Bắc đẩu tinh
 

 

30-T4-Đen - Năm thứ 40 - 2015
NHÌN LẠI VIỆT NAM 40 NĂM
SAU CUỘC CHIẾN TRANH
QUỐC-CỘNG TRƯỚC 1975
Bài 1
THẾ HUY


Bấm vào đây để in ra giấy (Print)

    

A. Thực chất của cuộc chiến tranh Quốc-Cộng tại Việt Nam:

Từ năm 1968, khi đồng minh duy nhất của VNCH là Hoa Kỳ bắt đầu thay đổi chiến lược về cuộc chiến tranh lạnh toàn cầu nhằm đối đầu với CS Quốc Tế, nhất là đối với Liên Bang Xô Viết thì chủ trương “Việt-nam-hóa chiến tranh VN” được chính quyền và dư luận Mỹ nói đến. Việc sử dụng danh từ “Việt-nam-hóa chiến tranh VN” đã mặc nhiên mang ý nghĩa khẳng định là cuộc chiến chống Cộng tại VN, trước đó không do người VN trách nhiệm. Điều đó còn cho người ta hiểu rằng người Mỹ từ trước đến nay đã đảm đương việc ấy. Sự kiện trên, khiến cả thế giới nhìn cuộc chiến VN theo một chiều hướng hoàn toàn bất lợi cho chính nghĩa của VNCH và hiểu sai về thực chất và mục đích của cuộc chiến đấu tự vệ để sống còn của dân quân Miền Nam. Cũng chính danh từ “Việt-nam-hóa chiến tranh VN” đã thổi bùng lên phong trào phản chiến đã có từ trước ở nhiều nơi lên một mức cao chưa từng thấy. Thêm vào đó, khối CS Quốc Tế tận dụng dịp này để lừa bịp dư luận về việc Hoa Kỳ, siêu cường số một thế giới ức hiếp một nước nhỏ bé là Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (VNDCCH) tức là Hà Nội, qua hình ảnh các cuộc oanh kích của phi cơ Mỹ vào những cơ sở tiếp vận ở Miền Bắc yểm trợ cuộc chiến tranh xâm lăng VNCH do Hà Nội chủ xướng.

I. VC khởi chiến sau khi hiểu rằng không thể cộng sản hóa toàn cõi VN bằng chính trị:

Muốn tìm hiểu về một cuộc chiến tranh, người ta phải tìm biết xem ai tấn công ai trước và việc đó xảy ra ở đâu, trên phần đất nào, thuộc chủ quyền của ai? Cuộc chiến Quốc-Cộng VN do VC khởi xướng từ năm 1957, chỉ ba năm sau khi Hiệp Định Geneve 1954 được ký kết. Khi việc thống nhất Nam-Bắc qua một cuộc Tổng tuyển cử dự trù vào năm 1956 không được thực hiện theo mong ước của mình, Hà Nội ra lệnh cho các cán bộ CS được gài lại tại Miền Nam phát động một cuộc chiến tranh du kích, dùng số vũ khí mà họ đã chôn dấu tại Miền Nam trước khi tập kết ra Bắc để khủng bố, sát hại các viên chức xã ấp VNCH, đánh phá các cơ cấu hạ tầng ở các vùng quê hẻo lánh và cưỡng ép thanh niên theo VC để phá hoại chính quyền VNCH. Chiến tranh Nam-Bắc VN do chính CS chủ trương bởi họ biết rằng sau khi lấy lại trọn vẹn chủ quyền và độc lập, chính phủ VNCH đã từ chối tổ chức cuộc Tổng tuyển cử vì nếu việc này xảy ra thì tại Bắc Vĩ Tuyến 17, với 14 triệu dân sẽ là 14 triệu phiếu bầu cho CS. Trong số 13 triệu người Miền Nam có hàng triệu người có thân nhân đã tập kết ra Bắc và hàng triệu người khác chưa từng sống với CS và nhất là những người dân quê chất phác vẫn lầm tưởng rằng CS yêu nước, có công giành độc lập từ tay người Pháp nên họ cũng sẽ bỏ phiếu cho CS. Sự chênh lệch về dân số giữa Bắc và Nam, cộng thêm việc bỏ phiếu dưới sự cưỡng ép của CS tại Miền Bắc thì cuộc Tổng tuyển cử nếu xảy ra, VN sẽ thống nhất dưới chế độ CS, chứ không thể có một phép lạ nào hết.

 

 

Đồng bào miền Bắc di cư vào Nam,
tỵ nạn Cộng sản sau hiệp định Geneve 1954

 

Một điều rất quan trọng cần được nhấn mạnh là việc Tổng tuyển cử để thống nhất Nam-Bắc VN không là một điều khoản được hai bên liên hệ và các nước có đại diện tại Geneve ký kết, mà chỉ được ghi là điều mong đợi của hội nghị nói chung mà thôi. Sở dĩ sự kiện kỳ quái này xảy ra vì Thủ tướng Pháp Mendes France, khi nhậm chức tại Paris ngày 20-6-1954, đã long trọng tuyên bố với Tổng thống và nhân dân Pháp rằng ông được bổ nhiệm để chấm dứt chiến tranh sau khi quân Pháp thất bại tại mặt trận Điện biên Phủ vào tháng 5/1954. Do đó, nếu một tháng sau khi nhậm chức mà không hoàn tất được sứ mạng thì ông và toàn thể nội các của ông sẽ từ chức. Bởi vậy, dù Hội Nghị tại Geneve vẫn còn nhiều khúc mắc, luộm thuộm nhưng nó không thể kéo dài lâu hơn được nữa. Thực ra, Thỏa Ước ngưng bắn này được hai bên liên hệ là Pháp và CSBV ký vào lúc quá nửa đêm, tức đã là ngày 21, nhưng trên văn bản chính thức ghi là ngày 20-7-1954 để Mendes France giữ được lời hứa trước Quốc hội và Tổng thống Pháp. Hơn nữa, Chính phủ Quốc Gia VN phản đối việc chia đôi Đất Nước nên Ngoại trưởng phía Quốc Gia là ông Trần văn Đỗ rời hội nghị, ngồi bên Hồ Leman khóc, thương cho thân phận dân tộc. Trên lãnh vực pháp lý, Chính phủ QGVN không ký vào Hiệp Định Ngưng Bắn nên không bị ràng buộc gì về thỏa ước này. Đó cũng là lý do khiến Hoa Kỳ, qua áp lực chính trị và kinh tế, buộc Pháp phải trao trả toàn diện chủ quyền cho Chính phủ QGVN bởi ngay trong thời Đệ Nhị Thế Chiến, Mỹ đã quyết định phải chấm dứt chế độ thuộc địa của các cường quốc trên thế giới bởi trong thời điểm ấy, CS chủ trương dựa vào phong trào giành độc lập của các dân tộc bị trị để bành trướng đế quốc CS. Người ta đừng quên rằng sau khi Thế Chiến Thứ Hai chấm dứt, tất cả các nước tại Âu châu tan hoang, kinh tế bị phá sản nên hầu hết sống nhờ viện trợ của Mỹ qua Kế Hoạch Marshall. Do đó, Pháp bắt buộc phải rời khỏi Vùng Nam Vĩ Tuyến 17 vào năm 1955 để mở đường cho việc hình thành một thể chế chính trị mới, thoát ra ngoài mọi ảnh hưởng của Pháp. Qua một cuộc trưng cầu dân ý được tổ chức tại Miền Nam, Thủ tướng Ngô đình Diệm của Chính Phủ Quốc gia Việt Nam trở thành Tổng thống VNCH đầu tiên. Trên phương diện pháp lý và chính trị, sự kiện trên nhằm vô hiệu hóa hoàn toàn Thỏa Ước Ngưng Bắn do Pháp và VC ký kết tại Geneve năm 1954 và trên thực tế, việc này cũng dứt khoát hất Pháp ra khỏi miếng mồi mà họ còn nuối tiếc không muốn nhả ra.

 

 

Tổng thống Ngô Đình Diệm đọc bản tuyên bố
thành lập nước Việt Nam Cộng Hòa,
ngày 26 tháng 10 năm 1955 (sân Dinh Độc Lập)

 

Từ đó, là một nước độc lập có trọn vẹn chủ quyền, với một thể chế chính trị mới, được hầu hết các quốc Gia trên thế giới công nhận nên VNCH không bị ràng buộc và dính líu gì đến các thỏa hiệp do Pháp ký kết trước đó, nhất là Thỏa Ước Ngưng Bắn tại Geneve về vấn đề VN. Đấy cũng là lý do khiến Pháp luôn luôn phá đám VNCH trên chính trường Quốc Tế và mối bang giao giữa Pháp và VNCH khó khăn đến nỗi có lúc, hai bên đã đoạn giao như trong thời Đệ Nhất Cộng Hòa.

Qua các chứng tích, các văn bản và tài liệu học tập tịch thu được tại các mật khu VC ngay trong những năm từ 1957, đã chứng minh rằng Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa chỉ đạo cuộc chiến xâm lăng VNCH nên Chính phủ VNCH đã tố cáo Hà Nội và kêu cứu trước công luận thế giới, nhưng mọi người đều nhắm mắt làm ngơ, kể cả các nước lớn đã ký vào HĐ Geneve 1954. Khi Pháp chấm dứt ảnh hưởng quân sự và rút quân ra khỏi Miền Nam, dĩ nhiên họ mang theo tất cả vũ khí, các trang bị quân sự và quân dụng về Pháp. Khi bị VC tấn công, VNCH không đủ khả năng tự vệ và chống trả hữu hiệu bằng phương tiện chiến tranh hiện có.

II. Ảnh hưởng của Mỹ trong cuộc chiến VN:

Trong tư thế đứng đầu thế giới Tự Do trong nỗ lực ngăn chặn sự lớn mạnh của Khối CS Quốc Tế, Mỹ là quốc Gia duy nhất trả lời việc kêu cứu của VNCH, vì lúc ấy, chính phủ Hoa Kỳ quan niệm rằng nếu VNCH rơi vào tay CS thì các nước lân cận sẽ dần dần bị CS xâm chiếm theo thế Domino và CS sẽ từ đó lan rộng ra khắp nơi tại vùng Đông Nam Á Châu. Do đó, Mỹ viện trợ cho VNCH về vũ khí và phụ trách việc huấn luyện quân sự để Miền Nam tự chống trả các cuộc đánh phá của đối phương được cả khối CS Quốc Tế đứng sau lưng thúc đẩy. Dù e dè trước sự giúp đỡ của đồng minh với các toan tính của họ, nhưng VNCH không còn một lựa chọn nào khác trước các cuộc tấn công mỗi ngày một mạnh hơn của kẻ thù. Chúng ta lấy một thí dụ nhỏ bé cho dễ hiểu hơn: Nếu ta bị một bọn cướp mang dao búa, gậy gộc đến tấn công và vì bất ngờ, ta không có bất cứ một phương tiện nào để tự vệ. May thay một người hàng xóm, từ lâu nay cũng chẳng mấy tốt bụng, mở cửa sau chuyển cho ta một cây gậy, một con dao để ta chống trả và phòng thân thì chúng ta có nhận hay không? Đó là hoàn cảnh của quân đội VNCH khi CS khởi đầu cuộc chiến Nam-Bắc VN: Khoanh tay để chết dưới chân kẻ thù hay nhận con dao và cây gậy của người hàng xóm để tự mình chiến đấu?

Song song với các cuộc tấn công này, Hà Nội được Nga và Tầu cộng cấp phương tiện để mở một con đường tại vùng rừng núi dọc theo biên giới Lào-Việt để đem quân đội Bắc Việt xâm nhập vào lãnh thổ VNCH. Đó là hệ thống Đường Mòn Hồ chí Minh. Để che mắt công luận thế giới, Hà Nội thành hình một tổ chức mang tên Mặt Trận Dân tộc Giải Phóng Miền Nam tại Bắc Việt, nhưng lại chính thức ra mắt tại mật khu VC trên lãnh thổ VNCH để chứng tỏ rằng mặt trận này do các thành phần địa phương chống chính phủ VNCH lập ra hầu tránh tiếng là Bắc Việt xâm chiếm Miền Nam.

Mỹ giúp VNCH với súng đạn còn sót lại trong các kho vũ khí không còn biết sử dụng vào việc gì, như súng trường được chế tạo từ thời cuối thế chiến thứ nhất và thế chiến thứ hai, các loại súng như Carbine, Garand M1 bắn từng phát để đối đầu với các súng liên thanh như AK-47 và hỏa tiễn B-40 mà VC sử dụng, nên QĐVNCH đã phải chiến đấu rất cam go và chịu tổn thất một cách oan uổng. Tại trường sĩ quan trừ bị vào những năm 1968, 1969, người ta còn dùng súng Garand M1 rất nặng nề, cồng kềnh và kém hiệu quả để huấn luyện sĩ quan. Do đó, việc một số người cho rằng Mỹ dùng chiến tranh VN để thử nghiệm các loại vũ khí mới là một sự ước đoán sai lầm và trái ngược với sự thật. Khi dự trù cho việc rút quân và Việt-nam-hóa chiến tranh Mỹ mới có ý trao cho QĐVNCH các loại súng đạn mà họ sẽ để lại tại Miền Nam. Trong suốt một thời gian dài, Mỹ trang bị các loại súng đạn cũ kỹ cho VNCH với mục đích là tiêu thụ hết số đạn dược đã trở thành vô dụng trong kho của các xưởng sản xuất hầu khởi động việc chế tạo các loại vũ khí mới, làm giầu cho các nhà đại tư bản Mỹ có phần hùn lớn trong kỹ nghệ chiến tranh. Mục tiêu thứ hai là để QĐVNCH luôn luôn ở thế yếu so với địch quân. Hoa Kỳ nghĩ là sẽ đến lúc không còn chịu đựng nổi trước vũ khí vượt trội của địch, VNCH sẽ phải xin Mỹ đổ quân vào Miền Nam, tạo chính danh cho việc QĐ Mỹ trực tiếp tham chiến tại VN. Song song với chủ trương này, trong nhiều năm liên tiếp, Mỹ đề nghị với chính phủ Đệ Nhất Cộng Hòa yêu cầu Hoa Kỳ gửi QĐ Mỹ đến VN. Vì muốn giữ chính nghĩa, vì quyền tự quyết và vì chủ quyền quốc Gia nên các đề nghị trên luôn luôn bị VNCH bác bỏ. Đấy là nguyên nhân chính dẫn đến việc Mỹ đạo diễn cho cuộc chính biến lật đổ chính phủ hợp pháp và hợp hiến của đồng minh là Chính phủ Đệ Nhất VNCH vào ngày 01-11-1963. Các cuộc khủng hoảng về lãnh đạo và chính trị kéo dài khiến CS xâm nhập một cách quy mô hơn, chiến sự mỗi ngày một sôi động và khốc liệt hơn, tạo điều kiện thuận lợi cho việc Mỹ tự ý đổ quân vào VN với danh nghĩa là để cứu vãn tình thế. Hoa Kỳ cho rằng với vũ khí hiệu quả hơn, họ sẽ thắng như đã thắng trong chiến tranh Triều Tiên, nhưng họ quên rằng cuộc chiến tranh du kích đòi hỏi sự kiên trì vì VC chỉ đánh lén và tấn công khi đã dự trù cả đường rút lui vào mật khu hoặc trốn sang lãnh thổ Lào và Căm bốt nếu thất bại. Các cuộc phục kích, bắn sẻ, tấn công bằng mìn bẫy của VC khiến các đơn vị Mỹ được trang bị tối tân hoang mang vì bị tổn thất mà không nhìn thấy địch quân. Hoa Kỳ không những thất bại trong việc Mỹ hóa chiến tranh VN mà còn tạo cơ hội cho Cộng sản Quốc Tế có cớ để rêu rao trước công luận thế giới về việc một siêu cường hiếp đáp một tiểu nhược quốc là CSVN. Điều quan trọng hơn là VC, vì sự có mặt của quân đội Mỹ, đã đẩy mạnh cuộc tuyên truyền qua khẩu hiệu Chống Mỹ Cứu Nước để kích động tinh thần ái quốc, chống ngoại xâm là truyền thống và là dân tộc tính của người VN. Trước phản ứng bất lợi của phong trào phản chiến tại Mỹ và khắp nơi trên thế giới, nhất là khi thấy QĐ Mỹ bị tổn thất khá nhiều, hao tốn ngân sách mà không đạt được kết quả mong đợi, Mỹ nghĩ đến việc rút quân. Để giữ thể diện cho mình, Hoa Kỳ tìm cách đổ lỗi cho phía VNCH về hậu quả từ sự tính toán sai lầm của Mỹ, rồi trả lại chiến trường ngày một khốc liệt hơn cho QĐVNCH qua chiêu bài Việt-nam-hóa chiến tranh với một ngân sách hạn chế như kiểu “đem con bỏ chợ”. Một sự kiện quan trọng khác là TC và Bắc hàn cũng đã gửi quân sang giúp Bắc Việt, nhưng họ là người Á Châu mặc quân phục của bộ đội miền Bắc nên ít lộ liễu và đó là bí mật quốc phòng nên, dù biết cũng không ai được nói tới. Ngoài ra, trong nỗ lực nhằm ép buộc Hà Nội trở lại bàn Hội Nghị Paris, Mỹ đã mở một đợt oanh tạc BV bằng B52 vào dịp Giáng Sinh 1972 với một nhịp độ khủng khiếp chưa từng thấy và kéo dài hai tuần khiến Bộ Chính trị Đảng CSVN vào tháng 01-1973 gửi điện thư cho Phòng truyền tin HK xin đầu hàng vô điều kiện. Bản văn đầu hàng đó được gửi về Ngũ giác đài, nhưng Chính phủ HK dấu nhẹm và 79 nhân viên biết việc này bị triệu hồi ngay về Bộ Quốc Phòng và bị thay thế. HK không muốn VC đầu hàng vì họ muốn VC phải trở lại bàn hội nghị, và sau đó phải thắng vào năm 1975 như dự trù của họ trên bàn cờ thế giới! Sau 19 năm cấm vận, phong tỏa kinh tế khiến cho đối phương ngất ngư, đột nhiên Mỹ bỏ cấm vận, một năm sau lại bang giao và hiện nay, lại cố làm thân như muốn kéo Hà Nội về phía mình để cân bằng ảnh hưởng trong vùng Á Châu Thái Bình Dương.

 

 

Nguồn: bài báo được lưu lại ở đây news.google.com Tin Reuters
Nguồn ảnh: The Blade, Toledo, Ohio, Tuesday, May 16, 1989 HONG KONG (Reuters)


http://www.bbc.co.uk/vietnamese/world/2011/12/111219_northkorea_vietnamwar.shtml

 

Từ sáu thập niên qua, với rất nhiều sự kiện xảy ra tại nhiều nơi liên hệ tới chính sách đối ngoại của Mỹ, giới quan sát và bình luận đã đưa ra nhận định rằng Hoa Kỳ ít khi có một đường lối lâu dài, liên tục, rõ ràng và nhất quán về bất cứ vấn đề gì. Những quyết định của họ nhiều khi đưa họ và đồng minh đến những bế tắc và sai lầm không thể sửa chữa được. Dù việc đó đã xảy ra nhiều lần, tại nhiều nơi, dù họ cũng đã bao lần tự chui vào cạm bẫy do chính họ giăng ra và họ đã phải trả giá rất đắt cho các kinh nghiệm ấy, nhưng sự bất nhất, thay đổi bất thường, dường như đã trở thành một truyền thống, một thứ văn hóa đặc thù của chính giới Mỹ (1).

(xin xem thêm chi tiết qua bài: “Trả lại sự thật cho lịch sử về việc Sư Đoàn 3BB lui quân tại Quảng trị vào mùa Hè Đỏ lửa 1972.” của cùng tác giả)

Chín giờ sáng ngày 08-3-1965, dưới thời “Thủ tướng 109 ngày” Phan huy Quát, Lữ Đoàn 9 TQLC Mỹ đổ quân vào VN lần đầu tại Đà Nẵng và theo thời gian, con số lính Mỹ ở VN đã lên tới 450 ngàn người. Nhưng chỉ 3 năm sau, đã có những chỉ dấu cho thấy họ tìm cách rút ra khỏi VN bất chấp những hệ quả tai hại vô cùng trên lãnh vực chính danh và tâm lý trong cả hai sự kiện “đến và đi” của họ. Để biện minh cho sự thất bại trong những chủ trương sai lầm đó, người Mỹ đề cập tới chương trình Việt-nam-hóa chiến tranh và quy trách cho VNCH về tình trạng bất ổn do chính họ gây nên và không tìm ra được lối thoát. Giả thuyết được đặt ra là: Nếu QĐ Mỹ không đến VN, nếu những quân dụng và các loại vũ khí mà QĐ Mỹ sử dụng được trang bị cho người lính VNCH thì chiến phí sẽ thấp hơn và nhất là phong trào phản chiến ở khắp nơi trên thế giới sẽ không có lý do để bộc phát. Trong trường hợp đó, Hoa Kỳ sẽ không có hơn 58 ngàn người chết, không có nhiều trăm ngàn quân nhân bị thương, tàn phế và mất tích ở VN. Sự sai lầm chính trị ấy đã giết chết chính danh của cuộc chiến tự vệ của quân dân VNCH, gây tổn thất về tài chánh, nhân mạng và nhất là uy tín cũng như danh dự nước Mỹ. Nếu QĐVNCH được võ trang như quân nhân Mỹ ở VN để chiến đấu tự vệ và phản công, trả đũa địch ngay tại cơ cấu đầu não của nó tại Bắc Việt thì có lẽ, mọi việc sẽ đổi khác. Trong binh pháp, quân đội nào bị bó tay trong thế phòng thủ, không được phép tấn công địch, quân đội đó nhất định sẽ bị đánh bại. Đó chính là cuộc chiến tranh tự vệ và phòng thủ trước năm 1975 của VNCH!

 

 

 

Quân đội Mỹ đổ bộ lên Đà Nẵng 1965


Cuộc chuyển quân từ căn cứ không quân tới đồi 327,
phía tây sân bay quân sự Đà Nẵng, ngày 9/3/1965

 

Dù chủ trương của chính phủ Mỹ tráo trở và gây tai họa cho VNCH, nhưng chúng ta phải công bằng để hiểu rằng chính giới và nhân dân Mỹ là hai thực thể khác nhau. Chúng ta phân tích về các sai trái trong chính sách của chính giới Mỹ, nhưng chúng ta không thể phủ nhận món nợ tinh thần của chúng ta về sự hy sinh tính mạng của hơn 58 ngàn quân nhân Mỹ đã chết, hàng trăm ngàn người khác bị thương và nỗi đớn đau, mất mát của gia đình họ và của nhân dân Hoa Kỳ trong suốt cuộc chiến tại VN. Một sự kiện khác cũng cần phải nói rõ hơn: Trong quá khứ, Hoa Kỳ chưa bao giờ hành xử như một Đế Quốc như VC bôi bác, họ đánh giặc ở bên ngoài lãnh thổ như người ta đóng quân tại các tiền đồn để chặn địch từ xa, chứ không đợi địch tấn công ngay vào Tổng Hành Dinh là Nước Mỹ, họ mới ra tay phản ứng. Họ viện trợ cho đồng minh bằng chính ngân sách của họ mà không cần bòn rút nguồn lợi thiên nhiên của các nước ấy để làm giầu cho Nước Mỹ bởi tài nguyên của họ dồi dào và nền văn minh kỹ thuật và cơ khí của họ đã thừa khả năng làm giàu cho nước Mỹ.

 

(còn tiếp)

Paris, ngày 25/4/2015
THẾ HUY

      

Bấm vào đây để in ra giấy (Print)

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Hình nền: Quốc Kỳ VNCH tung bay dưới bầu trời xanh thẫm bên cạnh bộ Huy hiệu Lục Quân QLVNCH. Để xem được trang web này một cách hoàn hảo, máy của bạn cần được trang bị chương trình Microsoft Internet Explorer (MSIE) Ấn bản 9 hay cao hơn hoặc những chương trình Web Browsers làm việc được với HTML-5 hay cao hơn.

 

Nguồn: Internet E-mail by Nguyễn Quốc Đống chuyển

 

Đăng ngày Thứ Bảy, April 25, 2015
Ban Kỹ Thuật Khóa 10A-72/SQTB/ĐĐ, ĐĐ11/TĐ1ND, QLVNCH

Địa chỉ liên lạc: P.O. BOX 5055. Springfield, VA 22150
Điện thoại: 703-238-0736
E-Mail: lienlaclhccshtd@lhccshtd.org
Trở lại đầu trang