tiểu Đoàn, đến tăng cường cho ngọn đồi phòng thủ nào bị tràn ngập... Nào là xử dụng các toán đi kích bên ngoài quay trở về phản công, v.v. đều không thể áp dụng được trong lúc này, bởi thiếu quân số trừ bị của đơn vị. Cái hay nhất của việc phòng thủ Căn cứ Dakpek này là có bảy ngọn đồi nối tiếp nhau. Từ ngọn đồi này nối liền với ngọn đồi kia bằng một thung lũng nhỏ, và hàng rào Concertina mỗi 7 giờ 30 tối đã kéo chặn hết lối đi trong những thung lũng đó. Vì vậy mà lính ở đồi nào thì phòng thủ cứng ngắc ở đồi đó, không thể di chuyển đến đồi khác được. Giả sử mà địch chiếm toàn diện được một ngọn đồi nào đó, thì cũng phải bị cô lập và làm mồi cho tất cả các loại súng cầu vòng tập trung vào. Trong Sơ Đồ Phản Công, có đoạn ghi là Trung đội pháo Binh gồm hai khẩu 105ly của ta, sẽ bắn “trực xạ” đạn Tổ Ong vào sườn đồi Đại Đội Chỉ Huy Công Vụ, nếu địch tràn ngập nơi này. Đây là điểm trực xạ duy nhất, mà Pháo Binh của ta có thể thi hành được, vì khoảng cách hai ngọn đồi trên 100m và ở giữa là thung lũng sâu được cài mìn, lôi, dày đặc.

Quả đạn gọi là Tổ Ong này, được mô tả là khi nổ có khoảng 9000 mũi tên bắn ra để chống biển người, và Thiếu úy Tiệp Trung đội trưởng Pháo Binh 105ly của Căn cứ, đã xài hết 3 quả đạn Tổ Ong, làm im tiếng xung phong trên đỉnh đồi của Đại Đội Công Vụ. Trời sáng hẳn, tiếng súng cũng im bặt, và cả Căn cứ đều vui mừng vì tin địch chết được báo cáo dồn dập... Tại Tiền Đồn Đại Đội 3 có 24 xác VC nằm chết vắt vẻo trên hàng rào phòng thủ, và trước những “lô-cốt” kiên cố có Đại Liên 30 và 60 trấn giữ. Đồi Đại Đội 3 có 45 xác địch chết. Tại đồi của Đại Đội Chỉ Huy Công Vụ đếm được 35 xác, và rải rác trên phi đạo cũng như bên sườn phía Đông của Tiền Đồn Đại Đội 1, ta đếm được 19 xác. Tổng cộng là 123 xác VC có thể đếm được, còn những xác chết vất vưởng ở lưng chừng các ngọn đồi mà chúng bò lên tấn công, thì không thể đếm được, vì VC đã rút về bìa rừng phía Tây, nhưng vẫn pháo kích dài dài vào Căn cứ. Đồng thời chúng cũng đặt mấy khẩu Thượng Liên, và Đại Liên ở một góc bìa rừng, bắn “rát mặt” những binh lính nào... dám bò xuống lưng chừng đồi thu nhặt xác chết, và vũ khí của bọn chúng. Trung đội pháo Binh 105ly, lúc này cũng bận rộn tới tấp, vì phải phản pháo lại những nơi nào nghe có tiếng “đề-pa” của súng Cối địch.

Hỏa tiễn 122ly và Cối 120ly cũng được chúng xử dụng. Tất cả những đạn pháo kích của chúng, may mắn là rơi vào những thung lũng giữa các đồi, nên sự thiệt hại cũng ít xảy ra. Chỉ có một quả 122ly duy nhất chui sâu xuống đất, và ở ngay trước cửa hầm làm Văn Phòng của Trung đội pháo Binh, nhưng không nổ. Quả đạn còn ló cái chuôi ra ngoài mặt đất khoảng một tấc. Hú hồn cho Thiếu úy Trung đội trưởng và một vài cộng sự của anh ta, vì lúc đó họ chưa chạy ra hầm tác xạ bên ngoài!

Rồi thì họ rào khoảnh đất ló cái chuôi đạn đó lại, tạm thời không xử dụng văn phòng đó nữa, và cấm người đến gần. Đến khi trại được giải tỏa, họ vẫn xử dụng văn phòng đó, nhưng trổ cửa về hướng khác...

Trở lại trận đánh... thì có một Trung Đội (-) của Đại Đội 1, họ đi tuần tiểu ở phía Bắc Căn cứ ba hôm trước, nghe tin trại bị tấn công cũng mò về. Vừa sáng tinh mơ thì họ tới đầu phi đạo, và tên lính Thượng đi tiền sát, lanh mắt thấy 3 tên Việt Cộng đang lui cui tháo rời khẩu súng 57ly không giật. Lập tức 3 tên bị bắt giữ. Ba tên tù binh này được giao cho Trung sĩ I Đức thuộc Ban 2 của Tiểu Đoàn khai thác. Sơ khởi thì được biết chúng người Hà Tây, cả ba chưa quá 18 tuổi, thuộc Đại Đội Pháo Biệt Lập, có nhiệm vụ đặt khẩu súng 57ly không giật ở đầu phi đạo, để bắn tất cả những binh lính nào từ trong trại chạy ra phi trường. Đến khi trời hừng sáng, chúng không nghe lệnh lạc gì rút lui hay thắng lợi, nên vội vàng tháo rời khẩu 57ly không giật với mục đích bỏ chạy, nhưng đã bị ta tóm cổ. Khai thác thêm thì được biết, đơn vị tấn công Căn cứ đêm qua là hai Tiểu Đoàn Đặc Công địa phương D280, và D281 (?) cùng 6 Đại Đội Pháo Biệt Lập. Họ từ Mật Khu Bông Hồng xuất phát được một ngày hai đêm, mới tới nơi tấn công như đã xảy ra. Tin này được báo cáo về BCH/BĐQ/QK2, và được lịnh sẽ có trực thăng đến bốc ba tên tù binh này về Pleiku khai thác tiếp.

Về vũ khí ta tịch thu được gồm B40, B41, AK47, CKC, K54, Đại Bác Không Giật 57ly, và Thượng Liên, v.v. tổng cộng 92 khẩu. Bên phía Chi Khu Dakpek cũng báo cáo sơ khởi là đếm được 15 xác chết, và họ cũng đang bị súng Cối 82ly pháo kích cầm chừng vào Chi Khu. Kiểm điểm về phe ta, thì Thiếu úy Trần Văn Hà Trưởng Ban 2 đã tử thương ngay tại giao thông hào, cùng Thượng sĩ I Hoàng-Nê Thường Vụ Đại Đội Công Vụ. Cộng thêm là 11 binh sĩ Thượng hy sinh tại hai ngọn đồi Tiền Đồn Đại Đội 3, và đồi của Đại Đội 3... là hai nơi bị địch tràn ngập nặng nề nhất, trong đó có Y-Blua bị pháo kích chết trước cửa hầm trú ẩn của y. Số bị thương tổng cộng trên 20 binh sĩ và gần 10 người vợ con của lính trong trại. Thiếu úy Lâm Trưởng Ban 4 cũng bị thương nhẹ nơi tay (hiện ở Houton Texas). Tiểu Đoàn được lịnh an ninh phi trường vì sẽ có trực thăng của Đại tá Nguyễn Văn Đương Chỉ Huy Trưởng BĐQ Quân Khu 2 (hiện ở Nam California) cùng trực thăng tản thương đến vào trưa nay. Các binh sĩ Thượng và gia đình bị thương, không ai chịu tản thương đi Pleiku chữa trị hết. Họ xin ở lại để cùng chiến đấu với đồng đội. Thật ra thì các binh sĩ Thượng tuy có bị thương khá nặng, nhưng họ vẫn nhất quyết không chịu tản thương. Đó là vì nếu họ được tản thương đi rồi, tiêu chuẩn gạo muối cấp phát hàng tuần cho họ sẽ không có, vợ con họ vì thế sẽ bị đói. Gia đình binh sĩ Thượng ở đây đều giống nhau như vậy, nào có ai giúp đỡ ai được đâu. Còn vợ con của họ nếu có bị thương, họ cũng không dám để cho trực thăng tản thương, bởi làm gì có người theo nuôi bệnh đây? Đã vậy mà khi được tản thương cho đến khi lành bệnh, chờ phi cơ chở về Căn cứ có khi là vài ba tháng, thế thì vợ con của họ lấy gì để sống? Cho nên nếu trực thăng tản thương có đáp xuống, thì chỉ có Thiếu úy Lâm và hai các xác chết của Thiếu úy Hà, và Thượng sĩ I Nê được đưa lên phi cơ mà thôi. Tội nghiệp Thượng sĩ I Hoàng Nê, ông là người Bắc ở vùng Móng Cáy, đi lính từ thời Nhảy Dù ở Điện Biên Phủ... Lần đi phép cách nay 6 tháng về thăm gia đình ở Qui Nhơn, khi trở lên Thượng sĩ I Nê có biếu cho nhà bếp của Bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn, mấy hũ “Mắm Cá Thu” ăn rất ngon, và cho biết sẽ được giải ngũ vào giữa tháng giêng năm 1972. Ông đã có giấy giải ngũ đúng như vậy, và vì không có phi cơ đến được trại do thời tiết xấu, để đưa ông trở về với gia đình... và nay thì ông đã hy sinh tại giao thông hào của đồi Chỉ Huy Công Vụ, khi ông đốc xuất lính giữ vững tay súng trong những đợt tấn công của địch.

8. Đại tá Tỉnh Trưởng Kontum Suýt Rớt Trực Thăng.

Đến khoảng 10 giờ sáng tiếng súng im bặt, trời rất quang đãng vì “trần mây” cao đến trên 9 ngàn bộ. Từ xa nghe tiếng động cơ của trực thăng theo chiều gió đưa tới, mọi người đều mừng rỡ. Trên hệ thống máy PRC25 có tiếng của Đại tá Nguyễn Bá Thìn tự Long, Tỉnh Trưởng kiêm Tiểu Khu Trưởng Kontum muốn gặp thẩm quyền của Tiểu Đoàn 88 BĐQ Biên Phòng. Ông cho biết là không liên lạc được với Chi Khu Dakpek bằng hệ thống của Tiểu Khu, nhờ bên Tiểu Đoàn dùng hệ thống riêng với nhau, gọi cho bên Chi Khu mở máy để liên lạc với ông ta. Vài phút sau, thì Đại tá Thìn cho biết là đã liên lạc được với Chi Khu, và hỏi xem ông có thể cho trực thăng đáp xuống đồi phòng thủ của Chi Khu được không. Tiểu Đoàn 88 cho biết là không thể được, vì địch quân còn bao vây bên ngoài. Nếu có Trực Thăng Võ Trang cùng đi, thì C&C của ông mới có thể đáp xuống được. Ông nói là không có Trực Thăng Võ Trang, nhưng sẽ cố gắng đáp xuống để ủy lạo binh sĩ, và chiếc Trực Thăng Chỉ Huy (C&C) đã thấy ló hình dạng ở phía xa.

Đại tá Tỉnh Trưởng Kontum cho phi cơ bay lượn vòng Chi Khu để tìm cách đáp xuống, thì lập tức đạn phòng không của Việt Cộng bắn lên tới tắp. Chiếc trực thăng bị trúng đạn có phần lảo đảo, vội quay đầu bay một mạch về Kontum, chỉ nghe văng vẳng lời của Đại tá Tỉnh Trưởng cho biết, là địch bao vây chung quanh nhiều lắm, nhờ bên Tiểu Đoàn 88 BĐQ giúp đỡ yểm trợ bên Chi Khu, và ông sẽ trình lên Quân Đoàn II để xin tăng viện. Sau đó, có lẽ VC đang kiểm điểm quân số và tải thương bọn chúng, đồng thời đào các hố phòng thủ để bao vây toàn bộ Dakpek chăng... mà thấy im lìm. Lính của Tiểu Đoàn trên các ngọn đồi, cũng lần hồi bò ra khỏi hầm kiên cố, để kéo từng xác VC, tập trung lại trong những khoảng trống của các thung lũng, giữa các đồi trong Căn cứ. Các lính bên đồi của Đại Đội 1, cũng chạy sang đồi Đại Đội 3 và đồi Chỉ Huy Cộng Vụ, để phụ kéo xác Việt Cộng. Lệnh chưa cho chôn, vì còn chờ ở trên xuống quay phim làm tài liệu. Tất cả các tử thi đều trần truồng không một mảnh vải, vì họ phải trườn hoặc bò dưới hàng chục lớp hàng rào ở dưới chân đồi, để đến gần hàng rào cuối cùng... mới dùng Bangalo tấn công. Họ phải cởi truồng như vậy, để không bị vướng vào kẽm gai có buộc lủng lẳng hàng trăm lon bia. Nếu vướng vào kẽm gai nhì nhằng, thì những lon bia này phát ra tiếng động sẽ bị lộ. Chỉ duy nhất có một tử thi mặc quần xà lỏn rách nát, nhưng ở túi quần có gài nút rất kỹ. Ta lục ra thấy giấy tờ đề tên Thượng úy Nguyễn Trung Việt sinh năm 1945 tại Thanh Hóa rất mờ. Còn tên đơn vị và những chi tiết khác không đọc được. Phỏng đoán có lẽ đây là tên Đại Đội Trưởng, chỉ huy toán đặc công tấn công ở ngọn đồi Đại Đội 3 này. Trung sĩ I Đức có dẫn 3 tên tù binh ra nhận diện những tử thi của bọn chúng... Nhưng theo sự thành thật khai báo của họ, là ba tù binh này thuộc các Đại Đội Pháo Biệt Lập từ Bắc vào đây được hơn 2 tháng, cho nên không có sinh hoạt chung với hai Tiểu Đoàn Đặc Công địa phương này. Ba tên chỉ biết theo lệnh Đại Đội, tới đầu phi đạo đặt súng như ta đã bắt được chúng. Còn các đặc công của hai Tiểu Đoàn này đi lộ trình khác để đến tấn công vào Căn cứ, nên chúng không biết mặt ai cả.

Trung sĩ I Đức đoan chắc với Tiểu Đoàn Trưởng là 3 tên này nói thật, vì thoạt đầu chúng không khai báo gì hết. Anh cho ăn uống và đưa thuốc lá cho hút, chúng cũng đều từ chối. Sau cùng, Đức phải chia chúng ra mỗi đứa một nơi, rồi khai thác, và hứa cho chúng được quy chế Chiêu Hồi chứ không là tù binh, chúng mới tỏ ra vui vẻ và khai báo những gì chúng biết. Thì ra, trước khi vào Nam tác chiến, người nhà của chúng ở Hà Tây có dặn dò, là nếu vào trong Nam bị ta bắt, thì nên khôn khéo khai báo hết, để xin được Chiêu Hồi sẽ nhẹ tội hơn. Theo lời chúng nói, thì các cán binh Cộng Sản được lệnh đi B (tức vào Nam), ai cũng nằm lòng vấn đề Chiêu Hồi này khi bị bắt cả. Đến khoảng 11 giờ sáng, thì có thêm một toán lính đi kích bên ngoài lục đục mò về, còn lại hai Tiểu Đội đi kích ở vùng phía Tây Căn cứ thì coi như bị mất tích hết.

9. Đại tá Chỉ Huy Trưởng BĐQ/Quân Khu 2 đáp trực thăng xuống Dakpek dưới làn mưa pháo, để gắn cấp Thiếu tá Đặc Cách Tại Mặt Trận cho Đại úy Tiểu Đoàn Trưởng.

Chừng giữa trưa thì nghe có tiếng trực thăng đến nữa, và lần này có đến 4 chiếc gồm một C&C chở Đại tá Đương Chỉ Huy Trưởng BĐQ/QK2, và Thiếu úy Hùng tùy viên. Trên C&C này còn có một Phóng viên Chiến trường của Quân Đoàn II. Anh này tháp tùng để quay phim các xác chết rải rác chung quanh Căn cứ, và phỏng vấn về trận đánh hồi đêm qua. Hai chiếc khác là Trực Thăng Võ Trang, và chiếc thứ tư là Trực Thăng Tản Thương. Chiếc C&C của Đại tá Đương vừa đáp xuống bãi đáp trực thăng bên trong Căn cứ, có hai người vừa bước ra khỏi phi cơ, thì đạn pháo kích của VC pháo dồn dập vào Căn cứ, nhất là pháo vào phi trường. Caribou phía cổng sau của Tiểu Đoàn. Nơi đây được thả khói màu đánh dấu bãi đáp cho trực thăng tản thương. Đạn phòng không ở các triền núi chung quanh trại, lại bắn ào ạt lên hai Trực Thăng Võ Trang. Trực Thăng Tản Thương cũng bị bắn, nên không thể đáp xuống tải thương được, và bay lộn trở về Kontum. Hai chiếc Võ Trang cũng vừa bắn trả vừa rời khỏi vùng, cùng với C&C của Đại tá Chỉ Huy Trưởng cất cánh bay tuốt về Kontum. Chiếc C&C này chở theo người phóng viên chiến trường, khi anh này chưa kịp bước xuống theo chân Đại tá Đương cùng Thiếu úy Hùng (Mạch Thiểu Hùng hiện ở Quận Cam, Nam California). Sự can đảm của Đại tá Chỉ Huy Trưởng và Thiếu úy Hùng, khiến cho toàn Tiểu Đoàn vô cùng phấn khích và khâm phục. Sung sướng hơn nữa là trên tay Đại tá Chỉ Huy Trưởng, cầm cặp lon Thiếu tá bằng kim loại sáng trưng. Ông gắn lên bâu áo của Đại úy Tiểu Đoàn Trưởng cấp Thiếu tá đặc cách tại mặt trận. Còn Thiếu úy Hùng cầm theo một chai Champagne, để tưới lon ngay tại hầm chỉ huy ăn thông với kho lương thực. Phía trước hầm chỉ huy, là tất cả những vũ khí chiến lợi phẩm vừa mới lấy được còn để ngổn ngang. Tiểu Đoàn Trưởng vừa trình bày trận đánh, vừa xin Đại tá Chỉ Huy Trưởng, cho lệnh trả Đại Đội 2 đang biệt phái cho Căn cứ Dakseang, trở về Dakpek để có quân số chiến đấu. Lẽ tất nhiên là được chấp thuận, vì tình hình địch quả là còn rất mạnh ở chung quanh Dakpek. Nhưng việc đáng lo nhiều hơn hết, là không biết làm thế nào đưa được Đại tá Chỉ Huy Trưởng trở về Pleiku đây? Trực Thăng bị phòng không bắn lỗ chỗ trên thân tàu, đã khiến không chiếc nào dám đáp xuống Dakpek nữa cả. Mặt trời lần lần nghiêng về Tây. Thiếu úy Hùng thì đang dùng Siêu Tần Số, liên lạc về Trung Tâm Hành Quân của BCH/BĐQ/QK2 để đốc thúc nơi đây, xin Trực Thăng Chỉ Huy và Trực Thăng Võ Trang lên rước Đại tá Chỉ Huy Trưởng trở về Pleiku. Câu trả lời cũng chỉ là chờ đợi và đợi chờ... Thoáng chốc đã 4 giờ chiều, tuy trần mây còn khá tốt, ánh nắng còn chói chang, nhưng sự tuyệt vọng về trực thăng đến rước đã bắt đầu. Thiếu tá Tiểu Đoàn Trưởng cho lệnh các lính cần vụ, lo chỗ ngủ qua đêm cho Đại tá Chỉ Huy Trưởng và Thiếu úy Hùng, vì đến 6 giờ là sương mù lại phủ xuống, trực thăng không thể nào đến được nữa. May thay, lại có tiếng động cơ của nhiều chiếc trực thăng vọng lại, và ở từ xa 4 chiếc Trực Thăng Võ Trang loại Cobra xuất hiện... Bay cao hơn, là chiếc Trực Thăng OH do Quân Đội Mỹ xử dụng. (không trao lại cho VNCH). Trong máy PRC25 lại có tiếng của ông Cố Vấn John Paul Vann, báo cho Đại tá Chỉ Huy Trưởng biết, là đích thân Vann sẽ đáp xuống sân cờ để rước cả ông và tùy viên, yêu cầu “clear” bãi đáp nơi sân cờ. Bốn chiếc Cobra bắn Đại Liên và Rocket tối đa vào các cánh rừng gần Căn cứ, trong khi đó, từ trên độ khá cao, chiếc Trực Thăng OH58 lao vút xuống đáp trên sân cờ. Đại tá Đương và Thiếu úy Hùng từ trong hầm trú ẩn gần đó chạy nhanh ra và leo lên phi cơ, trong khi Thiếu tá Tiểu Đoàn Trưởng cũng chạy nhanh ra, đến trước đầu phi cơ đưa tay chào ông John Paul Vann. Ông Vann hạ kiếng của cánh cửa sổ phi cơ bên cạnh mình, để bắt tay với Tiểu Đoàn Trưởng, ông vừa chúc may mắn, vừa nhận khẩu súng lục bắn hỏa châu của Liên Sô, từ tay Tiểu Đoàn Trưởng kính tặng. Rồi ông cất cánh bay vút về hướng Kontum. Quà tặng này, do Đại tá Chỉ Huy Trưởng nhặt lấy trong đống chiến lợi phẩm tịch thu của giặc Cộng, đưa cho Tiểu Đoàn Trưởng bảo chút nữa đem ra tặng ông Vann, vì ông ta rất thích những loại quà tặng này. Bốn chiếc Trực Thăng Cobra cũng vừa tác xạ ào ạt, vừa cất lên cao nhắm hướng Kontum trực chỉ, để lại hàng chục quả đạn pháo kích đủ loại của địch rót vào Căn cứ, nhưng không có thiệt hại nào đáng kể xảy ra. Nhìn chiếc OH do John Paul Van lái khuất ở chân trời xa, Tiểu Đoàn Trưởng thở phào nhẹ nhõm vì đã rước được Đại tá Chỉ Huy Trưởng – người đã đề cử anh ta làm Tiểu Đoàn Trưởng của Tiểu Đoàn 88 BĐQ Biên Phòng này. Lúc đó, Trung sĩ I Đức xin phép cho nổ chất C4 để phá một lỗ vuông, mỗi bề khoảng một gang tay nơi vách của một cái Conex bằng sắt bỏ trống. Lý do là để nhốt ba tên tù binh vào bên trong, khóa chặt bên ngoài mà chúng không bị ngạt thở. Trung sĩ I Đức thuộc Toán Lực Lượng Đặc Biệt cải tuyển sang BĐQ. Anh ta cũng là chuyên viên về chất nổ, vừa cưới vợ mang lên trại sống chung, và cô vợ trẻ của anh ta cũng vừa mang thai chừng 6 tháng.

Đêm dần xuống, thế là gần hết một ngày tạm gọi là ngày N. Đêm nay chưa chắc giặc Cộng để cho ta ngủ yên. Sự thiệt hại của họ quá nặng nề, thế nào cũng có những trận tấn công phục thù. Quả thật như vậy, đến 9 giờ tối thì chúng pháo kích dữ dội vào Căn cứ đến trên một ngàn quả, có cả Hỏa tiễn 122ly, Cối 120ly, Cối 82 và 61ly. Đến hơn 10 giờ đêm thì chúng tấn công vào trại lần nữa. Có cả tiếng chó sủa, và tiếng chó kêu ăng ẳng giãy chết, vì vướng phải lựu đạn gài. Những con chó này là của dân Thượng trong làng bị chúng lùa đi, và bắt ép người chủ phải thả chó chạy bừa lên vòng rào phòng thủ... ở lưng chừng đồi. Mục đích là dùng chó làm nổ lựu đạn gài, hoặc mìn Claymore tự động của ta, để chúng dễ dàng xung phong vào mục tiêu. Có điều là họ chỉ có dăm ba con chó mà thôi. Cho nên sau vài tiếng nổ, thì đã hết chó. Hướng tấn công của bọn chúng lần này, cũng giống như sáng sớm hôm nay... Có lẽ chúng biết là bao nhiêu vòng rào kẽm gai của ta, đã bị chúng phá hủy bằng Bangalo trong trận vừa rồi, nay theo đường đó tấn công vào thì đỡ bị chướng ngại hơn. Nhưng chúng cũng không ngờ, là có cả hàng đống kẽm gai Concertina do Lực Lượng Đặc Biệt Mỹ để lại, hồi ban trưa đã được binh sĩ ta bò ra kéo bít lại. Tuy không được nhiều lớp và chắc chắn, nhưng cũng làm một chướng ngại tốt về ban đêm. Bên Chi Khu thì chỉ bị pháo kích chớ không bị tấn công. Thế là thêm một số cán binh cộng sản bỏ thây nơi hàng rào của Căn cứ nữa. Có thể nói lính Thượng trong trại Dakpek rất thiện chiến, họ không bắn bừa bãi từ súng cộng đồng cho đến súng cá nhân. Tuy đạn trong kho còn rất nhiều, nhưng họ bắn tiết kiệm và khá chính xác. Hai ba đợt tấn công liên tục rồi im lặng, rồi pháo kích, nhưng không có tên nào vào được bên trong giao thông hào. Đến độ 2 giờ khuya thì im tiếng súng hẳn cho tới sáng. Mặt trời lên cao, binh sĩ bò ra lục soát, thấy dấu máu rất nhiều, nhưng không thấy xác VC. Nhìn xuống phía chân đồi, cũng không thấy xác VC nằm ngổn ngang, mà trưa nay lính ta không dám bò xuống... để đếm xác cũng như lấy súng, vì sợ phía bìa rừng các khẩu Đại Liên của địch bắn ra. Những xác đó đã biến mất. Điều này cho ta thấy, lần tấn công đêm nay, nếu địch không tràn ngập và chiếm lĩnh Căn cứ được, thì mang lấy xác đồng đội về chôn cất. Khoảng gần trưa địch lại pháo kích, lần này cũng gần cả ngàn quả đủ loại. Sau đó thì im. Lâu lâu lại rót thêm vài chục trái rời rạc vào trại, rồi lại im, và cứ thế mà pháo cho đến chiều. Trực thăng tản thương cũng không thấy lên vùng, và kể cả các loại máy bay khác cũng im hơi... Cả Căn cứ ai nấy cũng đều túc trực ngoài giao thông hào, ngoài trừ Tiểu Đoàn Trưởng, SQ Ban 3, SQ Truyền Tin vẫn ở trong Phòng Truyền Tin để trực máy, và điều động đứa con thứ hai, tức Đại Đội 2 được lệnh trả về Tiểu Đoàn. Mọi liên lạc đi lại đều hạn chế tối đa. Hai cái xác chết của Thiếu úy Hà và Thượng sĩ Nê, vẫn để trong “lô-cốt” ở phía cổng sau của đơn vị. Tức là để sát bên phi trường để chờ trực thăng tản thương tới đưa về. Thiếu úy Lâm Ban 4 cũng chờ sẵn để được tản thương, và sau đó anh ta có nhiệm vụ là sẽ liên lạc với BCH/BĐQ/QK2/Phòng 4, để xin tiếp tế cho Dakpek. Nhưng không thấy tăm hơi trực thăng đâu cả. Cho tới gần cuối ngày hôm nay là N+2 rồi... mà không thấy 6 Trung sĩ biệt phái ở trong 6 làng Thượng trở về, như vậy là họ bị tiêu hết. Phải đành chờ vài hôm nữa sẽ báo cáo họ mất tích. Đến 6 giờ chiều thì Đại Đội 2 từ Căn cứ Dakseang về tới. Cũng may là dọc đường không chạm địch. Khi băng ngang qua sông Dak-pô-kô để vào phi trường, thì có hàng chục quả pháo bay ngang qua đầu họ, nhưng không gây thiệt hại.

10. Xin Ông John Paul Vann 4 Box B52.

Chừng hơn 7 giờ tối thì có tiếng trực thăng văng vẳng, và tiếng của viên sĩ quan xưng là Thông Dịch Viên của ông John P. Vann, mời thẩm quyền Tiểu Đoàn 88 BĐQ tiếp chuyện với ông ta (chắc là tiếng của Trung úy Cai một trong những Thông Dịch Viên thường đi theo Paul Vann?). Trong cuộc âm thoại, ông Vann khuyên Tiểu Đoàn nên cố gắng giữ vững tinh thần, và chúc mừng sự vinh thăng Thiếu tá của Tiểu Đoàn Trưởng. Phần Tiểu Đoàn Trưởng thì xin ông ta can thiệp với Quân Đoàn II, để có phi tuần lên tiêu diệt Cộng quân, và trực thăng tiếp tế thực phẩm cho binh sĩ, nhất là lương tươi đã không có từ mấy tháng qua. Đồng thời lại xin ông cho đánh 4 Box B52 chung quanh Căn cứ ngay lúc này là tốt nhất. Ông Vann bảo BCH/Tiểu Đoàn đọc tọa độ 4 Box để đánh bom B52, cho Trung úy Cai ghi nhận ngay lập tức. Mỗi Box để đánh bom B52 có chiều ngang một cây số, và chiều dài 3 cây số. Các Box B52 phải cách xa làng mạc, hoặc Căn cứ của ta là từ một cây số trở đi. Ông hứa là sẽ giúp cho đơn vị hết lòng, chúc mọi may mắn và cầu nguyện ơn trên phù hộ cho Dakpek, rồi tiếng trực thăng xa dần... Với một tiền đồn xa xôi hẻo lánh như vầy, và với cấp Cố Vấn cho Tư Lệnh Quân Đoàn 2 và Quân Khu II như John P. Vann, mà lại chịu khó dùng trực thăng bay đến động viên tinh thần chiến đấu, thật làm nức lòng chiến sĩ xiết bao. Đã vậy, mà còn bay vào lúc trời chập choạng tối, giữa rừng già, và trong lòng địch, thì hành động đó đáng được cúi đầu khâm phục. Theo suy nghĩ của anh em trong BCH Tiểu Đoàn, thì ông Vann rất có cảm tình với Dakpek. Bởi lẽ:

“Hồi gần cuối năm 1971, cũng vào lúc chạng vạng tối, có một chiếc trực thăng loại ‘Cán Gáo’ giống như cái ‘Hột Vịt’, xin đáp vào bãi đáp bên trong vòng rào Căn cứ. Người nói chuyện trong máy cũng xưng mình là Thông Dịch Viên cho ông John P. Vann. Tiểu đoàn đã phải gỡ mìn Claymore và lựu đạn gài chung quanh bãi đáp (LZ) bên trong Căn cứ, thả khói màu để máy bay đáp xuống và sau đó tắt máy. Có hai người bước ra: Đó là ông John P. Vann, một người Mỹ có dáng dấp lịch sự như người Ăng-lê, bắt tay với Đại úy Tiểu Đoàn Trưởng đang đứng nghiêm chào theo đúng quân kỷ. Kế là Trung úy Lê Đình Cai (?) Thông Dịch Viên. Tất cả được mời vào phòng thuyết trình của đơn vị, và ông Vann muốn biết về tình hình của vùng Dakpek này. Sau khi thuyết trình xong, ông Vann có hỏi rằng, nếu địch bao vây thì trại có thể chịu đựng được bao lâu, mà không cần tiếp tến lương thực và đạn dược. Ông được trả lời là với 90 ngày lương khô, thì có thể cầm cự với địch vài tháng, nhưng còn vấn đề đạn dược thì cũng có thể cầm cự được mươi ngày. Ông gật đầu tỏ vẻ đồng ý, và ngỏ ý muốn ngủ lại Căn cứ đêm nay. Lập tức hai chiếc giường dã chiến, được kê ngay bên cạnh phòng ngủ của Tiểu Đoàn Trưởng trong hầm chỉ huy và phòng Truyền Tin. Ông lại yêu cầu gỡ mìn gài tự động chung quanh bãi đáp nếu có, để ông và Trung úy Cai trở ra trực thăng lấy đồ ngủ. Khi trở vô, ngoài đồ ngủ, Trung úy Cai có mang theo một thùng bia Budweizer. Ông mời Tiểu Đoàn Trưởng và vài Sĩ quan Tham Mưu, cùng uống bia ăn hột điều rất thân mật, sau đó thì đi ngủ khoảng 10 giờ đêm. Đến 7 giờ sáng hôm sau, khi sương mù còn đọng ướt trên lối đi, ông yêu cầu Tiểu Đoàn Trưởng đích thân cùng ông và Trung úy Cai, qua bên đồi của Bộ Chỉ Huy Chi Khu Dakpek, để tìm hiểu về sự sinh hoạt nơi đây. Khi mọi người xuống tới phi trường, thì vừa lúc có hai toán lính Thượng đi kích đêm trở về. Mỗi toán khoảng mười người, mà người nào trên ba lô đeo sau lưng cũng có hai đoạn tre cỡ ngón chân cái nhô lên, cùng những sợi giây nhợ bằng ny-lông màu xanh đậm. Ông yêu cầu cho hai toán kích đó dừng lại, và hỏi Tiểu Đoàn Trưởng đây có phải là những toán đi tiền đồn đêm về hay không. Sau đó muốn xem những thanh tre đó. Cả toán lính Thượng được lệnh để ba lô xuống đất, và mỗi người đều lấy hai đoạn tre có kèm một quả lựu đạn loại phòng thủ, được buộc chặt vào đó đưa cho ông xem. Tiểu Đoàn Trưởng giải thích đây là lựu đạn gài tự động. Mỗi đêm khi đi kích bên ngoài trại, mỗi người trong họ đều phải gài một số lựu đạn gài tự động, ở những nơi nghi ngờ là VC sẽ đi qua. Rồi nấp gần đó chờ kết quả. Nếu không có gì, thì sáng hôm sau lại gỡ số lựu đạn gài tự động đó trở về trại. Đêm sau lại có các toán tuần tiểu khác đi phục kích như vậy, và các Đại Đội cứ thay phiên liên tục, theo các điểm kích do Ban 3 Tiểu Đoàn chỉ định hàng đêm. Ông Vann tỏ vẻ vừa ý gật đầu. Lúc đó trời còn quá sớm, không có bóng dân chúng, ngoài trừ một toán lính thứ ba đang đi gần cái cầu khỉ bắc ngang dòng sông Dak-pô-kô, cũng mang ba lô giống như hai toán trước. Họ đang hướng về Tiểu Đoàn, ông đưa mắt cho Tiểu Đoàn Trưởng với ngụ ý rất hài lòng, vì hồi hôm trong thuyết trình, Tiểu Đoàn Trưởng có cho biết: ‘Ngoài ba Trung đội thường xuyên đi hành quân bên ngoài, cách xa trại trong vòng bán kính 15 cây số. Thời hạn là 15 ngày, để thăm dò và phát giác sự di chuyển của địch quân, trong vùng trách nhiệm của Căn cứ... Mỗi đêm còn có 5 toán đi phục kích ở những điểm trọng yếu, nay đã thấy về lại Căn cứ 3 toán kích đêm như vậy, tức tin tưởng được là thuyết trình không nói láo.’ Khi đi qua ‘cầu khỉ’ bắc ngang một nhánh của sông Dak-pô-kô, gặp ngay một căn nhà tiền chế bỏ trống, ông Vann thắc mắc hỏi:

–Căn nhà này dùng để làm gì sao không thấy ai ở?

Tiểu Đoàn Trưởng giải thích:

–Đây là ngôi nhà dùng làm chợ, để buôn bán trao đổi giữa các dân làng Thượng với nhau. Ngày Thứ Bảy và Chủ Nhật vào khoảng 10 giờ sáng mới có phiên chợ... Hoặc mỗi lần có Caribou, hay Chinook tiếp tế thực phẩm tươi cho bên trại hoặc Chi khu, thì nhà thầu người Hoa Kiều cũng có chở thêm một số hàng hóa riêng, gọi là hàng ‘chạp phô’, gồm các nhu yếu phẩm mà dân làng ưa thích để bán cho họ...

Sau khi lên đến đồi của Chi Khu, và nghe Đại úy Chi Khu Trưởng Dakpek, trình bày về tình hình của Chi Khu xong, ông cho lệnh trở về BCH Tiểu Đoàn nói đôi lời khen ngợi với Tiểu Đoàn Trưởng, rồi mang đồ ngủ lên trực thăng trở về PleiKu. Hai tuần sau, lại có một trực thăng loại C&C xin đáp xuống Căn cứ cũng khoảng 7 giờ tối. Bước ra là một sĩ quan to bụng, khi đến gần mới nhìn rõ đeo 3 sao trên cổ áo. Theo sau là một anh lính đeo ba-lô, và khệ nệ mang theo đồ ngủ. Đó là Trung tướng Ngô-Dzu Tư Lệnh Quân Đoàn II và Quân Khu 2. Trung tướng cho biết là ông Vann khen Tiểu Đoàn này phòng thủ rất tốt, và khuyên Trung tướng nên ngủ qua đêm tại đây cho biết sự tình. Trực thăng lại cất cánh bay lên. Đêm đó là một đêm Rằm, sương mù tuy khá nhiều, nhưng vầng trăng cũng rất sáng. Sau khi nghe thuyết trình xong, Trung tướng Dzu cho lệnh Tiểu Đoàn Trưởng lên máy Siêu Tần Số, thông báo về Trung Tâm Hành Quân của Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn II là:

– ‘Mặt Trời’ đang ở với Tiểu Đoàn Dakpek, ra lệnh cho Đại tá Bình (Lê Quang Bình?) Tham Mưu Trưởng Quân Đoàn 2, tập trung mọi phương tiện yểm trợ Dakpek, nếu có biến trong đêm nay. Ông còn dặn dò rất kỹ, là phải ngụy hóa khi nói chuyện trên hệ thống vô tuyến. Đêm đó Trung tướng cùng Tiểu Đoàn Trưởng đi vòng vòng chung quanh ngọn đồi của BCH, vừa đi Trung tướng vừa nói chuyện về tình hình Mặt Trận Cao Nguyên càng ngày càng nặng nề, ta sẽ phải đánh giặc theo kiểu nhà nghèo, nên khuyên phải tiết kiệm đạn dược. Đồng thời ông cũng khuyên là cần khuyến khích các sĩ quan, hạ sĩ quan, và binh sĩ người Kinh trong Căn cứ, nên đem vợ con lên sinh sống trong trại để họ vững lòng chiến đấu hơn. Lúc đó, Tiểu Đoàn Trưởng mang ống nhắm ‘Dạ Tinh Viễn Kính’, đưa cho Trung tướng ngắm nhìn từng bụi cây, ngọn cỏ, đang lay động nhè nhẹ theo chiều gió, ở phía ngoài Căn cứ xa hàng trăm thước, làm ông ta rất hài lòng. Đến khuya, sương xuống khá nhiều ông mới chịu vào giường ngủ. Khoảng quá 8 giờ sáng hôm sau, chiếc C&C trở lại rước Trung tướng Dzu về lại Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn II ở Pleiku”.

Theo sự suy đoán của BCH Tiểu Đoàn, thì ông John P.Vann rất khoái Tiểu Đoàn 88, chắc thế nào ông cũng cho B52 nện trên đầu giặc Cộng mà giải tỏa cho Dakpek, cho nên trong lòng ai nấy cũng đều có sự vui mừng.

11. Địch Kêu Gọi Đầu Hàng.

Trở lại tình hình hiện tại, thì đến gần 9 giờ đêm ngày N+2, chúng lại pháo kích chừng trăm quả rồi ngưng, và khoảng 11 giờ khuya lại hò hét tấn công cũng ở các hướng tấn công cũ. Dường như chúng chỉ đánh cầm chừng, vì sự xung phong quyết liệt như hai lần trước thì không bằng. Đến gần 3 giờ sáng, thì tiếng pháo kích và tiếng súng im bặt. Chúng bò gần sát hàng rào và bắt đầu đánh tâm lý chiến. Đầu tiên là những giọng nữ miền Bắc, dùng loa cầm tay khuyên binh lính ngụy nên bỏ súng đầu hàng. Hết giọng nữ ra rả này đến giọng nữ ra rả khác với đại ý:

“Chửi bới ‘Thiệu-Kỳ’, ‘ngụy quân ngụy quyền’, rồi lại cho biết là đã vây chặt vùng Dakpek. Trước sau gì Căn cứ cũng phải thất thủ, nếu đầu hàng sớm thì sẽ được chánh sách khoan hồng của Cách Mạng tha thứ. Dakpek bây giờ như là một Ốc Đảo bị bỏ quên, Cách Mạng sẽ chiếm lấy Kontum trong nay mai, thì cái Ốc Đảo nhỏ bé này sẽ chẳng còn ai tiếp tế, tiếp viện nữa đâu. Hai Căn cứ Dakseang (tức Tiểu Đoàn 90 BĐQ Biên Phòng) và Căn cứ Benhet (tức Tiểu Đoàn 95 BĐQ Biên Phòng) cũng sẽ bị làm cỏ trong những ngày gần đây”...

Những lời kêu gọi đầu hàng của bọn chúng cứ theo chiều gió đưa tới, nhưng cũng không đáng ngại, bởi vì lính Thượng thì không rành tiếng Việt, nhất là giọng Bắc vùng Thanh-Nghệ-Tĩnh rất khó nghe. Còn số người Kinh dù cho có nghe cũng chẳng hề nao núng, chỉ mỉm cười cho những lời láo khoét của bọn chúng mà thôi. Nhưng đến gần 5 giờ sáng, có giọng của Trung sĩ Thanh – là một trong 6 Trung sĩ biệt phái làm cố vấn ở các làng Thượng – kêu gọi với những lời lẽ năn nỉ đại khái như sau:

– “Đại úy Nguyễn Thanh Vân, Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 88 BĐQ Biên Phòng Dakpek, nên buông súng đầu hàng đi, sẽ được Cách Mạng khoan hồng. Năm hạ sĩ quan biệt phái ở các làng khác, vì không chịu đầu hàng nên đã bị giết, còn tôi chịu đầu hàng nên được tiếp đãi rất tốt. Đại úy nên nghe lời chân thật của tôi mà đầu hàng đi. Quân giải phóng đã vây chặt Dakpek rồi, trước sau gì cũng thua, nên đầu hàng để cứu lấy mạng sống của mình, mà còn có ngày về với vợ con”. (Trung sĩ Thanh không biết Tiểu Đoàn Trưởng đã được vinh thăng Thiếu tá, nên vẫn gọi là Đại úy).

Lời kêu gọi này làm BCH Tiểu Đoàn rất đau lòng, vì như vậy là 6 Trung sĩ biệt phái theo lệnh của Chuẩn tướng Lam Sơn, nay không hy vọng gì có người thoát nạn!... Bọn chúng và Trung sĩ Thanh thay phiên tiếp tục kêu gọi đến gần 6 giờ sáng, lại pháo kích thêm một đợt nữa rồi mới im lặng.

Ngày N+3: Cũng không thấy phi cơ nào xuất hiện. Các xác chết cũng bắt đầu sình thối. Tiểu đoàn lại nhận được một Công Điện “Hỏa Tốc” đánh bằng bạch văn:

“Lệnh của Quân Đoàn, nếu địch tràn ngập, phá hủy vũ khí nặng, đốt kho lương thực, rút lui về hướng Quảng Ngãi. Hết”.

Đây là Công Điện của BCH/BĐQ/QK2. Như vậy là xong. Ốc Đảo Dakpek này đã bị bỏ rơi thật sự rồi!...

Công Điện chỉ có Sĩ quan Truyền Tin và Tiểu Đoàn Trưởng biết mà thôi, không cho phổ biến đến người thứ ba. Bởi vì từ Dapek đi về hướng Quảng Ngãi, núi cao chớn chở trên 1000m, và đường chim bay từ đây đến đó cũng trên 100km, làm sao đi nổi. Thà chết tại đây còn hơn là chết dọc đường rừng già về Quảng Ngãi. Cho nên Tiểu Đoàn Trưởng quyết định tử thủ cho tới giọt máu cuối cùng, và cũng không phổ biến Công Điện Hỏa Tốc này để binh sĩ khỏi bị hoang mang, và mất tinh thần chiến đấu. Trưa hôm đó, sau một đợt pháo kích chừng vài trăm quả của giặc Cộng vào Căn cứ, có một Hỏa tiễn 122ly bay ngang qua hầm chỉ huy của Tiểu Đoàn Trưởng, và may mắn là lọt xuống thung lũng gần đó, rồi mới nổ... làm văng mất mấy lớp hàng rào kẽm gai. Nếu rơi trúng hầm, thì chắc chắn là sẽ tiêu hết máy móc truyền tin liên lạc về Pleiku.

12. Phi Cơ “Lạ” Cứu Tinh.

Vừa lúc đó, ta lại nghe có tiếng phi cơ lạ từ xa vẳng tới. Bỗng đâu có Thượng sĩ Bảng, Trung đội phó Trinh Sát của Tiểu Đoàn đến gặp Tiểu Đoàn Trưởng cho biết một cách tổng quát như sau:

“Tiếng phi cơ đó là phi cơ loại Mohawk, đi kiểm soát các máy Sensor phóng dọc đường mòn Hồ Chí Minh theo kế hoạch McNamara, để tìm hiểu về sự di chuyển của địch quân. Khoảng hai ba tuần, có khi là cả tháng một lần, loại Mohawk này dường như xuất phát từ Thái Lan hoặc Kampuchea, bay dọc theo đường mòn Hồ Chí Minh, để kiểm soát hệ thống Sensor như đã nói. Hồi còn Toán Lực Lượng Đặc Biệt Mỹ, chiếc Mohawk này khi bay gần trại, thường vô tần số của trại để hỏi han tin tức với những người Mỹ ở đây. Lúc đó Thượng sĩ Bảng chỉ là một Dân Sự Chiến Đấu (CIDG) mang máy cho toán Lực Lượng Đặc Biệt Mỹ. Bảng nhờ có sự lanh lợi và nói tiếng Mỹ rất giỏi, nên nhiều lần cũng thay Sĩ quan Truyền Tin của toán Mỹ, trả lời với người phi công của Mohawk. Riết rồi thành quen tiếng nhau, và thường cho nhau tần số riêng để đấu láo. Đến khi Trại Dân Sự Chiến Đấu này được cải tuyển sang BĐQ, anh Bảng được cải tuyển thành Thượng sĩ làm Trung đội phó Trung đội trinh Sát, chiếc Mohawk này thỉnh thoảng cũng có bay ngang, nhưng họ không còn liên lạc với nhau nữa”.

Bấy giờ Thượng sĩ Bảng xin phép Tiểu Đoàn Trưởng, cho y đổi sang tần số, mà thời gian khá lâu trước đây y đã từng liên lạc với Mohawk. Nếu nó không đổi tần số khác, thì may ra ta có thể nhờ nó bay ngang Căn cứ, quan sát xem VC đang vây hãm nhiều hay ít, và nhờ nó giúp đỡ được đến đâu hay đến đó. Thế là Thượng sĩ Bảng được lệnh, và chuyển từ tần số này sang nhiều tần số khác, một hồi lâu mới nghe tiếng Mỹ trả lời... Chừng đó hai bên nhận ra tiếng nhau, và Thượng sĩ Bảng báo cáo tình hình bị bao vây của Dakpek, nhờ nó bay ngang để quan sát. Một lúc sau, máy bay Mohawk xuất hiện bay nhiều vòng trên vùng Dakpek, và cho Thượng sĩ Bảng biết là chung quanh trại, VC đào hầm hố rất nhiều và còn mới. Nó hứa là ngày mai sẽ có máy bay quan sát lên vùng để quan sát tiếp. Theo sự suy đoán của Bảng, thì anh phi công Mohawk này, không biết là toán Lực Lượng Đặc Biệt Mỹ ở trại này đã rút đi hết, theo như kế hoạch Việt Nam Hóa Chiến Tranh của Tổng Thống Nixon đề ra. Giả sử mà hắn có hỏi, Bảng cũng sẽ tìm cách trả lời ỡm ờ, để hắn tưởng là vẫn còn có toán Mỹ ở đây để xin yểm trợ. Khoảng 3 giờ chiều lại một chầu pháo kích nữa. Sau đó, thì Trung sĩ I Đức đến xin phép dùng TNT cưa mấy tấm vỉ sắt (PSP) loại lót phi trường, để làm hầm nằm ngủ cá nhân cho Tiểu Đoàn Trưởng. Sở dĩ anh Đức muốn làm như thế, là vì hôm qua chính anh nhìn thấy Hỏa tiễn 122ly do VC pháo kích, bay ngang hầm chỉ huy của Tiểu Đoàn Trưởng và Truyền Tin. Vạn nhất mà có loại Hỏa tiễn 122ly xuyên phá rớt trên nắp hầm, thì sẽ xuyên hết các lớp bao cát trên đó, rồi chui vào bên trong mới phát nổ, thì còn gì hầm Truyền Tin và máy móc liên lạc với Pleiku. Cũng phải nói rõ hơn là phòng ngủ của Tiểu Đoàn Trưởng, liền với hầm chỉ huy và Truyền Tin, do Lực Lượng Đặc Biệt Mỹ xây rất kiên cố. Trên nóc hầm chất đến hàng chục lớp bao cát. Chung quanh đều có tường gạch và vỉ sắt ngăn chặn. Ước lượng nếu một quả đạn Pháo Binh 105ly nổ trên nóc hầm, thì cũng không chọc thủng được phía dưới. Chỉ sợ loại đạn xuyên phá mà thôi. Gần đây thì giặc Cộng lại có loại Hỏa tiễn 122ly xuyên phá, vì thế mà Trung sĩ I Đức muốn làm thêm một cái hầm nhỏ bằng vỉ sắt gần sát mặt đất, trên chất vài lớp bao cát, để làm nơi ngủ và làm việc của Tiểu Đoàn Trưởng, và để máy truyền tin dự phòng. Như thế thì may ra, mới tránh được Hỏa tiễn xuyên phá 122ly như đã nói trên. Căn hầm nhỏ này không ngờ lại là chỗ ngủ của Tiểu Đoàn Trưởng, trong suốt hơn 50 ngày đêm sau đó, vì Căn cứ vẫn bị địch bao vây và pháo kích liên tục. Nhưng cũng may là trong suốt thời gian đó, tuy Hỏa tiễn 122ly của địch rớt vào Căn cứ khá nhiều, nhưng không có trái nào rơi trúng hầm chỉ huy này cả. Thật cám ơn Trung sĩ I Đức vô cùng. Sự cám ơn này với tấm lòng chân thật của Tiểu Đoàn Trưởng, trước linh hồn của Trung sĩ I Đức, vì sau đó vài ngày anh bị trúng đạn pháo kích lìa đời, bỏ lại người vợ trẻ cưới nhau chưa đầy năm, và cái bào thai đang tượng hình hài bởi dòng máu trung hậu của anh!

Khoảng 10 giờ đêm hôm đó, sau một loạt pháo kích, chúng lại tấn công. Lần này có phần tấn công dữ dội hơn đêm qua. Theo dự đoán, tức là chúng đã được tiếp viện thêm người, thêm vũ khí đạn dược, và quyết tâm phải chiếm cho bằng được Căn cứ này! Cũng may là lúc đó có tiếng phi cơ lên vùng, đến gần mới biết là loại Phi Cơ C130 Spector, có trang bị Đại Bác Bofors và Đại Liên M60. Sau khi liên lạc với Tiểu Đoàn, để xin hướng dẫn cho nó bắn Đại Bác vào những nơi trọng yếu. Thế là Spector vừa thả trái sáng rực trời, vừa tác xạ theo hướng do Tiểu Đoàn hướng dẫn. Loại phi cơ này do Mỹ lái, và bắn rất chính xác. Có lúc đại bác nổ gần sát giao thông hào của Đại Đội 3, vì VC đang xung phong lên đó. Đại liên M60 trên phi cơ cũng nổ giòn tan. Tiểu đoàn dùng Siêu Tần Số hỏi về Trung Tâm Hành Quân BCH/BĐQ/QK2, có phải nơi đây cho Spector yểm trợ Dakpek không, thì được trả lời là không. BCH/BĐQ/QK2 lại hỏi lên Trung Tâm Hành Quân của Quân Đoàn II, cũng được trả lời là không nốt. Mọi người suy nghĩ chắc đây là do ông Vann giúp cho ta cũng chưa biết chừng? Loại C130 Spector này dường như Mỹ không có trang bị cho VN, và hiện giờ thì Quân Đội Mỹ cũng đã rút đi hết rồi... Vậy thì Spector này từ đâu tới? Từ Thái Lan chăng, hay là từ ngoài Đệ Thất Hạm Đội bay vào? Thôi thì từ đâu tới cũng được, nó bắn rất hữu hiệu và chính xác, lại quần trên đầu ta đến gần 3 giờ mới từ giã rời vùng, nhưng lại cho biết là sẽ có chiếc khác thay thế. Quả nhiên chiếc thứ hai lại đến, và trút hết đạn Đại Bác, Đạn M60 cùng Hỏa Châu cho đến 5 giờ sáng mới bay đi. Nhờ có Thượng sĩ Bảng khỏe mạnh, lanh lẹ, lại rành việc điều động hướng tác xạ cho Spector mà thay thế Tiểu Đoàn Trưởng. Vì vậy mà ông ta ngủ được một giấc dài đến hơn 7 giờ sáng, bù lại 3 đêm thức trắng vừa qua. Binh sĩ lục soát quanh đồi Đại Đội 3 và Tiền Đồn, lại gặp nhiều vết máu, và thêm 3 xác chết banh ruột gan, và tứ chi văng tứ tung. Có lẽ Spector bắn chính xác và liên tục, nên bọn “chuột” không kéo hết thây của đồng đội chúng đi được.

13. Những Phi Tuần “Chùa”

Ngày N+4, các xác chết của ta cũng như của địch chết trong mấy ngày trước đã dậy mùi, mà trực thăng tản thương cũng không thấy. Sau một đợt pháo kích khá nhiều vào buổi sáng sớm, Tiểu Đoàn Trưởng ra lệnh chôn các xác chết của VC. Phải đào đất ngay tại chỗ mà vùi dập năm bảy xác vào một hố. Binh sĩ vừa đào hố chôn VC, vừa lắng nghe tiếng “đề-pa” các loại súng cối pháo kích của VC, để kịp thời chạy vào hầm núp. Đến khoảng 10 giờ sáng thì có phi cơ lên vùng. Lần này là phi cơ quan sát L20 cũng do Mỹ lái. Thượng sĩ Bảng liên lạc cho biết là do chiếc Mohawk khi trở về Căn cứ của họ, đã trình xin thượng cấp cho chiếc phi cơ quan sát này, lên bao vùng giúp cho Dakpek. Chiếc L20 cho biết là VC đào hầm hố chung quanh rất nhiều, và cũng có nhiều hầm đào sát dưới chân đồi về phía Tây (tức là dưới chân đồi của Đại Đội 3 và Tiền Đồn của Đại Đội này). Chiếc L20 lại bị đạn phòng không bắn lên, phi công cho biết là sẽ kêu phi tuần Thunderchief lên vùng. Hơn một giờ sau, hai chiếc chiến đấu cơ Thunderchief xuất hiện, và oanh tạc theo sự hướng dẫn của L20. Binh sĩ và kể cả gia đình đứng lên nóc hầm, vừa xem hai chiếc chiến đấu cơ này bỏ bom, vừa vỗ tay tán thưởng khoái chí. Chiếc L20 này rời vùng lại có chiếc khác, và các máy bay oanh tạc này hết bom thì bay đi, lại có hai chếc khác bay tới thi hành tiếp nhiệm vụ. Họ bỏ bom hết góc rừng này, đến hóc núi khác chung quanh Dakpek, trông thật sướng mắt. Đạn phòng không của VC thỉnh thoảng lại bắn lên, càng làm chọc tức thêm, khiến các phi công Mỹ càng hăng hái, kêu nhau thay phiên bỏ bom lên đầu bọn chúng. Vì vậy mà suốt ngày hôm đó đến 5, 6 giờ chiều, có không biết bao nhiêu là Phi Tuần “Chùa” oanh kích các hầm hố VC Trong khi đó ta chỉ đứng nhìn vỗ tay tán thưởng mà thôi. Đến đêm thì Spector lại xuất hiện bỏ trái sáng, và bắn Đại Bác, Đại Liên chung quanh hàng rào của Căn cứ gần như suốt đêm. Bọn VC lại bắn đạn phòng không lên Spector, và Đại Liên trên Spector bắn xuống. Hai luồng đạn lửa đỏ lòm bắn lên bắn xuống... giống như hình ảnh đấu phép thời Phong Thần Diễn Nghĩa, trông rất ngoạn mục. Nhờ Thượng sĩ Bảng thay thế trực máy liên lạc với Spector, mà Tiểu Đoàn Trưởng cùng một số sĩ quan khác... lợi dụng để ngủ qua đêm dưỡng sức.

Còn lính Thượng cũng khoái chí đào hố chôn xác Vẹm, dưới ánh Hỏa Châu sáng rực của Spector thả liên tục suốt đêm. Hai xác chết của Thiếu úy Hà và Thượng sĩ Nê, cùng mười mấy binh sĩ tử thương, được đào lỗ chôn thành mười mấy ngôi mộ nơi sân tập họp, sát chân đồi của Bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn. Đành vậy thôi, vì trực thăng tản thương không có, mà xác của họ đã bắt đầu trương sình thối rữa! Tất cả những chiến sĩ can trường này, họ đã đền ơn Tổ Quốc một cách liệt oanh! Nhưng không ai có được một chiếc quan tài, một vòng hoa, một điệu kèn đưa tiễn, mà chỉ có gói vào Poncho vùi nông một nấm, nơi đất núi cằn khô, trên cao độ gần 700m trong lúc ban đêm! Ôi! Một kiếp con người... Từ đây, vợ con của Thượng sĩ Nê và cha mẹ của Thiếu úy Hà, sẽ không còn thấy mặt hai anh nữa. Có còn chăng trong giấc chiêm bao!... Giả dụ ngay đợt tấn công đầu tiên đó, Tiểu Đoàn Trưởng chạy ra giao thông hào cùng một hướng với Thiếu úy Hà... thì giờ này chắc cũng phải nằm dưới ngôi mộ bên cạnh các anh rồi! Thôi thì sống gửi thác về... cát bụi hoàn cát bụi... xin các bạn hãy yên nghỉ ngàn thu!... Kể cả hơn trăm xác chết của cán binh Việt Cộng kia... Các bạn đã hy sinh, và chết cho một chủ nghĩa ngoại lai phi nhân bản, mà nào các bạn có hiểu biết được đâu? Các bạn mới thật là những người đáng tội nghiệp vô cùng! Thôi thì cũng xin được an nghỉ ngàn thu vậy!

Sáng sớm Ngày N+5, lại một đợt pháo kích vào Căn cứ hàng mấy trăm quả, vài binh sĩ bị thương nhẹ. Nhờ Thiếu úy Trợ Y Nguyễn Tú cùng Trung sĩ I Hòa Y Tá, là những người tận tụy với nhiệm vụ, lại mát tay chữa trị, cho nên các thương binh đều lần lần bình phục, và tiếp tục chiến đấu sống còn trong những ngày sắp tới. Sau đợt pháo kích nêu trên, lúc gần 10 giờ sáng, L20 lại xuất hiện, rồi các phi tuần của Mỹ lại đến bỏ bom chung quanh Dakpek. Bọn “chuột” lại bắn phòng không lên, và những trận bom trút xuống, cho đến trời chiều bảng lảng bóng hoàng hôn mới chấm dứt. Ban đêm lại có Spector lên vùng gần như suốt đêm, và ta lại có một giấc ngủ dưỡng sức tuy có lúc chập chờn, nhưng có được ngủ như vậy còn hơn không.

Ngày N+6: Ta lại ăn sáng bằng hàng trăm quả pháo kích, đến hơn 10 giờ trưa thì L20 “chùa” lại lên vùng, và phi tuần “chùa” cũng xuất hiện. VC hôm nay nấp rất kỹ và không bắn lên máy bay nữa. Hai phi tuần vẫn trút bom vào những điểm nghi ngờ hầm hố kiên cố của lũ “chuột” Cộng nô... bằng loại Napalm (Bom lân tinh). Hai phi tuần buổi chiều, trước khi good-bye đã cho biết là họ đã rải... bom-bi ở cánh rừng phía Tây của Căn cứ. Loại bom-bi này được rải hàng ngàn quả trên mặt đất mà không nổ, cứ nằm yên đó trong thời gian dài. Nếu chân ta đụng phải nó thì bị nổ mà tiêu đời. Nào ngờ đâu, chiếc L20 và các phi tuần chùa đó, coi như chấm dứt lên vùng yểm trợ Dakpek nữa rồi. Từ đây trở đi là ta phải tự lực cánh sinh... mà quần thảo với giặc Cộng. Đêm hôm đó, Spector cũng lên vùng, và bọn “chuột” lại không đấu phép với Spector nữa, tức là không bắn đạn phòng không lên. Spector cũng đành phải trút hết đạn rồi bay về, và chiếc thứ hai lại đến và cũng làm như vậy.

14. Sky Spot:

Ngày N+7: Chầu pháo kích ăn sáng với hàng trăm quả đủ loại vẫn rơi vào Căn cứ. Sau đó thì im, rồi lại pháo kích có khi một loạt vài chục quả, có khi vài quả, tức là quấy rối ta không lúc nào yên. Rồi đến trưa, đến chiều, không thấy L20 “chùa” và phi tuần “chùa” nữa, nhưng mà tinh thần binh sĩ không nao núng. Trong mấy ngày qua nhờ các máy bay chùa yểm trợ, địch không dám pháo kích vào Căn cứ, ta lợi dụng vào đó mà xuất kho phát gạo muối, lương khô đầy đủ cho binh sĩ. Họ còn bò xuống suối tắm rửa, lấy nước dự trữ, củng cố hầm hố để sẵn sàng chơi tiếp. Đến khoảng 9, 10 giờ đêm cũng không có Spector lên vùng. Địch lại pháo kích khá nhiều. Bỗng... nghe văng vẳng có tiếng phi cơ loại phản lực bay rất cao, và có tiếng phi công Mỹ gọi xuống Căn cứ báo cho biết, có 1 tọa độ mà ngay bây giờ họ sẽ trút bom xuống. Còn hai tọa độ nữa, họ cũng sẽ trút bom xuống một cái lúc 1 giờ khuya, và một cái lúc 3 giờ sáng. Họ yêu cầu Bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn xem lại các tọa độ đó có quá gần Căn cứ không? Nếu họ dội bom vào đó, có gây nguy hại về phía quân bạn và dân làng hay không? Sau khi dò xem trên bản đồ, ta thấy đó là những điểm cách xa Căn cứ từ một cây số rưỡi trở lên, rất an toàn cho quân bạn. Rồi họ cũng yêu cầu ta cho thêm mươi tọa độ nữa, để họ tùy nghi dội bom vào những ngày sau, mà không cần báo cho ta biết trước. Lập tức ta cho họ những tọa độ cách xa Căn cứ khoảng một cây số, để họ tự do oanh kích bất cứ lúc nào. Những tọa độ này là các nơi... có ngã ba suối, có bãi đất trống, có làng cũ bỏ hoang, v.v. mà ta nghi ngờ là có thể địch quân tập trung, hoặc ẩn náu nơi đây. Việc oanh kích này, người phi công Mỹ gọi là những điểm “Sky Spot”. Nó tương tự như những điểm “Pháo Binh Quấy Rối”, mà ta thường ngụy hóa là “mở Quán Rượu”, khi đóng quân đêm trong vùng địch. Tức là các Tiểu Đoàn BĐQ, khi đi hành quân thường ngủ đêm trong vùng địch, họ luôn luôn liên lạc với Pháo Binh để mở những “Quán Rượu” kiểu này. Có nghĩa là chấm những tọa độ... nghi ngờ ban đêm địch có thể tập trung tấn công vào vị trí đóng quân của ta. Rồi gửi những tọa độ nghi ngờ đó cho Pháo Binh để bắn vào đó... tùy theo giờ giấc ấn định. Chẳng hạn như điểm Quấy Rối A (Quán Rượu A), Pháo Binh sẽ tập trung bắn vào lúc 12 giờ khuya. Điểm Quấy Rối B (Quán Rượu B) bắn lúc 2 giờ sáng. Điểm C bắn lúc 3 giờ sáng, v.v. Dùng những điểm Quấy Rối như thế, sẽ làm cho địch không biết đâu mà ngờ. Cho nên ban đêm địch muốn tập kích vào nơi đóng quân dã chiến của ta, chúng cũng rất e dè... Nếu lỡ nhằm ngay Quán Rượu của ta mà tập trung quân, lại nhằm đúng giờ Pháo Binh tác xạ, thì lãnh đủ vậy. Nay nhờ những điểm Sky Spot này, mà hằng đêm các phản lực chiến đấu cơ của Mỹ, có khi oanh kích dăm điểm, có khi vài ba nơi. Và... oanh kích như thế liên tục cả tuần lễ, cũng làm ấm lòng mọi người trong Căn cứ xiết bao!

15. Địch Phóng Loa – Ta Chiêu Hồi.

Ngày N+8: Ban ngày ba bữa ăn chính, bằng đạn pháo tổng cộng vài trăm quả đủ loại, và vài lần pháo lẻ tẻ vài mươi quả. Nghe đạn pháo kích nổ mãi rồi cũng quen tai. Hễ có tiếng đề-pa thì lính ta chạy vào hầm gần đó ẩn nấp. Nổ xong thì lại tiếp tục làm việc hoặc đi lại ngoài trời. Ban đêm, biết ta không còn có Spector lên vùng nữa, thì các “Vẹm cái” lại bắt loa kêu gọi đầu hàng. Không biết mấy con Vẹm “cái” này sinh ở tỉnh nào của “miền Bắc điêu tàn”, mà cứ kêu SQ, HSQ, và Binh Sĩ hãy bỏ “súng, đàn” xuống đầu hàng đi, sẽ được “Cách màng” khoan hồng.

– “Đ.M làm gì có ‘đàn’ ở đây mà kêu bỏ”, một anh lính Kinh trẻ chửi đổng như thế!

Viên Thiếu úy Trưởng Ban 5 Tiểu Đoàn vốn là người Bắc giải thích:

– Chắc hẳn các cô này là người vùng Nghệ-Tĩnh, giọng nói rất khó nghe, những chữ có dấu “nặng” họ nói thành dấu “huyền”. Đây là súng, “đạn” họ nói thành súng, “đàn”. Nghe Thiếu úy Đức Trưởng Ban 5 của Tiểu Đoàn, giải thích cho người lính trẻ, Thiếu tá Tiểu Đoàn Trưởng trong hầm Truyền Tin mỉm cười, sực nhớ có lần đọc được một bài báo nói về hai câu thơ Kiều:

...Giang hồ quen thói vẫy vùng,
Gươm đàn nửa gánh, non sông một chèo...


Đây là hai câu thơ nói về Từ Hải. Trong báo giải thích đại khái (quên tên báo và tên tác giả!) rằng: Dùng chữ “quen thói” ở đây, là làm ô trọc đi cái hình ảnh anh hùng tráng chí của Từ Hải.

“Thói” là để chỉ những thói quen xấu xa, như quen thói cờ bạc, quen thói rượu chè, quen thói điếm đàng... Chứ Từ Hải là một bậc anh hùng, đâu phải là những phường đầu đường xó chợ, mà dùng chữ “thói” như thế. Ở đây là: Giang hồ “quen thú” vẫy vùng, tam sao thất bản thành “quen thói”, làm nhẹ thể đi cái anh hùng đội trời đạp đất của họ Từ. Còn câu dưới là “gươm đạn” chứ không phải gươm đàn! Tác giả trong bài báo giải thích, là ở vùng Nghệ-Tĩnh có một loại cung bắn bằng “viên đạn” thay vì bắn bằng mũi tên (?). Người ta gọi đó là “cung đạn”, nhưng người vùng đó khi nói chữ có “dấu nặng” thành “dấu huyền”, cho nên cung đạn thành “cung đàn”.

Ở câu Kiều này có ý mô tả Từ Hải trên vai mang cung bắn bằng đạn, và một tay cầm gươm, san bằng những nỗi bất công của trò đời. Nguyễn Du vốn là người Nghệ-Tĩnh nên viết là “gươm đạn”. Khi những người ở xứ khác đến vùng này, nghe dân địa phương ngâm Kiều thì tưởng là “Gươm đàn”... Sự giải thích của tác giả trong tờ báo đó, về câu trên thì có thể cho là đúng. Nhưng câu “gươm đàn...” này, lúc đó đọc thì vẫn chưa cho là hợp lý lắm, vì người đọc là dân miền Nam chưa từng sống ở vùng Nghệ-Tĩnh. Còn giải thích theo kiểu Tử Hải là trang anh hùng tài tử, một tay cầm gươm, một tay gảy đàn mà đi đoạt thành phá lũy... thì cũng có phần khiên cưỡng đó chăng? nghe không thấu tình đạt lý chút nào?

Có lẽ sự mỉm cười nói trên, là điều khoái chí, khi nghe chính các cô Vẹm người Nghệ-Tĩnh nói đến hai chữ “súng đàn” này... mà liên tưởng đến hai chữ “gươm đàn” kia vậy. Tiếp theo mấy giọng Vẹm cái kêu đầu hàng, lại đến tiếng nói của Trung sĩ Thanh cũng kêu gọi đầu hàng. Tiếng của anh ta lần này có giọng hơi khàn vì cảm lạnh, chắc chắn là anh ta đã bị tra tấn rất nhiều... Các đồng đội người Kinh trong trại, đang rơi nước mắt thương cho số phận của anh. Nhưng rồi chợt nghĩ đến hoàn cảnh đang bị giặc Cộng bao vây như thế này, mà cũng chạnh thương mình! Có điều là đêm nay chỉ nghe bọn Vẹm phóng loa kêu đầu hàng, chứ không có pháo kích hoặc tấn công. Toàn bộ quân nhân các cấp nằm ngoài giao thông hào, chờ quyết chiến nếu địch tấn công, cũng tùy cơ chia nhau người ngủ người canh giặc, vì thế mà cũng đỡ mệt phần nào. Cũng đêm hôm đó, Tiểu Đoàn Trưởng bàn với Trung sĩ I Đức cố tìm cách phóng loa phản tuyên truyền, bằng cách kêu gọi bọn Vẹm chiêu hồi. Trung sĩ I Đức cho biết, là trong kho còn có “cặp loa” do Lực Lượng Đặc Biệt Mỹ để lại, nhưng hệ thống phát thanh đã bị hư. Đức sẽ tìm cách phục chế, và dùng máy Cassette của riêng anh phát thanh một cuộn băng, mà trong đó có bài Chiêu Hồi, và những bài ca nói về Hà Nội, và các bản nhạc tình cảm khác, để phản tuyên truyền lại. Tuy nhiên, có điều là phải cho chạy máy điện mới được. Tiểu Đoàn cũng có một máy phát điện loại nhỏ, để có điện dùng trong hầm Truyền Tin, hầm thuyết trình và hầm ngủ Tiểu Đoàn Trưởng. Mỗi đêm từ 7 giờ 30 tối, máy điện chạy cho đến 10 giờ khuya thì tắt. Từ sau khi bị địch tấn công đến giờ, máy điện không cho chạy nữa, nhưng máy vẫn còn tốt vì được đặt trong hầm kiên cố. Máy điện sẽ được cho chạy lại, và có thêm bao cát che chắn kín hơn, cũng như các bóng đèn được che bớt ánh sáng lọt ra ngoài.

Hôm sau, Ngày N+9, ban ngày địch tiếp tục pháo kích quấy rối, ban đêm đến lúc 9 giờ lại phóng loa kêu gọi đầu hàng. Lập tức Trung sĩ I Đức cho chạy máy điện, và bài ca “Chiêu Hồi” lại vang lên... “Tung cánh chim tìm về tổ ấm...”. Sau đó là lời của Trung sĩ I Đức kêu gọi các cán binh VC, hãy tìm cách chiêu hồi về với Quốc Gia sẽ được cơm no áo ấm, chứ không bị bạc đãi, v.v. Rồi tới bài “Hà Nội ơi!, tóc thề thả gió lê thê... biết đâu ngày ấy anh về...” và... “Tôi xa Hà Nội năm lên mười tám khi vừa biết yêu...” và sau đó là tiếng nói của 3 tên tù binh:

– “Các đồng chí hãy về chiêu hồi đi, nếu có mang theo súng sẽ được thưởng nhiều tiền... Bản thân ba anh em chúng tớ thuộc Đại Đội Pháo Biệt Lập xuất phát từ Hà Tây, nay về chiêu hồi và được cho ăn uống đầy đủ, không bị khổ cực như ở mật khu... (Đáng tiếc là đã quên danh hiệu Đại Đội Pháo của 3 tên tù binh này)... Các nữ đồng chí thân gái ở trong rừng rậm lại càng cực khổ nhiều hơn nữa, các nữ đồng chí nếu về chiêu hồi sẽ được khoan hồng, và không ai động đến thân xác đâu... Hãy về chiêu hồi đi...”.

Rồi cuộn băng Cassette lại mở tiếp các bài hát đầy tình cảm của Miền Nam, và không ngờ lại có cả bài “Kỷ Vật Cho Em” nghe rất là bi thương ai oán... Nào là “Anh sẽ về trên đôi nạng gỗ... Anh sẽ về bại tướng cụt chân... Anh sẽ về trên chiếc băng ca... trên Trực Thăng sơn màu tang trắng... Poncho buồn phủ kín đời anh... Chiếc khăn sô trên đầu vội vã... Hòm gỗ cài hoa...”.

Bài hát này được phát lên, lại là con dao tuyên truyền hai lưỡi, mà lưỡi đâm về phía ta thì lút cán hơn là về phía địch. Bởi vì cái cảnh Trực Thăng mang màu tang trắng... Poncho buồn phủ kín đời anh... là chỉ có lính của ta nghe, và thấm thía nhiều hơn là cán binh Việt Cộng. Nhưng dầu sao thì cũng là bài hát phản chiến, cho những người đang lâm vào trận chiến, mà cái chết đang rình rập từng giây phút. Phân tích kỹ hơn, ta thấy lợi điểm của bài Kỷ Vật Cho Em này, đối với Căn cứ Biên Phòng Dakpek lại có nhiều hơn, khi phát thanh nghe lồng lộng giữa đêm khuya... khiến địch quân chùng tay súng chiến đấu hơn là phe ta. Bởi lính Thượng trong Căn cứ thì không biết tiếng Việt, còn lính Kinh thì đã chấp nhận tử thủ rồi, nên chẳng có ảnh hưởng là bao. Trái lại cán binh Việt Cộng bị tác động nhiều hơn, bởi những câu “Anh sẽ về trên đôi nạng gỗ... bại tướng cụt chân... hòm gỗ cài hoa...” những thứ mà những kẻ sống trong rừng sâu như họ mới thật là hãi sợ khôn lường! Nếu bị thương, bị cụt chân ở trong “Mật Khu” thiếu thuốc men băng bó, thì quả thật là đau khổ khôn cùng, thà bỏ xác giữa rừng còn hơn... Lời chiêu hồi và các bài hát của ta, nhờ cặp loa phóng đi rất mạnh và rất xa, một lúc thì thấy im tiếng loa cầm tay của bọn chúng... Và... nhiều đêm sau đó, lại không nghe loa kêu gọi đầu hàng của các Vẹm cái, và tiếng nói của Trung sĩ Thanh nữa. Có lẽ chúng thấy im hơi tốt hơn là lên tiếng. Thay vào đó, nếu tiếng loa chiêu hồi của ta vang lên, thì chúng lại pháo kích. Có lần, một trái Cối 82ly trúng trên nắp hầm máy phát điện, nhưng không có thiệt hại, và từ đó ta cũng không phát loa nữa.

16. Chiến Thuật Lưu Động Pháo Kích, Bao Vây, Quấy Rối, và Tiêu Hao Lực Lượng Phòng Thủ.

Từ Ngày N+10 cho đến N+13: Ban ngày chúng pháo kích nhiều lần. Ban đêm cũng pháo kích cầm chừng, và không còn nghe chúng bò lại gần hàng rào, để phóng loa kêu gọi ta đầu hàng nữa. Ta cũng không cần phải phát loa chiêu hồi lại, vì nghĩ rằng bọn chúng bây giờ không thể nào “nuốt trửng” được Căn cứ này nữa rồi, nên đã đổi chiến thuật không bám sát ta nữa, vì vậy mà nếu có phóng thanh chiêu hồi thì chưa chắc bọn chúng nghe được. Chiến thuật thay đổi của chúng là dùng lưu động pháo kích để bao vây, quấy rối, và làm tiêu hao dần dần lực lượng của ta, bằng cách đào hầm kiên cố ở những sườn đồi, cách xa Căn cứ khoảng gần 2 cây số trở lên, rồi dùng hỏa lực súng Cối 61 và 82ly pháo vào Căn cứ. Có thể nói, với những khẩu Cối 61 và 82ly, chúng pháo kích một loạt năm mười quả ở vị trí này xong, thì vác súng chạy sang vị trí khác pháo tiếp.

Có nhiều vị trí pháo Cối 61 và 82ly di động như vậy, nếu ta theo tiếng “đề-pa” để phản pháo vào những nơi đó, thì địch quân đã di chuyển đi nơi khác rồi. Còn các loại Cối 120ly, 130ly, và Hỏa tiễn 122ly thì đặt ở xa hơn, nhưng không pháo kích thường xuyên. Các loại Đại Liên hoặc Đại Bác 57ly không giật, thì chúng bố trí ở những nơi hiểm yếu, nhằm tiêu diệt binh sĩ nếu điều động ra bên ngoài. Theo sự suy đoán, thì tất cả 6 làng Thượng mà ta gởi hạ sĩ quan đến làm cố vấn cho trưởng làng... thì đều bị chúng lùa dân đi tất cả. Những người dân này lại là những dân công tốt cho bọn chúng. Thế nên trong việc bao vây lưu động bằng pháo kích này, vấn đề tải đạn từ Mật khu Bông Hồng đến đây, cũng có phần dễ dàng cho bọn chúng. Còn khi chúng pháo vào Căn cứ của ta, chỉ cần quả đạn lọt vào bên trong là đạt yêu cầu... Vì... không giết được người thì cũng phá được nhà, kho, lều, trại, hầm, hố, và làm giao động tinh thần binh sĩ, đi đến sự hãi sợ liên tục suốt ngày đêm, không biết thình lình chúng pháo kích lúc nào. Mục tiêu của chúng pháo vào ta là cả một Căn cứ rộng lớn, còn trái lại, mục tiêu mà ta phản pháo chỉ là những hầm hố nhỏ, rất khó lòng trúng đích. Nhưng ta vẫn phải phản pháo để trấn an tinh thần binh sĩ, và nếu ta phản pháo nhiều hơn chúng để lấn át tiếng nổ, cũng làm chúng chùn tay pháo kích phần nào, chớ chẳng phải là không. Nhất là hai khẩu 105ly, phản pháo ở độ gần như muốn dựng đứng súng vậy. Tiếng nổ lại rền vang cả núi rừng. Cộng thêm vào nửa khuya, tiếng bom bỏ kiểu Sky Spot thỉnh thoảng lại vang lên, nghe cũng lạnh người. Gặp những lúc trời mưa, hầm hố của ta có mái che kiên cố, nhưng trái lại, hầm hố dã chiến của chúng chỉ che mưa nắng sơ sài. Lợi dụng lúc này, ta cứ theo mấy tọa độ phản pháo đã dùng từ trước, nay pháo kích lại chúng, làm cho chúng lo lắng hãi sợ, cũng là một đòn cân não để trả thù. Với chiến thuật lưu động pháo kích bao vây này, chứng tỏ chúng đang chờ viện quân để tái tấn công. Cho nên bên trong Căn cứ ta cũng cố gắng tu bổ hầm hố, cấp phát mỗi binh sĩ 7 ngày lương khô, và thêm nhiều cấp số đạn dược nữa. Nếu chúng tấn công phen này, tức là một trận sống mái với nhau. Mật lệnh riêng cho quân nhân người Kinh trong trại, là nếu địch tràn ngập hết Căn cứ thì cố chạy về Hướng Đông, rồi sau đó sẽ tìm về Quảng Ngãi. Phần BCH Tiểu Đoàn cũng không dám điều quân ra bên ngoài, để tìm tiêu diệt những ổ súng pháo kích của chúng với nhiều lý do:

– Lính Thượng trong trại không giỏi về chiến thuật tấn công, mà giỏi về phòng thủ. Nếu đem quân đi tìm mà tiêu diệt chúng, thì nhận lấy bất lợi nhiều hơn.

– Ta chỉ có Pháo Binh 105ly cơ hữu yểm trợ mà thôi, chứ không có không quân yểm trợ, nhất là phi cơ tản thương. Tình thế này mà ra quân, tất không có thế thượng phong, vì địch nấp trong rừng bụi, còn ta lồ lộ bên ngoài.

– Dựa vào hầm hố kiên cố, và đạn dược đầy đủ với quyết tâm tử thủ, sẽ đỡ bị tiêu hao lực lượng của mình hơn.

– Vẫn còn nhiều hy vọng giúp đỡ, giải tỏa áp lực địch... của thượng cấp ở Pleiku. Cố bảo toàn lực lượng tối đa là thượng sách.

17. Chiếc Áo Pilot Nghĩa Tình:

Ngày N+14: Khoảng 7 giờ sáng, Chuẩn úy Nguyễn Văn Vinh, Xử Lý Thường Vụ Trưởng Ban 3 của Tiểu Đoàn, trong lúc đứng nấp trước cửa hầm của mình, dùng “ống dòm” quan sát các vị trí đặt súng pháo kích của địch, để điều chỉnh súng Cối 81 ly phản pháo... Thì chẳng may... một quả đạn Cối 61ly pháo kích của địch rớt ngay bên cạnh, khiến anh và Trung sĩ I Hòa Y Tá đứng nấp gần đó đều bị thương, nhưng phần Vinh thì nhiều hơn, miểng ghim đầy mình! Tội nghiệp, Chuẩn úy Vinh vừa mới ra trường không được bao lâu, lại bị thương quá nặng như vầy e khó qua khỏi cơn nguy hiểm. Thiếu úy Nguyễn Tú Sĩ quan Trợ Y của Tiểu Đoàn đã hết lòng cứu chữa, nhưng anh chỉ còn biết ra hiệu ngầm cho Tiểu Đoàn Trưởng là khó qua được. Mặc dù vậy, Tiểu Đoàn Trưởng vẫn lên Siêu Tần Số xin trực thăng tản thương gấp, càng nhanh càng tốt, để may ra còn có thể cứu được mạng sống của Vinh. Lần này hy vọng sẽ thành công hơn, tức là sẽ có trực thăng tản thương đến trại, vì sau 14 ngày vây hãm, hỏa lực của Cộng quân có phần yếu đi nhiều. Nhưng vẫn được lịnh là phải chờ... Khoảng gần 4 giờ chiều cùng ngày, tên lính Thượng cần vụ của Chuẩn úy Vinh đến gặp Thiếu tá Tiểu Đoàn Trưởng, cho biết là Chuẩn úy Vinh muốn gặp mặt ông, và ông ta lập tức đến ngay. Vinh mình đầy băng bó, được đặt nằm trên “băng-ca” để sẵn sàng nếu có trực thăng đến, thì lập tức bốn tên lính khiêng chạy nhanh ra bãi đáp để tản thương. Anh rất còn tỉnh táo, đưa tay nắm lấy tay của Tiểu Đoàn Trưởng, nhưng hai dòng lệ chảy dài trên đôi má tái xanh, có lẽ vì mất máu quá nhiều. Tiểu Đoàn Trưởng cũng vừa nắm lấy tay Vinh, vừa an ủi bằng những lời mà ông ta biết là không thực, nhưng trong tình thế này ông phải lộ vẻ bình tĩnh, nói dối để trấn an thuộc cấp. Biết đâu qua sự trấn an này, mà bản năng sinh tồn của Vinh trỗi dậy mạnh mẽ, nhờ đó có thể qua được sự nguy hiểm của tử thần:

– Vinh cứ yên tâm dưỡng thương, Thiếu úy Tú nói với tôi là không có gì nguy hiểm cho Vinh cả. Chậm lắm là ngày mai sẽ có trực thăng đến. Trung Tâm Hành Quân BĐQ/QK2 ở Pleiku, đã hứa chắc với tôi như vậy.

Ánh mắt của Vinh lóe lên một niềm hy vọng, rồi lại trở về trạng thái u buồn, anh trả lời yếu ớt:

– Chắc em không qua khỏi được đâu Thiếu tá ơi! Nếu em có chết, xin Thiếu tá cố gắng đưa xác em về Pleiku nghe Thiếu tá.

– Anh đừng nói gở như vậy. Anh bị thương tuy nhiều nhưng không có vết nào nguy hiểm cả. Tôi sẽ cố gắng xin tản thương cho anh, đừng lo.

Vinh chỉ tay vào cái áo lạnh kiểu Pilot hãy còn mới để gần đó, ra dấu cho tên lính cần vụ mang đến cho anh.

Sau đó anh đưa cái áo đó cho Tiểu Đoàn Trưởng rồi nói:

– Em xin tặng cho Thiếu tá.

Nói xong Vinh nhắm mắt lại tỏ vẻ mệt mỏi.

– Không! Tôi không nhận đâu. Anh để mà mặc cho ấm, nhất là trong lúc bị thương như vầy.

– Thiếu tá nhận đi! Đây là kỷ niệm của em.

Nói xong, Vinh lại khóc, vết thương nơi ngực bị trào máu ra làm ướt đỏ hết bông băng.

Lúc đó, viên Trung sĩ trực máy Siêu Tần Số vừa đến chào tay và lên tiếng:

– Thưa Thiếu tá, Trung Tâm Hành Quân BĐQ ở Pleiku cần nói chuyện với thẩm quyền.

Viên Thiếu tá vội ra lệnh cho tên lính cần vụ đứng gần đó, đi kêu Thiếu úy Trợ Y đến coi vết thương cho Vinh, vừa bóp mạnh vào tay Vinh như có ý chúc lành, và đi nhanh về phía hầm truyền tin để liên lạc về Pleiku.

Trong lúc đó địch lại pháo kích vào Căn cứ, coi như đó là buổi “ăn chiều” như thường lệ mà bọn Vẹm dành cho BĐQ vậy.

Thật đáng thương cho Chuẩn úy Vinh, tuổi đời của anh hãy còn trẻ, dáng người ốm yếu, trắng trẻo, nhỏ thó. Còn tánh tình thì siêng năng, hiền lành như con gái, rất sùng đạo Phật và thường hay lần chuỗi Bồ Đề, đọc Chú Đại Bi. Vinh lại ăn nói nhỏ nhẹ dễ thương, khiến cho tất cả sĩ quan, hạ sĩ quan người Kinh trong Căn cứ đều thương mến. Cũng không biết từ lúc nào, chiếc áo lạnh kiểu Pilot, mặt ngoài bằng vải ny-long màu xam xám đậm, mặt trong màu gạch cua của Chuẩn úy Vinh, được để trên nệm ngủ trong hầm chỉ huy của Tiểu Đoàn Trưởng. Hỏi ra thì mới biết, Vinh đã kêu tên cần vụ của mình mang chiếc áo Pilot đó đưa cho tên cần vụ của Tiểu Đoàn Trưởng, mà mãi đến khuya khi áp lực pháo kích của bọn Vẹm có phần nhẹ đi, ông ta chui vào hầm ngủ mới biết được... Cũng vừa lúc... Thiếu úy Nguyễn Tôn Tòng đến báo tin Chuẩn úy Nguyễn Văn Vinh đã vĩnh viễn ra đi, mặc dù Sĩ quan Trợ Y đã hết lòng cứu chữa. Hai thầy trò nhìn nhau ứa lệ, buồn thương cho một kiếp người! Rồi trong khi Thiếu úy Tòng quay lưng trở về hầm chiến đấu của mình, viên Tiểu Đoàn Trưởng (TĐT) ôm chiếc áo Pilot, lần mò đi đến nơi đặt xác Vinh. Tên lính cần vụ đang ngồi gần đó ủ rũ buồn thương. Hắn định đứng lên chào kính, thì TĐT đã khoát tay ra hiệu cho hắn cứ ngồi yên, và ông ta đứng nghiêm chào lần cuối, để từ biệt người sĩ quan trẻ tuổi đáng mến của mình. Tên lính cần vụ cũng đứng lên chùi nước mắt vào ống tay áo, trông nó thật là thảm não. Viên TĐT chào tay xong, cúi đầu lặng lẽ van vái cùng linh hồn Vinh rằng “ông ta rất cám ơn chiếc áo Pilot mà Vinh đã tặng cho. Đồng thời xin hồn linh của Vinh phù hộ cho Căn cứ được bình yên. Và... nếu thật sự có linh thiêng, xin Vinh phù hộ ngày mai có trực thăng đến tản thương. Ông ta sẽ cố gắng bằng mọi giá đưa xác Vinh về Pleiku, để nơi đây chuyển về gia đình của Vinh”.

Xin được nói qua về nguyên nhân mà Vinh trước khi chết, đã tặng áo Pilot cho TĐT của mình:

“Số là gần ba tháng trước khi xảy ra trận tấn công của bọn Vẹm vào Căn cứ, Vinh được đi phép thường niên về thăm gia đình ở Qui Nhơn. Khi trở lại Căn cứ, trong bữa cơm trưa Vinh có mặc chiếc áo Pilot này ngồi ăn, được các sĩ quan đồng trang lứa, trầm trồ khen chiếc áo đẹp trước mặt TĐT. Hỏi giá chiếc áo thì Vinh cho biết là ba ngàn đồng, đó là số tiền khá lớn so với lương Chuẩn úy, nhưng Vinh nhờ gia đình có nhà thuốc tây ở Qui Nhơn, nên mới thừa tiền mua được. TĐT cũng khuyên các sĩ quan có mặt hôm đó, nên để dành tiền mỗi người mua một cái, vì chúng ta sống ở vùng rừng núi quanh năm sương mù bao phủ, nếu mặc áo lạnh kiểu nhà binh như vầy thì vừa ấm áp mà cũng vừa tiện lợi. Lại nữa, mỗi khi đi hành quân rủi lạc trong rừng, nếu có chiếc áo này, thì lộn ngược bề trái màu gạch cua làm dấu hiệu... cho phi cơ dễ thấy mà cứu mình. Hỏi Vinh mua ở đâu thì được trả lời là mua ở Qui Nhơn. Viên TĐT nói đùa là: ‘Vậy thì phải cấp phép lần nữa cho Vinh đi về Qui Nhơn, mua cho tôi và anh em mỗi người một cái. Anh em hãy chuẩn bị tiền đi nhé’. Mọi người cười rộ vui vẻ... “Chừng một tháng sau, thì Vinh có xin với TĐT được làm sĩ quan liên lạc, giữa tiền trạm của Tiểu Đoàn ở Pleiku với Căn cứ Dakpek này, để lo việc nhận lãnh đồ tiếp liệu cũng như thực phẩm, gởi theo từng chuyến trực thăng Chinook tiếp tế cho đơn vị. Việc này đang do Thượng sĩ Hỷ vốn là một Dân Sự Chiến Đấu Cải Tuyển phụ trách. Thượng sĩ Hỷ do vị Tiểu Đoàn Trưởng tiền nhiệm cắt cử vào công việc này, nhưng vì kém trình độ hiểu biết và cấp bậc lại nhỏ, nên thường bị các sĩ quan tiền trạm của các Căn cứ khác lấn lướt, khiến đồ tiếp tế gởi cho đơn vị thường bị trễ nải nhiều lần. Vinh được chấp thuận, và đang chờ trực thăng tiếp tế đến sẽ theo về Pleiku nhận nhiệm vụ mới”.

Nhưng không ngờ... Căn cứ bị tấn công, và giờ đây Vinh đã hóa ra người thiên cổ. Không hiểu sao trước khi chết Vinh lại tặng chiếc áo Pilot này cho TĐT, có lẽ là do tấm lòng kính mến của mình đối với thượng cấp đó chăng? Viên TĐT tạm kết luận như vậy, và ông ta đã mặc chiếc áo này thường xuyên trong người. Từ đó, cho đến khi đi tù cải tạo lê lết thân tàn trên Hoàng Liên Sơn, mãi cho đến lúc bị chuyển về trại tù ở Nghệ Tĩnh năm 1980, thì chiếc áo Pilot đó mới bị rách bươm... đành phải van vái với Vinh rồi quăng bỏ. Còn nhớ là sau khi Căn cứ được giải tỏa, mọi sinh hoạt được bình thường, một người anh của Vinh từ Qui Nhơn theo trực thăng tiếp tế vào tận Căn cứ, để nhận lại những di vật của Vinh, và hỏi thăm về cái chết của em mình. Tất cả những di vật của Vinh gồm quần áo, mền mùng, đồng hồ hiệu Seiko 5, máy chụp hình, xâu chuỗi Bồ Đề, cuốn kinh Phật, vài ngàn đồng bạc (không nhớ rõ con số). TĐT có kể rõ về chiếc áo Pilot, và muốn để người anh của Vinh mang về. Nhưng người anh của Vinh quyết định làm theo lời hứa của em mình, mà yêu cầu viên TĐT nên giữ lại chiếc áo để làm kỷ niệm...”

Ngày N+15: Vinh nằm đó chờ trực thăng tản thương đến bốc xác về Pleiku. Nếu trong vài ngày mà không có trực thăng, thân xác dậy mùi thối rữa, thì bắt buộc nửa đêm phải cho lính mò ra bãi tập họp, sát với chân đồi của BCH Tiểu Đoàn, mà đào lỗ chôn anh chứ không biết làm sao hơn... giống như đã chôn xác Thiếu úy Hà và Thượng sĩ I Hoàng-Nê gần mươi ngày trước vậy. Quả thật là những nỗi đau lòng khôn tả... cho những người Kinh còn sống ở trong trại, và không biết ngày nào rồi sẽ tới lượt mình, vì cấp trên gần như bỏ rơi hẳn Căn cứ Biên Phòng, và Chi Khu Dakpek với hơn 3000 dân Thượng ở đây rồi!

Địch quân ở bên ngoài vẫn bao vây, vẫn thình lình pháo kích vào trại bất kể ngày đêm với đủ loại đạn pháo. Có ngày thì pháo ào ạt, nhưng cũng có hôm thì pháo lai rai cầm chừng, để quấy rối ta phải ăn ngủ ngoài giao thông hào mút mùa, bất kể nắng mưa. Ôi! Linh hiển thay, có lệnh từ BCH/BĐQ/QK2 ở Pleiku, cho biết sẽ có trực thăng đến vào lúc 11 giờ trưa, để bổ sung Tiểu Đoàn Phó đang khiếm khuyết, và thêm một số binh sĩ cả Kinh lẫn Thượng. Lệnh trên cho biết, khi trực thăng đáp xuống, thì lập tức đưa 3 tù binh và người áp tải lên tàu thật nhanh, để chở về Phòng Nhì Quân Đoàn II khai thác, chứ không phải là trực thăng tản thương. Dù vậy, TĐT cũng căn dặn 4 tên lính Thượng, phải cố gắng đẩy chiếc “băng-ca” đã bó chặt thây của Chuẩn úy Vinh... vào trong lòng phi cơ trực thăng, cùng với 3 tên tù binh do Trung sĩ I Hòa Y Tá áp tải, và một người nữa dường như là Thiếu úy Lâm thì phải. Hai anh này tuy bị thương nhưng tương đối nhẹ, nên phải nhận thêm lệnh áp giải tù binh trao cho Phòng 2/BCH/BĐQ/QK2, rồi mới đi nhà thương điều trị. Từ xa, một đoàn trực thăng dần dần hiện ra, gồm 2 chiếc võ trang và một chiếc trực thăng loại chở quân. Họ được báo trước là đừng đáp ngay trái “khói đỏ” tại bãi đáp bên trong Căn cứ, mà phải đáp ở ngoài phi trường nơi cổng sau của Tiểu Đoàn, vì địch quân sẽ pháo kích vào nơi trái khói đỏ, mà không ngờ rằng mình đáp ngoài phi trường. Quả đúng như vậy, khi trái khói đỏ được bật lên, thì hàng chục quả pháo đủ loại thi nhau nổ gần đó. Trực thăng võ trang tha hồ tống hết đạn, vào vị trí đề-pa các loại súng pháo kích của chúng. Trong khi đó, chiếc trực thăng chở quân tìm cách đáp nhanh xuống phi trường, và vội vàng bốc người rồi bay vút lên, mang theo cả chiếc “băng-ca” với xác của Vinh. Ôi trong suốt cuộc chiến bị địch bao vây 57 ngày đêm, chỉ có duy nhất xác chết của Chuẩn úy Nguyễn Văn Vinh là được đưa về Pleiku mà thôi! Các người khác đều phải vùi nông một nấm tại Căn cứ, vì từ đó cho đến gần hai tháng sau, cũng không có chiếc trực thăng nào đến trại nữa. Âu đó cũng là do cái tâm địa hiền hòa, và tấc lòng luôn hướng về Phật Pháp mà Vinh được phù trợ như thế chăng?

Đó là lời kết luận của một số người Kinh còn sống, về sau này bình phẩm như thế. Bởi vì, trực thăng liên lạc hoặc chở quân, thì khó lòng mà phi công chịu chở xác chết của binh sĩ. Nhưng lợi dụng trong lúc trực thăng đáp nhanh, và cất cánh cấp thời dưới làn mưa pháo của địch quân, ta tống đại “băng ca” bó xác Vinh vào lòng phi cơ, dù cho họ có muốn phản đối cũng không còn kịp nữa, vì phi cơ đang bốc lên cao. Nếu lại hạ cánh để thả xác của Vinh xuống, từ chối không chịu chở, thì nguy hiểm vô chừng. BCH Tiểu đoàn biết làm như thế có thể là sai nguyên tắc, nhưng trong lúc giao tranh cùng địch và với tình thế này, đưa được xác của Vinh về Pleiku, cũng trấn an được tâm lý chung của các quân nhân người Kinh trong trại... nhiều chớ chẳng phải là không. Đến bây giờ, quả thật người viết không còn nhớ đó là trực thăng thuộc Phi Đoàn nào? Phi Đoàn 229 hoặc Phi Đoàn 235 thuộc Sư Đoàn 6 Không Quân? Dù Phi Đoàn nào thì cũng xin có một lời xin lỗi, và cám ơn quý bạn đã đưa được xác của Vinh về Pleiku. Đại úy Nguyễn Thành Tâm theo chiếc Trực Thăng nêu trên, cùng 2 lính Kinh và 5 lính Thượng cùng vào trình diện TĐT. Đại úy Tâm từng là Đại Đội Trưởng ở Liên Đoàn 4 BĐQ tại Cần Thơ. Liên Đoàn 4 này rất nổi tiếng sát Cộng, vì với 5 Tiểu Đoàn trực thuộc gồm: Tiểu Đoàn 41 BĐQ ở Cao Lãnh, Tiểu Đoàn 42 BĐQ ở Cần Thơ, Tiểu Đoàn 43 BĐQ ở Vĩnh Long, Tiểu Đoàn 44 BĐQ ở Quận Cái Răng, Cần Thơ, và Tiểu Đoàn 32 BĐQ ở Quận Bình Minh, Cần Thơ, được dân chúng tặng cho danh hiệu là Ngũ Hổ Miền Tây. Các Tiểu Đoàn BĐQ này với các danh xưng nào là Cọp Đen, Hùm Xám Miền Tây, Cọp Ba Đầu Rằn, v.v. mà các Tiểu Đoàn Tây Đô, Tiểu Đoàn Cửu Long của giặc Cộng nghe đến phải hãi kinh, vì chúng đã từng bị các Tiểu Đoàn BĐQ này đánh cho te tua, phải chạy trối chết. Bản thân Tiểu đoàn Trưởng TĐ/88/BĐQ/Biên Phòng, cũng đã từng là Đại Đội Trưởng của các Tiểu Đoàn 44 cũng như 43 BĐQ, và là Trưởng Ban 3 của Tiểu Đoàn 42 BĐQ, tức Tiểu Đoàn Cọp Ba Đầu Rằn. Sở dĩ có tên Cọp Ba Đầu Rằn, là do chính giặc Cộng vì khiếp đảm mà đặt tên cho, để chúng dặn dò nhau hễ chạm súng với Cọp Ba Đầu Rằn thì phải “chém vè”, tức là bỏ chạy. Lý do là có nhiều lần, bọn chúng chạm trán chỉ với 3 Đại Đội của Tiểu Đoàn 42 BĐQ thôi – mà các quân nhân trong 3 Đại Đội này đều mặc đồ “rằn-ri”, mũ sắt cũng sơn “rằn-ri” với hình “đầu cọp” đang nhe răng chực vồ mồi – đánh cho các Tiểu Đoàn Tây Đô, Cửu Long, nhất là Tiểu Đoàn 307 của chúng không còn manh giáp, cho nên chúng mới đặt cho danh xưng đó. Các Tiểu Đoàn BĐQ nói trên, mỗi Tiểu Đoàn có đến 4 Đại Đội tác chiến. Có thể nói Đại úy Tâm được bổ sung chức vụ Tiểu Đoàn Phó cho Tiểu Đoàn, cùng các binh sĩ vừa đến, khiến các quân nhân trong đơn vị đều lên tinh thần, vì họ không còn lo sợ bị bỏ rơi nữa. Nhất là TĐT được thêm một cánh tay đắc lực, vì Đại úy Tâm rất dạn dày kinh nghiệm chiến trường.

Ngày N+16: Địch vẫn pháo kích cầm chừng sáng, trưa, chiều, tối tổng cộng vài trăm quả đủ loại. Sĩ Quan Truyền Tin của Tiểu Đoàn không biết đã lấy tin bằng cách nào, hoặc là rà máy Siêu Tần Số, hoặc được các Sĩ quan Truyền Tin cùng khóa ở các đơn vị cao cấp hơn, cho biết là: “Có một Lữ Đoàn Dù đã đến phối trí tại Kontum” (Sau này được biết đó là Lữ Đoàn 2 Dù đến Kontum ngày 2 tháng 4 năm 1972). Tin này được Tiểu Đoàn Trưởng, và Sĩ quan Truyền Tin, cùng đồng ý loan tin để trấn an tinh thần binh sĩ, rằng hy vọng một Tiểu Đoàn của Lữ Đoàn Dù này sẽ đến giải tỏa cho Dakpek.

Ngày N+17: Được lệnh chuẩn bị bãi đáp cho trực thăng đến tiếp tế gạo, muối và lương khô, sẽ đến lúc 12 giờ trưa. Nghe tiếng trực thăng từ xa vọng lại, là Vẹm lại bắt đầu pháo vào Căn cứ và phi đạo. Khi đoàn trực thăng 5 chiếc gồm một trực thăng chỉ huy (C&C), hai chiếc trực thăng võ trang, và hai chiếc chở đầy gạo muối cùng lương khô. Khi còn cách trại khoảng 3, 4 cây số thì đạn phòng không bắn lên dữ dội. Đoàn trực thăng dường như trúng đạn phòng không của bọn chúng, nên quay đầu bay về hướng Kontum. Trong Căn cứ dùng “ống dòm”, nhìn thấy hai chiếc trực thăng chở gạo muối, lương khô bay lảo đảo, và lương thực bị đạp nhầu xuống rừng. Có lẽ hai chiếc này bị trúng đạn quá nhiều, nên đạp bỏ các bao gạo muối cho nhẹ... mà ráng lết về Kontum chăng! Nhưng vì quá xa, Căn cứ cũng không thể nào cho quân ra tìm kiếm được, đành dùng tối đa súng 105ly bắn vào nơi đó để mong phá hủy mà thôi.

18. Được Thả Dù Tiếp Tế:

Ngày N+18: Lúc 11 giờ sáng, có chuyến thả dù tiếp tế thực phẩm tươi lần đầu tiên cho Căn cứ. Đó là do chiếc C130 cất cánh từ Nha Trang bay cao khoảng 9, 10 ngàn bộ. Sau khi viên phi công người Phi Luật Tân liên lạc với Căn cứ để xin hướng gió, và thả kiện hàng thực phẩm xuống, rồi bay thẳng. Có thể nói viên phi công này rất tài giỏi! Anh ta thả dù thật chính xác vào đúng mục tiêu, tức là nằm bên cạnh phi trường Caribou ở vùng đất trống. Thiếu úy Nguyễn Tôn Tòng, Đại Đội Trưởng Đại Đội Chỉ Huy Công Vụ của Tiểu Đoàn, đã điều động Đại Đội lấy được hết các thực phẩm tiếp tế đó rất an toàn, mặc dù địch cố pháo vào địa điểm thả dù, cũng như pháo mạnh mẽ vào bên trong Căn Cứ. Ta cũng phản pháo dữ dội để lấn át bọn chúng, nhằm yểm trợ cho toán quân lấy hết số thực phẩm nói trên. Số thực phẩm tươi gồm lạp xưởng, tôm khô, thịt heo, thịt gà, rau cải đủ loại, kể cả nước mắm, nước tương... đủ cho đơn vị dùng khoảng một tuần lễ. Tuy rằng thực phẩm bị rớt trong vũng nước đọng do trận mưa hồi đêm để lại, nhưng nhìn chung thì như nắng hạn gặp mưa rào, ai nấy cũng đều lên tinh thần thấy rõ. Trong ngày này, SQ Truyền Tin cũng báo riêng cho TĐT biết là: Thị Xã An Lộc ở Vùng III Chiến Thuật đang bị địch tấn công.

Ngày N+19: Chuyến thả dù tiếp tế lần thứ hai cũng khoảng 11 giờ sáng. Người phi công liên lạc xuống Căn cứ cũng cho biết ông ta là người Phi Luật Tân, và sẽ thả dù tiếp tế đạn súng Cối 81 và 60ly, theo “Công Điện Khẩn” yêu cầu của đơn vị trong mấy ngày trước. Thượng sĩ Bảng vẫn là người liên lạc cho hướng gió với phi cơ C130, vì anh ta có nhiều kinh nghiệm trong việc hướng dẫn thả dù như thế này, trong mấy trận Việt Cộng bao vây Căn cứ vào những năm 1968 và 1970 vừa qua. Nhưng lần này thì chiếc dù với kiện hàng toàn đạn súng Cối, bay tuốt về hướng tây của Căn cứ cách đến 2, 3 cây số, tức là rơi trong tầm tay của địch. Có lẽ vì hôm nay gió khá mạnh nên thất bại chăng?... Thôi đành tặng không cho Vẹm số đạn súng Cối này!... Bởi hầu hết số lính Dân Sự Chiến Đấu người Thượng nay cải tuyển thành lính BĐQ, họ chưa có lần nào được gởi đi quân trường để học tập về chiến thuật tác chiến. Nếu điều động họ đi tiến chiếm từng mục tiêu, theo chiến thuật tác chiến cấp Trung Đội, Đại Đội, thì họ khá lúng túng và dễ thất bại. Nhưng về phòng thủ thì họ rất giỏi, xem như trong mười mấy ngày qua, biết bao nhiêu lần bọn Vẹm tấn công mãnh liệt vào Căn cứ, nhưng đều bị họ đẩy lui. Cho nên với tình thế này, Tiểu Đoàn không dám điều quân xuất trại, để tìm kiếm chiếc dù với kiện hàng đạn súng Cối đã bị thả lạc hướng vừa qua, mà chỉ ước chừng tọa độ nơi chiếc dù đó rớt, rồi pháo các loại súng cầu vòng của ta vào nơi đó, để cầu may có thể phá hủy nó được. Còn bọn Vẹm thì pháo vào Căn cứ cũng không ít, để khiến ta khó điều động quân xuất trại. Mục đích là để chúng bò ra chiếc dù lạc đó mà kiếm chác vậy...

19. Ta Chơi Trò “Ăn Đêm”.

Ngày N+20: Hôm nay vào lúc 11 giờ lại có thả dù tiếp tế, lần này là một dù đạn Pháo Binh 105ly thả khá chính xác nơi được chỉ định. Thiếu úy Nguyễn Tôn Tòng đã điều động binh sĩ chuyên chở số đạn này về Căn cứ một cách an toàn. Rồi thì cũng như thường lệ, địch cũng pháo vào ta lúc nhặt lúc khoan để khủng bố tinh thần. Ban chiều, Đại úy Tiểu Đoàn Phó đề nghị là đêm nay, ông ta sẽ chọn một Tiểu Đội rồi đích thân chỉ huy, gồm lính Trinh Sát gan dạ của Tiểu Đoàn có cả Kinh lẫn Thượng, sẽ đột kích vào địa điểm ở phía Bắc cách Căn cứ khoảng gần 2 cây số. Nơi này, địch đặt mấy khẩu 82 và 61ly pháo rất nhiều vào Căn cứ, và đó cũng là địa điểm gần đơn vị nhất. Đúng 9 giờ đêm thì xuất phát, và họ đã tiến gần sát đến địa điểm, nghe cả tiếng cười nói của bọn Vẹm đực, cái... Thế là bao nhiêu đạn phóng lựu M79 của cả Tiểu Đội bắn xối xả vào nơi đó. Tiếng đàn ông đàn bà bị thương la khóc và tiếng súng AK47 bắn trả lại. Đoàn lính “ăn đêm” rút lui an toàn, và các loại súng cầu vòng của ta cũng pháo liên miên vào đó. Nhờ vậy mà từ giờ trở đi, nơi đó không còn có địch đặt súng để pháo kích ta nữa.

Ngày N+21: Thiếu úy Nguyễn Tôn Tòng, Đại Đội Trưởng Đại Đội Chỉ Huy Công Vụ đang ngồi trước cửa hầm cá nhân, điều động các binh sĩ thuộc quyền, mau chóng phản pháo lại đợt pháo kích vào buổi sáng của Cộng quân, thì gặp nạn... Đây là công việc điều động phản pháo thường xuyên vào buổi sáng, của các Đại Đội Trưởng và Trung đội trưởng, mỗi khi nghe tiếng pháo “đề-pa” của địch. Hôm nay họ lại pháo kích nhiều hơn, từ Hỏa tiễn 122ly, Cối 120ly cho đến 82ly và Cối 61ly cả ngàn quả bay tới tấp vào Căn cứ. Không hiểu sao lại có cả hai loại đạn 60ly và 81ly của ta, cũng được địch pháo vào Căn cứ nữa. Suy đoán là chiếc dù thả kiện hàng của hai loại đạn Cối này, bị rơi vào tay địch hôm trước, hôm nay chúng dùng nó bắn lại ta? Chẳng lẽ đạn Cối 60ly của ta kích hỏa được bởi súng Cối 61ly, và đạn 81ly của ta cũng kích hỏa được từ súng Cối 82ly của Vẹm chăng? Hay trong kiện hàng được cho biết là đạn Cối 60 và 82ly bị rơi vào tay Vẹm, có kèm theo cả hai loại súng Cối đó nữa, nên chúng mới lấy “gậy ông mà đập lưng ông” được? Sau này theo thông báo của Phòng 4 Bộ Chỉ Huy BĐQ Quân Khu 2, thì mới biết là kiện hàng đạn thả lạc đó, có hai loại súng Cối 60 và 81ly bổ sung cho đơn vị. Đau đớn thay lần pháo kích “gậy ông đập lưng ông” này, có một quả 81ly, rơi vào giao thông hào ăn thông vào hầm chỉ huy của Thiếu úy Tòng và Trung sĩ I Đức, khiến hai anh gục ngã trong nỗi bàng hoàng đau đớn của các anh em còn lại. Càng đau đớn vô bờ bến hơn nữa là người vợ trẻ của Trung sĩ I Đức, đang mang bầu đứa con đầu lòng 6 tháng... phải ôm thây chồng ngất lịm đau thương! Hai anh là sĩ quan, và hạ sĩ quan Lực Lượng Đặc Biệt của trại được cải tuyển sang BĐQ, lại siêng năng và có tinh thần trách nhiệm rất cao, nay ngã gục quả thật là một thiệt thòi lớn lao cho đơn vị.

20. Kiện Hàng Đạn Pháo Binh 105 Thả Dù Phát Nổ:

Ngày N+22: Địch vẫn pháo kích khá mạnh mẽ, trong đó có cả súng Cối 60 và 81ly của ta nữa. Ta vẫn phản pháo như thường lệ. Địa điểm đặt pháo của địch ở phía Bắc Căn cứ, nơi mà Đại úy Tâm đột kích hôm đó tới nay coi như im lặng hoàn toàn. Đó cũng là điều đỡ lo cho Căn cứ, vì nơi đó nhìn thấy được hết chiều dọc của phi đạo Caribou, và dễ dàng pháo khống chế phi đạo này mỗi khi có phi cơ lên xuống. Trong ngày, cũng có một phi vụ thả dù đạn Pháo Binh 105ly, nhưng rơi về phía Tây của Căn cứ và cũng khá xa, cho nên không thể lấy về được, đành phá hủy bằng cách bắn súng Cối 81ly vào nơi đó. Đạn 81ly cũng gần hết, nên ta không dám bắn tối đa đạn vào kiện hàng, mà chỉ bắn vài chục quả nhằm tiêu diệt bọn Vẹm, bò ra kiếm ăn kiện hàng đó mà thôi. Vì theo suy đoán, có thể bọn chúng tưởng rằng: chiếc dù thả lạc đó là thực phẩm gạo muối, giống như các kiện hàng gạo muối do trực thăng đã thả lầm trong ngày N+17. Hoặc lại có thể là kiện hàng đạn Cối 60 và 81ly, thả lạc giống như ngày N+19 vừa qua... Hay ít ra là bọn chúng cũng cắt được một số vải của cây dù, để làm chăn mền vậy. Tuy nhiên, được báo cho biết kiện hàng đó toàn là đạn Pháo Binh 105ly, thì không cần phá hủy cũng không sao, vì Vẹm đâu có Pháo Binh 105ly mà xử dụng loại đạn này... Không ngờ... kiện hàng đó sau này đã giết chết 18 lính, và làm bị thương 21 lính khác, toàn là lính Thượng thuộc Đại Đội Chỉ Huy Công Vụ của Tiểu Đoàn. Đây là một cái tang chung cho Căn cứ, vì trong cuộc chiến mà Tiểu Đoàn 88 BĐQ Biên Phòng, tức Căn cứ Dakpek, bị địch tấn công bao vây và pháo kích liên tục 57 ngày đêm, mà số binh sĩ chết cũng không bằng lần nổ kiện hàng đạn pháo 105 ly này:

Số là sau khi bị địch bao vây đến sáng ngày N+57, lúc 12 giờ trưa máy bay B52 đến bỏ 4 Box chung quanh Căn cứ và Chi Khu Dapek, coi như khu vực được giải tỏa, vì không còn một bóng dáng nào của quân Việt Cộng bao vây cả. Nhưng liên tiếp cả tháng sau, mỗi ngày đều có máy bay đến thả dù tiếp tế đạn dược và thực phẩm cho Căn cứ. Trong khi thả, có một kiện hàng gồm đạn M16 và M60, cùng một kiện hàng loại đạn Carbine và Colt 45, rơi gần kiện hàng đạn Pháo Binh 105ly đã thả lạc trong ngày N+22 nói trên. Trưởng toán đi lấy hàng thả dù bây giờ là một Trung sĩ cải tuyển người Thượng, tên Stung-Kon thay thế Thiếu úy Tòng và Trung sĩ I Đức đã chết. Hắn ta báo cáo về cho biết kiện hàng đạn 105ly bị thả lạc đó... nay lún khá sâu xuống đất. Nhưng nhìn rõ thì thấy còn nguyên, có thể mang về Căn cứ cho Pháo Binh xử dụng được. Lệnh từ BCH Tiểu Đoàn bắt buộc hắn phải kiểm tra kỹ, nếu không thể mang về được, thì cho người trở về Căn cứ lấy chất nổ đem ra phá hủy kiện hàng 105ly đó. Hoặc tìm cách rào lại và đánh dấu nguy hiểm, để dân làng đi vào rừng kiếm củi đừng đến gần. Hắn cả quyết là có thể mang về được. Nhờ vùng đó đất khá bằng phẳng, lại có đường mòn đến gần kiện hàng, nên dùng xe GMC của trại mang về dễ dàng. Thế là chiều tối hôm đó, số đạn pháo binh nói trên, và hai kiện hàng loại đạn M16 và M60 cùng đạn Carbine, đạn Colt 45, được đem về tạm chất tại sân cờ. Sáng mai sẽ chuyển các loại đạn đó... sang đồi của Pháo Binh và kho đạn ở đồi Đại Đội 2, vì xe GMC không thể đến các nơi đó được. Sáng ngày hôm sau, toán binh sĩ được điều động ra đó để ngồi lựa phân biệt các loại đạn M16, đạn Carbine và đạn Colt 45 cùng M60, bởi vì khi thả dù xuống các thùng đạn bằng gỗ bị bể, vỡ tung ra. Còn các thùng đạn bằng kim loại thì méo mó văng đạn ra ngoài, các binh sĩ phải hốt tất cả các loại đạn vung vãi dưới đất đó, bỏ vào trong xe chở về để phân loại sau. Các thùng gỗ của kiện hàng đạn Pháo Binh 105ly cũng bị bể, các binh sĩ phải ôm từng trái đạn chất đống hồi đêm, nay chia nhau mỗi anh vác một hoặc hai trái đem về đồi Pháo Binh cách đó khoảng gần 100 thước. Nhưng trong lúc chia nhau vào lấy đạn vác lên vai, một anh lính Thượng bị vuột tay, khiến một trái đạn rớt vào trong đống đạn bị va chạm mạnh, làm cả đống đạn phát nổ tức khắc... kèm theo nhiều tiếng la thê thảm. Tất cả mọi quân nhân tại đó đều ngã rạp. Toán lính đứng bên đống đạn Pháo Binh coi như không còn ai sống sót, và cũng không tìm được hình hài nguyên vẹn, vì đầu, mình, tay chân, ruột gan, phèo phổi bay văng tứ tung xa hàng 50 thước chung quanh cột cờ. Toán ngồi lựa loại đạn nhỏ gần đó cũng vừa chết vừa bị thương không chừa một ai. Thật là kinh hoàng và khủng khiếp vô cùng! Có điều đáng ngạc nhiên là cột cờ không hề bị gãy, lá cờ Vàng Ba Sọc Đỏ vẫn bay phất phới. Đến chừng cho hạ xuống nửa cột cờ để tang cho những người vừa tử nạn, mới phát giác được ‘một tròng con mắt’ với máu đã khô còn dính trên lá cờ. Sợ rằng vì cái chết thảm thương của đồng đội, mà có khi là có cả bà con của những lính Thượng còn lại, khiến họ phẫn uất nổi loạn chăng? Mà nếu họ nổi loạn thì mấy chục SQ, HSQ, và binh sĩ người Kinh trong trại, sẽ bị chúng trói gô dâng nạp cho Việt Cộng thì xong đời. Hoặc họ nổ súng giết chết hết rồi theo VC cũng nên? Tiểu Đoàn có đánh Công Điện ‘Thượng Khẩn’, yêu cầu BCH/BĐQ/QK2 cử phái đoàn điều tra vụ nổ, đồng thời gởi các toán Chiến Tranh Chính Trị xuống Căn cứ để trấn an tinh thần binh sĩ. Nhưng lúc đó tình hình tại Kontum rất nguy ngập nên không được thỏa mãn. BCH/BĐQ/QK2 chỉ khuyên Tiểu Đoàn phải tự lo liệu mọi việc trấn an mà thôi. Để giải quyết cấp thời... BCH Tiểu Đoàn đã phải nhanh chóng phát thực phẩm, gạo muối, khá nhiều cho gia đình các binh sĩ bị chết và bị thương. Lại lo chôn cất các xác chết tại bãi tập hợp, nơi đã chôn các SQ và HSQ cũng như binh sĩ bị tử trận... trong cuộc tấn công bao vây của Việt Cộng vừa qua. Đồng thời làm báo cáo cho số người chết là tử trận vì đạn pháo của VC, và được truy thăng một cấp, để gia đình họ được hưởng tiền tử tuất.”

Trở lại trận đánh với Ngày N+23 và 24: Hai ngày liên tiếp Căn cứ được thả dù 4 kiện hàng đạn súng Cối 60ly và 81ly, vì rất cần để phản pháo lại địch quân. Cũng may là 4 dù tiếp tế đó đều rớt bên trong hàng rào của Căn cứ, nên ta nhận được đầy đủ. Nhịp độ pháo kích hàng ngày của họ cũng có phần giảm sút, chỉ khi có thả dù thì họ mới pháo nhiều hơn, nhưng các loại 120ly, 122ly hầu như không còn bị pháo nữa.

Ngày N+25: Ta được thêm một dù tiếp tế lương tươi, lần này C130 cất cánh từ Sài Gòn.

Còn hai xác chết của Thiếu úy Tòng và Trung sĩ I Đức đã dậy mùi, mà trực thăng thì không có để chở về nhà xác ở Pleiku. Trong khi đó thì SQ Truyền Tin của đơn vị nghe lóm được trên hệ thống truyền tin của Quân Đoàn II, cho biết là Căn cứ Charlie của Tiểu Đoàn Nhảy Dù đang bị địch tràn ngập. Tình hình tại Dak-tô nơi có BTL/Sư Đoàn 22 BB trấn giữ đang rất nguy ngập. Vì vậy mà rất khó lòng có trực thăng tản thương cho ta được. Đêm hôm đó đành phải chôn xác Thiếu úy Tòng, và Trung sĩ I Đức bên cạnh mộ của Thiếu úy Hà và Thượng sĩ I Nê, trong nỗi đau lòng chung của mọi người! Còn nhớ Thiếu úy Tòng, Thiếu úy Hà và Chuẩn úy Vinh, hồi Tết Nhâm Tý 1972 vừa qua, đều chuyền tay nhau đọc một cuốn sách nổi tiếng hơn thập niên về trước. Đó là cuốn “Đời Phi Công” của Nhà Văn Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh:

“Ba anh rất mê cốt chuyện, và thán phục về sự học vấn, của Nhà Văn kiêm Nhà Bác Học VN nổi tiếng trên thế giới này. Có lần họ ao ước, là mong được gặp mặt ông Toàn Phong để thỏa lòng ngưỡng mộ. Sự ao ước của họ quả thật là mò kim đáy bể, vì hiện tại nghe đâu ông Toàn Phong là nhà Bác Học của Mỹ, làm việc trong Cơ Quan Không Gian Hoa Kỳ, là một cơ quan mà vấn đề an ninh rất chặt chẽ. Chính viên Tiểu Đoàn Trưởng hiểu một cách đại lược đã cho họ biết như thế, nhưng anh nào trong bọn họ cũng cho là ‘biết đâu... rồi sẽ gặp được thì sao?’... Không ngờ 37 năm sau, chính Nhà Văn Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh, với tư cách Chủ Tịch Hội Đồng Đại Diện Tập Thể Chiến Sĩ VNCH Hải Ngoại, đến chủ tọa buổi lễ Chiến Sĩ Trận Vong tại Thành phố Kỹ Nghệ Xe Hơi Detroit, Michigan, vào ngày 7 tháng 11 năm 2009, do Trung Tâm Điều Hợp Tập Thể Chiến Sĩ VNCH Vùng Trung Bắc Hoa Kỳ tổ chức. Trung Tâm Trưởng của Trung Tâm Điều Hợp đó, lại là viên Tiểu Đoàn Trưởng của Tiểu Đoàn 88 BĐQ Biên Phòng, tức Căn cứ Dakpek khi xưa. Ông ta đã từng nghe lời ao ước của họ, và cũng đã chôn hai người trong số họ... tại vùng đồi núi Dakpek đau thương, bởi tình hình bắt buộc. Mà hỡi ơi! cho đến bây giờ... nắm xương tàn của họ, vẫn còn đấy trơ trơ cùng tuế nguyệt. Lúc sống các anh không thể nào gặp được Nhà Văn kiêm Nhà Bác Học này, nay trong buổi lễ Chiến Sĩ Trận Vong dưới sự chủ tọa của người, và chính viên TĐT trước kia đã đọc điếu văn, chiêu hồn tất cả các chiến sĩ VNCH vị quốc vong thân, trong đó có các anh... Thôi thì sống khôn thác thiêng, nay hồn linh các anh được diện kiến như thế, tuy âm dương đôi ngã, nhưng tin chắc cũng được thỏa nguyện phần nào...”

Ngày N+26 và 27: Địch chỉ pháo kích cầm chừng bằng các loại đạn 60, 61, 81, và 82ly, mục đích là quấy rối Căn cứ, khiến sự sinh hoạt di chuyển của đơn vị phải rất thận trọng. Hễ nghe tiếng “đề-pa” pháo kích của chúng, là tất cả mọi người đang đi lại trên giao thông hào, hoặc gần miệng hầm thì phải lập tức nhảy vào đó trú ẩn, chờ cho dứt pháo kích rồi lại tiếp tục đi lại. Vấn đề đi lấy nước cũng thế, vì thỉnh thoảng chúng cũng pháo kích vào địa điểm lấy nước này, nhưng không có thiệt hại nào đáng kể. Bên đồi của Chi Khu ít bị pháo kích hơn, vì chỉ có một ngọn đồi phòng thủ với chu vi hẹp, nên các quả đạn pháo thường rơi bên ngoài sườn đồi nhiều hơn là bên trong. Có điều là cho tới ngày hôm nay, họ vẫn ăn toàn là lương khô mà thôi.

Ngày N+28+29 và 30: Liên tiếp trong 3 ngày này, Căn cứ nhận được 3 dù thả tiếp tế gồm 2 dù toàn đạn dược đủ loại. Một dù toàn những bao gạo chỉ xanh, và những thùng “Gạo Sấy”, cũng do C130 từ Sài Gòn bay đến thả khá chính xác. Cả 3 kiện hàng đều rơi xuống gần phi trường, tuy các thùng đạn có bị méo mó và bị bể, nhưng 80% vẫn còn tốt. Các bao gạo tuy cũng có bị bể khá nhiều, nhưng vẫn còn dùng được đến 70%. Căn cứ vẫn cứ báo cáo là bị hư hao đến quá nửa, và tiếp tục xin thêm, vì đây là hai thứ cần thiết nhất cho sự sống còn của Căn cứ. Có đạn dược để vững tâm phòng thủ. Có gạo để trấn an lòng binh sĩ Thượng. Với kiện hàng gạo này, BCH/Tiểu Đoàn cho phát phụ trội cho toàn thể binh sĩ, và gia đình của họ ở trong Căn cứ. Có thể nói là họ rất mừng rỡ, vì có gạo là vật liệu cần thiết để họ làm “Rượu Cần”. Nếu là “Gạo Sấy” thì thời gian làm “Rượu Cần” sẽ nhanh hơn gạo trắng. Rượu Cần coi như thức uống cần thiết lúc nào cũng phải có... của già trẻ gái trai người Thượng. Men để làm rượu, thì gia đình nào cũng có dự trữ khá nhiều, vì Câu Lạc Bộ của đơn vị mỗi lần được mua hàng về bán, thì men rượu và bột ngọt là ưu tiên một, và được gia đình binh sĩ mua hết trong thời gian ngắn mà thôi. Ngoài gạo và gạo sấy ra, họ còn làm Rượu Cần bằng bắp, bo bo, lúa mì và lúa mạch mà họ thường trồng trong rẫy của họ. Rượu Cần làm bằng các loại hạt bắp, bo bo, lúa mì đó có phần ngon hơn là gạo. Nhưng gạo sấy vẫn là thứ làm rượu nhanh và dễ nhất, vì không phải ủ hoặc ngâm nhiều ngày trong nước, giống như là gạo thường. Tuy trong cảnh chiến đấu sống còn, nhưng binh lính người Thượng trong trại vẫn nhịn ăn, để lấy gạo gầy Rượu Cần mà uống cho lên tinh thần. Bởi thế, nếu phát gạo có phần dư thừa cho họ trong lúc này, là nâng cao tinh thần chiến đấu của họ hơn bao giờ hết vậy.

Ngày N+31: Có hai chiếc trực thăng chở quân, đến bổ sung quân số cho Tiểu Đoàn BĐQ, và kể cả bên Chi Khu. Nhưng... cho biết là trực thăng sẽ đáp trên Đài Quan Sát của Chi Khu Dakpek, ở đỉnh đồi 1270m. Được biết là một tháng qua, kể từ ngày Dakpek bị tấn công đến giờ, tiền đồn ở cao độ 1270m này do Chi Khu phụ trách vẫn được bình yên, tức là không bị tấn công hay pháo kích của giặc Cộng. Nói đúng hơn thì do địa thế tiền đồn này nhỏ hẹp, đường lên đó có nhiều dốc cao rất khó đi. Chỉ với một Tiểu Đội phòng thủ trên đó, mà một Đại Đội VC tấn công chưa chắc chiếm được, lại còn bị tiêu hao nặng nề nữa là đàng khác. Còn muốn pháo kích lên đó cũng rất trở ngại, vì pháo 10 quả có khi bị rơi xuống vực thẳm cả 10, chưa chắc lọt được vào bên trong. Có lẽ vì thế mà VC để yên cho nó. Cứ 15 ngày thì Chi Khu cho đổi phiên. Họ cũng đã đổi phiên được một lần. Lần này tuy chưa đến ngày đổi phiên, nhưng được lệnh cùng một Đại Đội BĐQ mở đường lên đó, để giữ an ninh một bãi đáp trực thăng duy nhất, mà mỗi lần chỉ đáp được có một chiếc mà thôi. Từ 7 giờ sáng, Đại Đội 1 của Tiểu Đoàn 88 BĐQ Biên Phòng, đã cùng Địa Phương Quân của Chi Khu Dakpek hành quân lên đỉnh 1270m đó, dọc đường không có chạm địch, vì ta đạt được yếu tố bất ngờ. Hai nữa là trong khi Đại Đội 1 xuất phát di chuyển, thì ba hướng còn lại, Tiểu Đoàn cho pháo kích tối đa vào những điểm nghi ngờ đóng quân của bọn chúng để đánh lạc hướng. Đến 3 giờ chiều, thì hoàn tất việc an ninh bãi đáp trên đỉnh 1270m, và đã thấy hai chiếc trực thăng chở quân xuất hiện. Chiếc trực thăng thứ nhất đáp xuống, trong khi chiếc thứ hai đang bay vòng quanh gần đó để chờ tới phiên, thì phòng không của địch từ các sườn núi phía bên kia, bắn lên trực thăng tới tấp. Chiếc thứ nhất đáp xuống an toàn, có 8 quân nhân người Kinh bổ sung cho BĐQ nhảy xuống, họ mang theo mấy thùng đựng Pin cho truyền tin, cùng thư từ bưu tín... Trong toán này có Hạ sĩ Sơn mang máy PRC25, báo tin cho Tiểu Đoàn biết là đã xuống bãi đáp an toàn. Bên Tiểu Đoàn có cho ba thầy trò thuộc toán đặt Sensor do Quân Đoàn II biệt phái, tháp tùng về lại Pleiku để xin hoán đổi toán Sensor khác. Kế đến là chiếc thứ hai đáp xuống, bổ sung lính Địa Phương Quân và Nghĩa Quân cho bên Chi Khu, và cũng có người tháp tùng về Kontum. Không biết chiếc trực thăng nào bị trúng đạn phòng không, mà Hạ sĩ Sơn báo cho biết là “chuồn chuồn nó đái trên đầu tôi”, tức là có xăng từ trên trực thăng chảy xuống trúng đầu anh ta. Nhưng hai chiếc trực thăng đã xong nhiệm vụ, và đang bay thẳng về Kontum. Đến khi còn thấy lờ mờ ở phía xa, thì một trong hai chiếc phát nổ. Hạ sĩ Sơn đang ở trên triền núi cao báo cáo như vậy, vì y nghe tiếng nổ lớn từ hướng đó, và có ánh lửa phụt lên.

Ngày N+32 và 33: Địch vẫn pháo kích như thường lệ, nhưng không có thiệt hại nào đáng kể. Máy bay C130 do phi công người Đại Hàn, từ Sài Gòn bay đến thả dù tiếp tế một kiện hàng loại đạn Cối 60 và 81ly, ta nhận được dễ dàng. Nhưng có một kiện hàng thực phẩm tươi lại rơi về phía Tây-Bắc của Căn cứ cách xa khoảng 3, 4 cây số. Ta có điều động lính ra lấy hàng, nhưng bất thành vì hỏa lực Đại Liên, Thượng Liên của địch ngăn chặn khá mạnh. Cho đến chiều tối rồi... mà vẫn không lấy được kiện hàng thực phẩm này, trời lại mưa tầm tả, đành pháo Cối 81ly vào đó để hy vọng có thể phá hủy, rồi báo cáo thất lạc mà thôi.

Ngày N+34, 35, 36, 37: Áp lực vây hãm bên ngoài của địch vẫn không sút giảm, ta lại rà máy nghe được tin Tân Cảnh bị thất thủ. Trong những ngày này, Căn cứ nhận được thêm một kiện hàng thả dù đạn Cối 60 và 81ly nữa, cùng một dù những loại đạn nhỏ, và một dù tiếp tế thực phẩm tươi do C130 từ Sài Gòn bay ra thả. Trong kiện hàng thực phẩm tươi này, lại có cả những bích chương ghi “Hoan Hô Chiến Sĩ An Lộc” và các báo Tiền Tuyến, Chiến Sĩ Cộng Hòa, cùng nhiều Nhật Báo xuất bản tại Sài Gòn, đều có bài viết hoan hô, và ca tụng tinh thần dũng cảm của các chiến sĩ tử thủ An Lộc. Có lẽ đây là kiện hàng thực phẩm tươi dành cho An Lộc, nhưng máy bay C130 thả dù bốc lầm, rồi thả xuống cho Dakpek chăng? Hoặc vì Dakpek đánh Công Điện Thượng Khẩn, xin tiếp tế lương tươi mà không thỏa mãn được, vì một dù thực phẩm tươi đã bị máy bay thả lạc mục tiêu trong ngày N+33 vừa qua. Do đó, nay tạm lấy của An Lộc để thỏa mãn cho Dakpek cũng nên. Dù sao thì đường tiếp tế cho An Lộc vẫn gần hơn Dakpek, và Mặt Trận An Lộc lại vang rền khắp thế giới, nên có rất nhiều hội đoàn, đoàn thể của tư nhân, tình nguyện đóng góp tài vật lực, nên việc thả dù tiếp tế thực phẩm tươi cho An Lộc rất dồi dào. Vì thế mà san sẻ một ít cho Dakpek đang đói khát... cũng chưa biết chừng? Mọi người trong Căn cứ đoán già đoán non như vậy, rồi đọc báo và ăn bánh mì, với cá hộp Sumaco và Fromage Đầu Bò rất ngon miệng. Chẳng thế mà gần một tháng sau, mặc dù Dakpek đã được giải tỏa, ta vẫn còn được thả dù tiếp tế thực phẩm tươi, nhưng với những bích chương và báo chí, ca ngợi tinh thần chiến đấu dũng cảm của các chiến sĩ Tiền Đồn Tống Lê Chân, tức Tiểu Đoàn 92 BĐQ Biên Phòng. Lúc đó, ta mới biết được Căn cứ Tống Lê Chân cũng đang tử thủ sống còn vậy.

Ngày N+38, 39, 40: Lúc này địch vẫn pháo kích, nhưng yếu ớt hơn những ngày trước, trong khi ta lại pháo kích thật nhiều vào những điểm nghi ngờ đặt súng của chúng. Có kiện hàng toàn đạn Pháo Binh 105ly, kiện hàng toàn gạo sấy, và kiện hàng đạn Cối 60 và 81ly được thả dù xuống, tất cả đều rơi gần phi trường Caribou, nên ta lấy được dễ dàng.

Ngày N+41: Một ngày như mọi ngày, ta vẫn ăn sáng, ăn trưa, ăn tối bằng đạn pháo của bọn Vẹm như thường lệ, nhưng ta trả đũa cũng có phần trội hơn. Đêm này, trại Benhet, tức Căn cứ Biên Phòng Bạch Hổ do Tiểu Đoàn 95 BĐQ Biên Phòng trấn giữ, bị giặc Cộng tấn công có 10 xe tăng T-54 yểm trợ. Liên tiếp nhiều ngày sau nữa, cũng bằng T-54 và đặc công tấn kích, nhưng Tiền Đồn Benhet vẫn giữ vững. Ta còn bắn cháy 5 chiếc T-54 của chúng. Tại Tiểu Đoàn 95 BĐQ Biên Phòng lúc đó có Trung tá Lê Chữ, cùng Trung tá Lê Thành Long, và BCH cấp Liên Đoàn nhẹ đến yểm trợ. Hai vị Trung tá này có dùng máy Siêu Tần Số liên lạc với Tiểu Đoàn Trưởng Dakpek, để thông báo tình hình cùng nhau. Trung tá Lê Chữ từng là Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 32 BĐQ, đóng ở Quận Bình Minh thuộc tỉnh Cần Thơ, và Trung tá Lê Thành Long (hiện ở Minesota) từng là Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 42 BĐQ, tức Tiểu Đoàn Cọp Ba Đầu Rằn đóng ở Cầu Rạch Ngỗng, Cần Thơ, nên có thừa khả năng giáng cho giặc Cộng một đòn chí tử, làm bỏ xác 5 chiếc tăng T-54 trong vòng rào phòng thủ của Căn cứ Benhet như đã nêu trên.

Ngày N+42, 43, 44, 45, 46: Địch vẫn pháo kích cầm chừng, ta phản pháo lại với số lượng nhiều hơn. Hầu như ngày cách ngày, Căn cứ đều có thả dù tiếp tế đạn dược, thuốc men, gạo muối. Hễ dù tiếp tế nào rơi ở phía Tây của Căn cứ, cách xa từ hai cây số trở lên, thì không thể lấy đươc. Kiểm điểm từ trước đến giờ, ta đã mất vào vùng phía Tây đó đến 6 dù, mà đa số lại là những dù đạn Cối 60 và 81ly. Cũng vì vậy mà ta bị “gậy ông đập lưng ông”... bằng chính đạn Cối 60 và 81ly của ta khá nhiều! Ba hướng còn lại là Bắc, Nam, và Đông coi như ta đã làm chủ tình hình. Thỉnh thoảng cũng có tiếng pháo kích “đề-pa” từ các hướng Bắc và Đông, nhưng sau khi ta phản pháo lại, thì chúng im hơi. Đến vài ngày sau, mới lại nghe tiếng “đề-pa” pháo rải rác ở những nơi đó, nhưng tình hình mỗi ngày một sáng sủa hơn lên. Còn phía Nam thì có mấy làng Thượng nằm sát Chi Khu, nhất là làng Pleibom có Địa Phương Quân và Nghĩa Quân chiến đấu rất hăng hái, nên địch cũng khá e dè, không dám đặt súng ở vùng đó... Trong thời điểm này, ta cũng được thêm một dù thực phẩm tươi, cũng với những câu khẩu hiệu “Hoan hô chiến thắng An Lộc, Hoan hô những chiến sĩ anh hùng An Lộc”. Thượng sĩ Bảng cũng có liên lạc được với Mohawk trong ngày thứ N+45, và nhờ nó bay quan sát vòng quanh Căn cứ. Mohawk cho biết là không thấy có hầm hố mới, và bọn Vẹm cũng không bắn lên phi cơ nữa. Sau đó thì hắn chào từ giã và bay thẳng, ta không còn liên lạc được nữa, mặc dù thỉnh thoảng vẫn còn nghe tiếng động cơ Mohawk bay ở phía Hạ Lào.

Từ Ngày N+47 đến N+52: Trong thời gian này ta được C130 cất cánh từ Sài Gòn, bay đến thả dù tiếp tế đạn dược, gạo muối dồi dào. Đa số dù thả, ta đều lấy được, tuy cũng phải vất vả vì đạn pháo kích của lũ Vẹm.

Ngày N+53: Truyền Tin của Tiểu Đoàn cho biết, VC bắt đầu tấn công Căn cứ Biên Phòng Tống Lê Chân, do Tiểu Đoàn 92 BĐQ Biên Phòng trấn giữ ở Vùng III Chiến Thuật. Ngày này không hiểu sao địch lại im hơi lặng tiếng, không pháo kích vào Dakpek quả nào?

Từ Ngày N+54 đến N+56: Hỏa lực pháo kích của địch vẫn có trở lại, từ sáng trưa chiều tối, nhưng số đạn pháo vào Căn cứ và bên Chi Khu cũng ít dần. Trái lại, đạn Pháo Binh 105ly của ta, lại bắn tối đa vào những hóc núi ven rừng, cách xa trại năm bảy cây số, và đạn Cối 81ly thì bắn khá nhiều ở tầm ngắn hơn.

21. 4 Box B52 Kết Liễu Trận Vây Hãm Của Việt Cộng.

Ngày N+57: Buổi sáng sớm địch vẫn còn pháo vào Căn cứ, lần này tiếng “đề-pa” từ 3 hướng Đông, Bắc và Tây của Căn cứ khoảng vài chục quả loại 82ly, và có một vài quả 81ly xen lẫn. Đến độ 11 giờ trưa, Bộ Chỉ Huy BĐQ/QK2 thông báo bằng hệ thống Siêu Tần Số cho biết:

Lúc 12 giờ trưa sẽ có B52 thả bom gần Căn cứ. Tiểu Đoàn phải mở máy trực với phi cơ, để kịp thời cho tất cả mọi người ra khỏi hầm trú ẩn trước khi thả bom. Đó là để tránh bị sức dồn ép sẽ làm tức ngực, hoặc bị hộc máu nếu ta còn ở trong hầm.”

Đến gần 12 giờ trưa, thì thình lình hệ thống máy PRC25 của ta nhận được tin bằng tiếng Mỹ, rằng tất cả binh sĩ và gia đình phải ra khỏi hầm ngay lập tức, chừng 3 phút nữa sẽ có B52 thả bom sát ngay Căn cứ. BCH Tiểu Đoàn liền thông báo cho Chi Khu Dakpek nguồn tin trên, và ra lệnh mọi người phải ra khỏi hầm trú ẩn. Đúng 3 phút sau... thì nghe có tiếng phi cơ bay rất cao, và trời ơi... một Box B52 thả xuống phía Tây Căn cứ cách Đồi Đại Đội 3, Đồi Tiền Đồn Đại Đội 3, và Đồi Chỉ Huy Công Vụ chưa đầy một cây số, nơi mà trước đây, Mohawk đã từng báo cáo là địch đào hầm hố rất nhiều. Hàng loạt tiếng nổ long trời lở đất, kéo dài rất lâu mới chấm dứt. Khói đen lẫn đất đá bay mù mịt cả một góc trời. Tất cả mọi người đều đứng trên mặt hầm vỗ tay reo cười khoái chí. Lại tiếp tục có tiếng nổ hàng loạt dài, cũng long trời lở đất, khói bay mù mịt ở sườn phía đông cách Căn cứ chừng một cây số. Tiếng reo hò vui mừng cũng vang động khắp cả Tiểu Đoàn, Chi Khu, và dân chúng trong các làng Thượng tử thủ kế Chi khu. Thế rồi Box B52 ở hướng Bắc Căn cứ lại vang lên, và cuối cùng là một Box ở phía Nam hơi xa, vì có mấy làng Thượng gần đó. Tất cả 4 Box B52 này đều đánh vào mục tiêu đúng như Tiểu Đoàn đã xin với ông John P. Vann trong những ngày đầu địch tấn công. Có lẽ đây là lần đầu tiên, binh lính và dân chúng ở vùng Dakpek này, mới thấy rõ ràng trước mắt cảnh Bom B52 trải thảm một cách kinh hoàng! Trong hai trận Việt Cộng tấn công vào Dakpek trước đây, chỉ nghe thuật lại là có Biệt Kích Quân nhảy xuống tiếp cứu, chứ không nghe có sự hiện diện của B52. Lần này, mọi người mới mục kích rõ được – một phần nhỏ nào – về sức mạnh của Không Lực Hoa Kỳ... Vừa chấm dứt tiếng nổ của Box B52 cuối cùng, và chờ cho tiếng phi cơ bay đi xa, lập tức vợ con binh sĩ trong trại, trong Chi Khu, và dân chúng trong các làng Thượng gần Chi khu, đều chạy ùa ra những cánh rừng chung quanh vùng Dakpek.

Họ thi nhau chạy như thế là có hai mục đích:

– Một là tìm đến hàng chục dù thả lạc ngoài Căn cứ, để kiếm thực phẩm, gạo, muối, lương khô, vải dù, giây dù, v.v.

– Hai là ra thăm lại “cái rẫy” của họ, mà gần hai tháng qua đã bỏ phế, để thu hoạch những hoa màu còn sót lại. Nhất là đào những ché rượu chôn dấu ở đó, để đem về tối nay uống rượu mừng “Ông Cộng” đã bị chết hết.

Căn cứ cũng lập tức cho 3 Trung Đội ra lục soát ba hướng Đông, Tây, và Bắc để tìm chiến lợi phẩm. Kết quả là thấy xác Việt Cộng chết văng tứ tung, đầu, mình, tứ chi không còn nhận dạng được nữa. Nhiều súng cộng đồng và cá nhân cũng bị cháy cong queo. Có cả xoong, nồi, cũng bị bể thành nhiều mảnh. Tóm lại là không còn một mống VC nào nữa cả. Họ đã bị vùi chôn dưới hàng mấy chục hố bom B52, mà hố nào cũng rộng khoảng gần 10 thước đường kính, và sâu hút. Ta chỉ thâu được một súng B40, và một AK47 còn nguyên vẹn mà thôi. Giá mà sau khi... xin với ông John Paul Vann 4 Box B52 từ ngày đầu địch tấn công, và được Bom B52 trải thảm liền ngày hôm sau, thì giặc Cộng đã bị tiêu diệt hết... Căn cứ sẽ không bị chết một cách oan uổng thêm những Chuẩn úy Vinh, Thiếu úy Tòng và Trung sĩ I Đức nữa... Cũng như làm gì... có tiếp tế thả dù rất tốn kém. Làm gì... có kiện hàng 105ly thả lạc, để rồi sau đó giết chết 18 lính thượng một cách oan uổng tại sân cờ! Làm gì... có chiếc trực thăng bị nổ trên không, theo như lời của Hạ sĩ Sơn báo cáo... là “Chuồn chuồn nó đái trên đầu tôi”. Và... cũng biết đâu, dân làng lại bị chết thêm ít nhiều gì nữa, trong 57 ngày đêm tên bay đạn lạc đó!... Đây có phải là định mệnh oan nghiệt cho những tử sĩ, và những dân lành vô tội này chăng? Vì 4 Box B52 đối với ông John P. Vann là... nằm trong quyền định đoạt của ông kia mà. Ông chỉ ra lịnh, là B52 từ Thái Lan sẽ thi hành nhiệm vụ ngay tức thời. Thế mà mãi tới ngày thứ 57 mới có B52 trải thảm... Rồi thì... đến trưa ngày thứ 57 mà B52 mới trải thảm đó, Sĩ quan Truyền Tin lại rà được tin: Bọn Vẹm đã bao vây tỉnh Kontum bằng mấy Sư Đoàn, và rất nhiều xe tăng T-54 cùng tham chiến. Hằng mấy tuần lễ liên tiếp sau đó, mặc dù Dakpek đã được giải tỏa, nhưng không có chiếc trực thăng nào đến thăm trại cả. Có lẽ vì tình hình Kontum đang quần thảo sống còn với bọn Vẹm, cho nên các phương tiện không yểm phải dành hết cho mặt trận này. Việc thả dù tiếp tế đạn dược, thực phẩm tươi, vẫn được các phi cơ C130 xuất phát từ Sài Gòn bay đến thi hành nhiệm vụ. Căn cứ Dakpek lại có dịp dùng thực phẩm tươi của Tống Lê Chân, theo như những bích chương và báo chí, hoan hô tinh thần chiến đấu anh dũng, của các chiến sĩ Tiền Đồn Biệt Động Quân Biên Phòng Tống Lê Chân bất khuất... Mãi đến ngày 15 tháng 6, mới có trực thăng đến Dakpek, và từ đó, mọi sinh hoạt bình thường trở lại cho đến năm 1974, Dakpek bị Tăng T-54 của VC cày nát, và ta mất vĩnh viễn Căn cứ khá trọng yếu này.

22. Đôi Dòng Tưởng Nhớ và Kết Luận.

Với tư cách là người chịu trách nhiệm chỉ huy chiến đấu 57 ngày đêm – chống lại trận đột kích, bao vây, pháo kích, và tiêu hao lực lượng phòng thủ của Việt Cộng – tại Căn cứ của Tiền Đồn Biên Phòng Dakpek, từ ngày 18-3-1972 đến ngày 14-5-1972; kẻ viết bài này xin nghiêng mình, và thắp nén hương lòng tưởng nhớ đến Sĩ quan, Hạ sĩ quan, và Binh sĩ Thượng cũng như Kinh tại Tiền Đồn này, đã hy sinh anh dũng đền nợ quốc gia!

Hỡi ơi! Sau 38 năm dài ròng rã, biết bao sự vật đổi dời, thế mà các bạn vẫn phải “hồn tử sĩ gió ù ù thổi”, nơi góc núi ven rừng cực bắc Kontum... Nhất là các bạn Hà, Nê, Tòng, Đức... sau khi vùi nông một nấm, trong bãi tập họp của Căn cứ nêu trên, mà cho đến giờ này vẫn còn nằm tại đó... đìu hiu cùng nắng sớm mưa chiều! Và... 5 vị Hạ sĩ Quan làm cố vấn cho các làng Thượng kia, đã chết hoặc mất tích ngay buổi đầu nổ súng... cùng Trung sĩ Thanh bị bắt làm tù binh, không biết giờ đây sống thác thế nào... Xin nhận nơi đây một lời nhớ thương và cầu nguyện:

– Nếu còn sống xin được bình an, thân tâm thường lạc.

– Nếu đã bỏ mình nơi chiến địa, hay trong ngục tù đau thương của cộng sản, xin hồn linh sớm về cõi thiên đàng!

– Còn bạn Nguyễn Văn Vinh nữa, xác thân đã được gia đình đắp điếm, mồ yên mả đẹp, và với tấm lòng chân thật hiền hòa, luôn hướng về Phật pháp, chắc giờ này linh hồn cũng được hòa nhập vào cõi hư vô.

– Giờ đây, với xác thân của một người lính già tỵ nạn, tạm cư trong vùng Bắc Mỹ xa xôi lạnh giá này, xin gởi đến linh hồn của tất cả các đồng đội từ Sĩ quan, Hạ sĩ quan, đến Binh sĩ Thượng cũng như Kinh những lời u uất qua “Bài Thơ Buồn Gởi Chiến Trường Xưa” sau đây:

Người lính già... ngậm ngùi nghe nỗi nhớ...
Từ tâm tư... hiện lại chiến trường xưa!
Mấy mươi năm... mà chừng như mới đó,
Đời chiến chinh... đường sinh tử không ngờ!

Ở nơi đó... đất tiền đồn heo hút,
Ta cùng nhau... chiến đấu giữ biên cương!
Núi đá rừng sương... sống triền miên thiếu hụt,
Tóc thề ai... quên bẵng mộng yêu đương!

Ôi nhớ quá... từng đêm dài đợi giặc,
Chiến hào khuya... ta thèm ngủ từng cơn!
Rồi giặc đến... chúng phải đành phơi xác...
Dưới kẽm gai... vùi dập những linh hồn!

Tiếng đạn réo... từng thân người gục ngã,
Giữa rừng khuya... thắp sáng hỏa châu buồn!
Tiếng xung phong... nghe nức lòng gan dạ,
Máu đào rơi... tơi tả giọt mưa tuôn!

Ôi trận chiến... hơn tháng dài tử thủ,
Trong hầm sâu... địa đạo lỗ châu mai!
Pháo kích dập dồn... pháo ngày chưa đủ,
Pháo từng cơn... theo gió hú đêm dài!

Rồi đau đớn... trong khói mù cát bụi,
Các anh đành... gục ngã tuổi xuân xanh!
Thương tiếc quá... những mảnh đời ngắn ngủi,
Đành dở dang... mộng tủi chí bình sinh!

Cũng từ đấy... đất cao nguyên lạnh giá,
Xác bạn, thù... thịt rã dậy mùi tanh!
Đào cạn đất đồi... chôn vùi vội vã...
Gói Pông-Sô... buồn bã kiếp nhân sinh!

Giờ nơi đó... chập chờn theo vách núi,
Gió vờn trăng... rừng đẫm lệ mù sương!
Hỡi anh linh... những u hồn đồng đội,
Có buồn chăng... nhìn đất nước tang thương!

Còn thân tôi... tấm hình hài tóc bạc,
Tuổi già nua... theo kiếp sống tha phương!
Nhớ chiến trường xưa... nỗi ngậm ngùi man mác,
Thương các anh... còn mả lạc mồ hoang!

Xương các anh... xương lính thù trộn lẫn,
Giữa rừng thiêng...cực bắc đất Kontum!
Mấy mươi năm... nào có ai nguyện khấn,
Nén tàn hương... thắp quyện khói mông lung!

Ôi trận đánh... chúng ta giành chiến thắng,
Dù các anh ngã gục... vẫn vui chung!
Thế mà nay... mình cúi đầu lẳng lặng,
Tủi hờn thương... cho đất nước khôn cùng!

Các anh nhẽ... dù xương tàn mả lạnh,
Nhưng hồn linh... còn phảng phất với quê hương!
Tấm thân tôi... sẽ chết già cô quạnh,
Nơi xứ người... thể phách lắm sầu vương!

Các anh nhẽ... thôi đừng buồn sự thế,
Chí làm trai... mình chẳng thẹn thân danh!
Cuộc thành bại... chỉ là trò dâu bể,
Đổi dời theo... vận nước quá điêu linh!

Nhớ các anh... dập vùi thây một nấm,
Bài thơ buồn... gởi đến chiến trường xưa!
Giờ nước mất... chúng mình đều u ẩn,
Thương đời mình... sống, chết, cũng bơ vơ!


Rồi... đến năm 1974, Việt Cộng đã dùng chiến xa san bằng Dakpek. Lại thêm một số sĩ quan, hạ sĩ quan, binh sĩ Thượng-Kinh, thuộc Tiểu Đoàn 88 Biệt Động Quân Biên Phòng, có nhiệm vụ trấn giữ Căn cứ này, cùng Chi Khu Dakpek và những thường dân vô tội, phải phơi xác ngay tại hầm trú ẩn, hoặc nơi chiến đấu của mình! Viên Tiểu Đoàn Trưởng sau cùng là Thiếu tá Nguyễn Ngọc Di, cùng toàn bộ các cấp thuộc quyền còn sống sót, đều bị bắt làm tù binh và bị áp tải vô cùng gian khổ, từ đó theo đường mòn Hồ Chí Minh, ra tận các trại tù ngoài Bắc, đến Hoàng Liên Sơn núi rừng giá buốt âm u...

Cuối cùng thì:

– Đất nước loạn ly...
– Ngày 30-4-1975 lại đến...
– Cộng sản Bắc Việt cưỡng chiếm Miền Nam...
– Chính thể Việt Nam Cộng Hòa sụp đổ...
– Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa bị bức tử...
– Người sống thì tang thương...
– Kẻ chết thì xiêu mồ lạc mả...

Cả một triệu quân hùng dũng thưở xưa, nay đành phải rẽ nghé tan đàn, mỗi người một nẻo trên bước đường đất khách lưu vong... với tóc bạc da mồi, đành ngậm ngùi thương cho cảnh nước mất nhà tan... mà:

Phong trần đến cả sơn khê,
Tang thương đến cả hoa kia cỏ này
(Cung Oán Ngâm Khúc).

Xin các bạn quân nhân đã sống, hoặc đã từng liên quan chiến đấu... trong thời điểm của 57 ngày đêm tử thủ tại Dakpek đó, nếu đọc được bài viết “Ốc Đảo Bị Bỏ Quên” này, xin liên lạc về tác giả với Email: Nhathong@Sbcglobal.net để trước là chúc mừng nhau còn sống sót đến bây giờ, sau là xin góp lời hoàn chỉnh hơn cho bài viết, vì trí nhớ của tác giả còn thiếu sót ít nhiều./.

 

Michigan, ngày 14 tháng 5 năm 2010
Nhật Hồng Nguyễn Thanh Vân

      

Bấm vào đây để in ra giấy (Print)

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Hình nền: Bộ huy hiệu 11 Sư Đoàn Bộ Binh QLVNCH. Để xem được trang web này một cách hoàn hảo, máy của bạn cần được trang bị chương trình Microsoft Internet Explorer (MSIE) Ấn bản 9 hay cao hơn hoặc những chương trình Web Browsers làm việc được với HTML-5 hay cao hơn.

 

Nguồn: Internet E-mail by MN Đỗ Như Quyên chuyển

 

Đăng ngày Thứ Tư, March 30, 2016
Ban Kỹ Thuật Khóa 10A-72/SQTB/ĐĐ, ĐĐ11/TĐ1ND, QLVNCH

 

Địa chỉ liên lạc: P.O. BOX 5055. Springfield, VA 22150
Điện thoại: 703-238-0736
E-Mail: lienlaclhccshtd@lhccshtd.org
Trở lại đầu trang