Bắc đẩu tinh

 

Xã hội Việt Nam hôm nay

VẤN ĐỀ CÔNG LÝ & HÒA BÌNH

Bấm vào đây để in ra giấy (Print)

      

CHÚC MỪNG NĂM MỚI

Nhân dịp Năm Mới Ất Mùi, Chúng tôi xin Kính gởi “Bình Hoa THỦY TIÊN” tới, Kính Chúc Quý vị Lãnh đạo Tinh thần các Tôn giáo, các vị Trí thức, các Thân hữu cùng tất cả Anh Chi Em cùng Gia đình, một Năm Mới tràn đầu Ơn Phước, dồi dào Sức Khỏe, và mọi sự đều được tốt lành.

Kính Chúc,
Việt Nhân
 

oooooOOooooo

I. Biến cố Glyzelle Iris Palomar
(Nguồn: Báo Thời Luận tại Los Angeles và Orange County ngày 22/ 01/2015)

 

 

Trong cuộc viếng thăm của Đức Giáo Hoàng Francis tại Philippines ngày 18 tháng 01 năm 2015, khi Ngài viếng thăm giới trẻ tại trường Đại học Santo Tomas ở Manila, một em bé mồ côi, bị bỏ rơi, may mắn được tổ chức công giáo mang về nuôi. Em tên là Glyzelle Iris Palomar 12 tuổi, được chọn đọc lời chào mừng Đức Giáo Hoàng. Khi vừa đọc xong lời chào, em bé vừa khóc vừa thưa với Đức Giáo Hoàng: “Rất nhiều trẻ em bị Bố Mẹ bỏ rơi, nhiều trẻ em dính líu đến ma túy và mại dâm. Tại sao chỉ có một số ít người giúp đỡ chúng con. Tại sao Chúa lại để cho điều ấy xảy ra với chúng con, chúng con có tội gì đâu!”

Đức Giáo Hoàng xúc động, Ngài ôm choàng lấy em bé, Ngài bỏ hẳn bài Giảng đã soạn sẵn bằng tiếng Anh.

Ngài nói: Cô bé là người duy nhất đưa ra “câu hỏi mà hiện chưa có câu trả lời”, và thậm chí cô bé không thể hiện nó bằng lời nói mà chỉ bằng nước mắt. Vấn đê cốt lõi trong câu hỏi của con hiện chưa có câu trả lời.

Giáo Hoàng Francis kêu gọi những người có mặt cần học Khóc với những người bị đẩy ra khỏi lề Xã hội, những người đau khổ. Ngài cho rằng lòng trắc ẩn hình thức dẫn tới việc ban phát những của Bố thí được thấy nhiều nơi trên thế giới là không đủ. Nếu Chúa chỉ có lòng trắc ẩn kiểu này, Ngài chỉ đi ngang qua, chào hỏi ba người, cho họ thứ gì đó rồi tiếp tục đi.

Đức Giáo Hoàng kêu gọi tất cả hãy cho thấy sự quan tâm thực chất, thiết thực dành cho người nghèo, và những người bị đẩy ra lề Xã hội. Có những thực tế trong cuộc sống, chúng ta chỉ nhìn thấy trong đôi mắt, đã được làm trong sáng bằng nước mắt.

Đức Giáo Hoàng hối thúc mọi người hãy Suy nghĩ, Cảm nhận và Hành động, đồng thời đề nghị đám đông lặp lại những lời này.

Giáo Hoàng cũng đề nghị mọi người học theo Thánh Francis, Ngài là đấng mà Đức Giáo Hoàng đã nhận làm Quan Thầy bổn mạng, Ngài đã chết với đôi bàn tay trắng với những chiếc túi rỗng, nhưng với một trái Tim đầy ắp Yêu thương.

Ngài còn thêm rằng là phúc trình của Liên Hiệp quốc cho thấy 1.2 triệu trẻ em của Phi đang thấy đầu đường xó chợ, 35% trẻ em Phi đang sống trong gia đình nghèo khổ. Trước khoảng 30,000 người có mặt tại buổi Lễ. Đức Giáo Hoàng kêu gọi mọi người học tập lòng dũng cảm của Glyzelle Palomar, học cách khóc và thể hiện sự quan tâm thực sự đối với những người nghèo bị gạt ra ngoài Xã hội. Có những thực tế trong cuộc sống chúng ta chỉ nhìn thấy bằng đôi mắt đã được làm sáng ra bằng giọt nước mắt.

Đức Giáo Hoàng khẳng định rằng lòng trắc ẩn hời hợt và bố thí là không đủ. Ngài cũng mong mọi người phải Suy nghĩ, Cảm nhận và Hành động.

Đức Giáo Hoàng mời mọi người cùng với Ngài tự đặt câu hỏi: “Có khi nào chúng ta khóc khi thấy một đứa trẻ bị đói, một đứa trẻ dùng ma túy, một đứa trẻ bị bỏ rơi ngoài đường, một đứa trẻ bị sách nhiễu hay một đứa trẻ bị xã hội lợi dụng như một kẻ nô lệ chưa?”

Ngài cũng nói rằng Lòng Trắc ẩn và Bố thí một cách hời hợt vẫn không đủ, mà mọi người phải thật sự quan tâm đến số phận của những người không may đang sống bên lề xã hội.

Từ câu hỏi gây ấn tượng mạnh của Palomar, Giáo Hoàng cho rằng Phụ nữ vẫn chưa được tôn trọng một cách xứng đáng trong xã hội. Phụ nữ có nhiều điều để nói với chúng ta trong xã hội ngày nay. Phụ nữ có khả năng nhìn nhận vấn đề khác chúng ta và có thể đưa ra câu hỏi mà đàn ông không hiểu nổi.

Theo các nhà chức trách Manila đã có tới 6 triệu tín đồ Philippines đến dự Thánh Lễ cử hành vào ngày 18 tháng giêng năm 2015, chính quyền huy động 40,000 cảnh sát để bảo vệ an ninh cho buổi Lễ. Thông điệp là cái án Tham nhũng và Nghèo khó của Người đứng đầu Tòa Thánh Vatican chinh phục Lòng người. Không quản trời mưa, hàng triệu Giáo dân Philippines giương cao tượng Chúa Hài Đồng để đón Đức Thánh Cha. Về phần mình, Đức Giáo Hoàng không ngừng vẫy tay chào biển người đến dự Thánh Lễ tại Manila, cũng như hôm qua ở Tachoban Ngài phải mặc áo mưa khi cử hành Thánh Lễ.

Trước mặt Tổng Thống Begnino Aquino, Đức Giáo Hoàng lấy làm tiếc là mô hình Xã hội đã bị con người tàn phá, gây ra cảnh bần cùng, sự dốt nát và nạn tham nhũng, Ngài đã lên án những cạm bẫy, những trụy lạc nhất thời, cùng những thứ gì đang phá vỡ hạnh phúc Gia đình.

Năm ngoái chính quyền Philippines đã thông qua một đạo luật về Gia đình, thu ngắn việc cho phép phá thai. Sau cùng Philippines phải đối măt với biến đổi khí hậu. Đức Giáo Hoàng không quên nhấn mạnh rằng, con người là kẻ tàn phá vẻ đẹp của thiên nhiên.

Ngỏ lời với các lãnh đạo chính trị và ngoại giao đoàn tại dinh Tổng Thống Philippines, Đức Giáo Hoàng nói: “Mỗi người chúng ta phải thẳng thừng bác bỏ mọi hình thức tham nhũng, cướp đi những quyền lợi dành cho người nghèo. Ngài kêu gọi phá vỡ những xiềng xích của bất công và áp bức đã dẫn đến những bất bình đẳng xã hội đang lên án.

Trong một cuộc gặp gỡ với các Gia đình sau đó, Đức Giáo hoàng đã khuyến khích các Gia đình Công giáo chống lại những đe dọa phá hoại từ cái mà Ngài gọi là “Chủ nghĩa Thực dân về tư tưởng”. Trong bài giảng Đức Giáo Hoàng kêu gọi người dân Philippines từ bỏ cơ cấu xã hội mà trong đó tình trạng nghèo đói dốt nát và tham nhũng vẫn lan tràn. Đó cũng là chủ đề mà Đức Giáo Hoàng nhấn mạnh với Tổng Thống Begnino Aquino và quan chức Philippines tuần trước.

Đức Giáo Hoàng 78 tuổi đã buộc phải cắt ngắn chuyến thăm hỏi và động viên những người sống sót sau trận siêu bão Hải Yến tràn vào Philippines hồi tháng 11 năm 2013 để tránh một cơn bão nhiệt đới.

Chuyến thăm Philippines đã được mọi người chú ý, kể cả những người không Công giáo.

Jay R. Natividad, một thanh niên Tin lành, 21 tuổi đã theo dõi chuyến viếng thăm của Ngài qua truyền hình, cho biết anh rất ngưỡng mộ nhân cách của Giáo Hoàng.

Anh nói: “Ngài đã đến để động viên người dân nước tôi, nhất là đã mang hy vọng cho người nghèo. Ngài đã làm thay đổi một số điều nạn tham nhũng trong chính quyền.”

Tóm lại, Đức Giáo Hoàng Francis đang phát động Phong trào đem “Công lý” vào đời sống Xã hội để kiến tạo “Thế giới Hòa Bình”.

 

II. Biến cố quan trong của Thế kỷ 20

 

Cách đây hơn nửa thế kỷ, Tòa thánh Vatican đã tổ chức Công đồng Vatican II để Canh tân Giáo hội với những Hiến Chế và Sắc lệnh. Hiến Chế về Đức Tin và Sắc lệnh về Canh tân Giáo hội. Trong các Sắc lệnh thì Sắc lệnh về Công lý Hòa bình có tầm quan trọng đến vận mệnh của toàn thể nhân loại. Hiện nhân loại đang ngày càng rối loạn hơn gây khổ đau khôn cùng cho con người. Nếu không thể hiện được Công lý vào các cơ chế xã hội thì nhân loại không bao giờ được hưởng Hòa bình, mà Hòa bình là bản chất của các Tôn giáo, vì đó cũng là nguồn Hạnh phúc của mọi người.

Do đó Cộng đồng Vatican II là Biến cố vô cùng quan trọng không những cho Tín đồ Công giáo mà cho cả Nhân loại nữa. Tinh thần của Cộng đồng đã và đang được nhóm Linh mục Nguyễn Kim Điền và Các Linh mục của Dòng chúa Cứu thế Việt Nam phát động để đem Công lý vào Xã hội rối loạn Việt Nam. Đức cố Hồng Y Nguyễn Văn Thuận cũng có Quan Thấy Bổn mạng là Thánh Francis, Ngài đã là Bộ trưởng bộ Công Lý Hòa bình của Tòa Thành La Mã, Ngài là một gương sáng chói chang cho Giáo Hội công giáo Việt Nam. Đây là cuộc chiến giữa Hữu thần và Vô thần hay cuộc chiến của nhân loại xưa nay giữa Công lý và Bất công. Một xã hội vắng mặt Công lý thì Xã hội rối loạn vì Bất công, nguồn rối loạn không chỉ ở các hiện tượng xã hội, mà ở chỗ Gốc con Người Bất Nhân. Nói theo Công giáo khi Xã hội có Công lý thì con Người mới có Hòa bình hay con Người không có Lòng Bác ái thì không thể xây dựng được Công lý Xã hội nên không có Hòa bình.

 

III. Biến cố quan trọng của Thế kỷ 21

 

Biến cố Đức Giao Hoàng Francis thăm Philippines vào ngày 18 tháng 01 năm 2015 là Biến cố quan trọng của Thế kỷ 21 sau Biến cố Vatican II của thế kỷ 20. Biến cố xảy ra khi một Vị Lão thành thánh thiện cao nhất của Công giáo Tây phương gặp một Em Bé ngây thơ thấp hèn ở Đông phương. Đây là cuộc gặp gỡ của Lương tâm nhân loại, vì hai bên đều “Nhạy cảm và có Tinh thần Liên đới Trách nhiệm cao”, nên “Đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu”. Một bên là Nạn nhân của xã hội bất công, một bên là Cứu tinh của nan đề Nhân loại. Toa thuốc của nan đề Xã hội chỉ có hai vị: Bác ái và Công bằng hay Công Lý và Hòa Bình.

Có Lòng Bác ái mới giúp cá nhân nhạy cảm, có Tinh thần công bằng mới giúp mọi công dân có Ý thức Liên đới Trách nhiệm, giúp cộng đồng Dân tộc thể hiện Công lý vào các cơ chế xã hội để xây dựng Hòa bình.

Vô cảm và thiếu Tinh thần Liên đới Trách nhiệm là hai nan đề quan trọng bậc nhất của Nhân loại. Bác ái là nền tảng của con Người, Công bằng là nền tảng của Chế độ Dân chủ, thiếu nền tảng này thì mọi công trình xây dựng con Người và Xã hội chỉ là công trình xây tòa nhà Xã hội trên nền cát “Bất Nhân và Bất công”. Các hiện tượng rối ren thuộc các cơ chế xã hội đều bắt nguồn từ đây, muốn sửa thì phải sửa cái Gốc này mới nên, chứ cứ chạy quanh các Hiện tượng Ngọn mà hò hét sửa sai thì không những chỉ tốn công tốn của vô ích, mà càng sửa lại càng sai!

Trong Kinh Lạy Cha, Tín đồ Công giáo đã nhật tụng: “Vâng Ý Cha dưới Đất cũng như trên Trời”: Ý Cha dưới Đất là thực hiện Công lý xã hội và Ý Cha trên Trời là tu dưỡng Lòng Bác ái. Chúa Giê-su giáng trần là Sứ giả Hòa bình của “Trời Mới Đất Mới”. Ngài mang theo Lệnh truyền “Mến Chúa Yêu Người” để xây dựng Hòa bình.

 

IV. Bài Giảng Hiếm hoi ngoài Đời

 

1. Địa điểm Truyền Giảng: Philippines là một nước có tín đồ Công giáo đông nhất ở Á châu, Á Châu là nơi mà mùa Gặt đang hứa hẹn Hòa cốc phong đăng, nên đã được đức Giáo Hoàng viếng thăm.

2. Tinh thần của bài Giảng: Vị rao giảng tin mừng ngoài Đời là đương kim Giáo Hoàng Francis của La Mã, Ngài có Quan Thầy Bổn mạng là Thánh Francis, mà Kinh Hòa bình nổi tiếng được gán cho Thánh Francis là tác giả. Qua các hoạt động “Canh tân” của Ngài từ khi được bầu lên tới nay, chúng ta thấy rõ Ngài cũng là Khí cụ bình an hiếm hoi của Chúa. Tinh thần xây dựng Hòa bình tràn ngập từ đầu tới cuối Kinh. Cái đặc biệt là Kinh này cũng mang theo Tinh thần “Nghịch số chi Lý” của “Đại đạo Âm Dương hòa” của Việt tộc. Xin trưng ra đây Bản tiếng Pháp và tiếng Việt của Kinh.

3. Kinh Hòa bình

a. Bản tiếng Pháp năm 1912

Seigneur, faites de moi un instrument de votre paix.
Là où il y a de la haine, que je mette l’amour.
Là où il y a l’offense, que je mette le pardon.
Là où il y a la discorde, que je mette l’union.
Là où il y a l’erreur, que je mette la vérité.
Là où il y a le doute, que je mette la foi.
Là où il y a le désespoir, que je mette l’espérance.
Là où il y a les ténèbres, que je mette votre lumière.
Là où il y a la tristesse, que je mette la joie.

Ô Maître, que je ne cherche pas tant,
à être consolé qu’à consoler,
à être compris qu’à comprendre,
à être aimé qu’à aimer,
car c’est en donnant qu’on reçoit,
c’est en s’oubliant qu’on trouve, c’est en pardonnant qu’on est pardonné,
c’est en mourant qu’on ressuscite à l’éternelle vie.


b. Bản dịch tiếng Việt phổ nhạc

Lạy Chúa từ nhân,
Xin cho con biết mến yêu và phụng sự Chúa trong mọi người.
Lạy Chúa, Xin hãy dùng con như khí cụ bình an của Chúa:

Ðể con đem yêu thương vào nơi oán thù,
Ðem thứ tha vào nơi lăng nhục
Ðem an hòa vào nơi tranh chấp,
Ðem chân lý vào chốn lỗi lầm.

Ðể con đem tin kính vào nơi nghi nan,
Chiếu trông cậy vào nơi thất vọng,
Ðể con rọi ánh sáng vào nơi tối tăm,
Đem niềm vui đến chốn u sầu.

Lạy Chúa xin hãy dạy con:
Tìm an ủi người hơn được người ủi an,
Tìm hiểu biết người hơn được người hiểu biết
Tìm yêu mến người hơn được người mến yêu.

Vì chính khi hiến thân là khi được nhận lãnh,
Chính lúc quên mình là lúc gặp lại bản thân,
Vì chính khi thứ tha là khi được tha thứ,
Chính lúc chết đi là khi vui sống muôn đời.

Ôi Thần Linh thánh ái xin mở rộng lòng con,
Xin thương ban xuống những ai lòng đầy thiện chí ơn an bình
.

c. Chúng tôi xin góp vài ý theo tinh thần của nền Văn hóa hài hòa Dân tộc về Tinh thần Hòa bình của Kinh:

* Qua mấy cụm từ “Xin cho con biết”, tới “Để con đem” và “Xin hãy dạy con”, chúng ta thấy “Đức Tin sống động” đang làm lan tỏa Tinh thần Bác ái tràn ngập trong Tâm hồn mỗi người Ki-tô hữu.

* Chúng ta thấy từ đầu Kinh tới cuối, toàn là những động thái chuyển hóa Tâm tư bằng cách đem Đối cực này “Dàn Hòa” với Đối cực kia để tạo ra không khí An Hòa khắp mặt theo tinh thần “Âm Dương Hòa”, nên lời Kinh khi đọc lên, âm hưởng Nhạc khi nghe tới đều toát ra một Không gian huyền ảo trầm lắng, Tinh thần An Hòa thấm sâu vào cõi lòng mọi người. Các cặp Đối cực của Tinh thần Bác ái cứ xoắn xuýt lấy nhau, níu kéo xô đẩy nhau (Âm Dương tương thôi) tạo ra không khí Hòa bình, Nào là:

Yêu thương / Oán thù
Thứ tha / Lăng nhục
An hòa / Tranh chấp
Chân lý / Lỗi lầm
Tin kính / Nghi nan
Trông cậy / Thất vọng
Ánh sáng / Tối tăm
Niềm vui / U sầu
An ủi người / Được người ủi an
Tìm hiểu biết người / Được người hiểu biết
Tìm yêu mến người / Được người mến yêu
Khi hiến thân / Được nhận lãnh
Lúc quên mỉnh / Gặp lại bản thân
Khi Thứ tha / Được tha thứ
Lúc chết đi / Khi vui sống muôn đời
.

Nên nhớ theo Văn hóa Tổ tiên thì “con Người là Quỷ/Thần chi hội”, hai yếu tố đối nghịch như Dữ/Lành, Satan/Thánh thiện kề lưng nhau trong mọi con người. Khi con Người sống sao cho vượt lên trên các cặp đối cực đó thì đạt Thân an Tâm lạc, Hòa bình Hạnh phúc, nhờ Thánh thiện đã chuyển hóa được Satan, mà vượt lên mức độ An Hòa.

* Từ đầu chí cuối, chúng ta thấy toàn là động cơ Nội khởi, mỗi người được khuyến khích tự ý canh tân đời sống Nội tâm, bằng cách “Chấp Kỳ Lưỡng đoan” giữa hai Cực để đạt tới trạng thái hòa trong thế Quân bình động gọi là “Đại Đạo Âm Dương hòa”.

Câu “Bên Ngoài là Lý nhưng Trong là Tình” của Cụ Nguyễn Du giúp chúng ta thấy rõ được sự giao thoa của các cặp đối cực. Tình (Trong mỗi cá nhân) có khả năng nối kết mọi người lại với nhau, còn Lý (Cuộc sống Ngoài xã hội với nhau) lại có thể làm cho con người cách xa nhau, nhưng khi “Tình không thiên vị”, “Lý được công chính” để cho “Tình Lý chan hòa”, khi đó mọi người có khả năng sống Hòa với nhau. Hòa là trạng thái lâng lâng an vui của Tâm hồn khi Tâm hồn đã vươn lên khỏi cặp Đối cực Tình và Lý.

Chúng ta lấy vài ví dụ khoa học để dễ thông cảm:

* Khi hai ion - và ion+ di chuyển ngược chiều trong dây Điện giao thoa với nhau, tạo ra dòng Điện. Dòng Điện là trạng thái giao hòa giữa ion- và ion+, cha ông ta gọi là Âm Dương hòa. Con cái cũng là kết quả của sự giao hòa tột cùng của Mẹ Cha.

* Ánh sáng mặt trời có 7 màu, đó là vibvjor: violet, indigo, bleu, vert, jaune, orange, rouge. Khi xếp các màu theo thứ tự trên vào một cái đĩa và quay tròn thì ta thấy ánh sáng màu trắng, đó là Quang phổ ánh sáng mặt trời. Màu trắng là màu tổng hợp của 7 màu, màu tổng hợp không mang sắc màu nào trong 7 màu.

* Cũng vậy, Hòa (hay Hạnh phúc: Thân an Tâm lạc) là hệ quả của cuộc sống Tình Lý hài hòa, Hòa chỉ là Tinh hoa của Tình Lý.

4. Nội dung Bài Giảng

a. Đặc biệt giữa Đức Giáo Hoàng và Em bé có một sự Giao cảm sâu xa về tình trạng bất hạnh của các em bé trên thế giới. Với bức xúc nung nấu trong lòng, em bé Palomar không đủ ngôn từ để diễn đạt thành lời những thống khổ của mình cũng như những em bất hạnh như em đã phải cam chịu, nhưng xúc cảm xót xa nội tâm khiến em đã bật khóc lên để thay cho lời nói về “Tình trạng Vô cảm” và “Tinh thần thiếu trách nhiệm Liên đới” giữa mọi người trong xã hội, đau đớn nhất là cảnh Cha Mẹ phải bỏ rơi Con cái!

Đức Giáo Hoàng đã Nhìn thấy thảm cảnh và Cảm nhận vấn đề một cách sâu xa, cho rằng dầu có sự Thông cảm để giúp đỡ những thành phần bất hạnh bằng công cuộc Từ thiện như các Tôn giáo và Tổ chức Từ thiện thường làm, việc này Ngài cho là không đủ, vì đó chỉ là “Tiểu Ân”, chỉ giúp cho họ ăn no được một số bữa, có manh áo che thân được một thời gian ngắn... cũng giống như trận mưa rào, chỉ mát mặt được khi mưa mà thôi, mà phải giúp làm sao cho những người bất hạnh được “ ó ăn, có học và có nghề để có phương tiện sống tự lập được như là một con người Tự do có Nhân phẩm”, không ai nhân vì sự giúp đỡ chén cơm manh áo mà chèn ép, làm thương tổn họ, nhất là phải lo sao cho mọi người ai ai trong xã hội cũng có đời sống xứng với Nhân phẩm, đó mới là “Đại huệ”. Thực ra, Xã hội không thiếu tài nguyên để sống, nhưng chỉ thiếu Tình Bác ái và Lẽ Công bằng tương đối do nếp sống Bất nhân của số người có quyền lực quá tham lam gây ra.

Muốn được vậy, Ngài kêu gọi mọi người hãy suy nghĩ để nhận ra sự Bất công xã hội gây khổ đau không những cho con người bất hạnh, mà còn lây lan sự bất ổn ra ngoài xã hội, chỉ có sự Công bằng trong nếp sống, xã hội mới giải quyết tận gốc được nan đề Bất công, nhất là phải “Cảm nhận” được sự đau khổ của những người bất hạnh xung quanh để mọi người đi vào Nội tâm, un đúc Lòng Bác ái để giải quyết nạn “Vô cảm”, và phải “Hành động” để đem Công lý vào mọi Cơ chế xã hội hầu giải quyết mọi hình thức Bất công xã hội qua Ý thức về Tinh thần Liên đới trách nhiệm. Đây không chỉ là trách nhiệm của một cá nhân, một gia đình, một đoàn thể, một số đảng phái, một số Tôn giáo mà là của Toàn dân, trách nhiệm chung này còn chưa được các thành phần có trách nhiệm Ý thức đủ và chưa có sách lược cổ động toàn dân thể hiện. Có lẽ vì vậy mà đức Giáo Hoàng đã trả lời với em bé là “Câu hỏi hiện chưa có câu trả lời”. Nói tắt lại khi xã hội chưa có Công lý (công bình tương đối) thì Xã hội chưa có Hòa bình. Công cuộc giải trừ chế độ “Tham tàn và Cường bạo” của CSVN, của các chế độc tài, cũng như Xây dựng Chế độ Dân chủ cũng chỉ để thực hiện Công lý Xã hội hầu mưu phúc lợi cho mọi người, thiển nghĩ không phải là công trình xây dựng dễ dàng và mau chóng, một Dân tộc thiếu Nội lực thì không làm nổi.

b. Đức Giáo hoàng đã gặp các vị làm Chính trị và Ngoại giao đoàn, Ngài đã trao đổi với các vị và nhắc nhở phải tìm cách bãi bỏ nạn Tham nhũng, phá vỡ xiềng xích Bất công Áp bức đưa tới Bất bình đẳng xã hội. Các vị này có trách nhiệm trực tiếp đối với những vấn đề Xã hội.

c. Đối với Tổng Thống Begnino Aquino. Ngài nhắc nhở: “Nền tảng Xã hội đã bị tàn phá, nên xã hội tràn đầy Bất công, Tham nhũng, Trụy lạc, Dốt nát, nạn Phá thai, Gia đình mất hạnh phúc, và sự Tàn phá thiên nhiên làm biến đổi khí hậu”. Tất cả là những nan đề của Xã hội mà Chính quyền của Tổng thống đang đối diện. Nền tảng xã hội bị tàn phá đó là một nền Văn hóa Nhân bản và Công chính, do đó khi nền Văn hóa bị sa đọa thì sẽ gây thảm họa cho muôn đời, vì tác dụng của Văn hóa tuy Chắc nhưng lại rất Chậm, nên được bền lâu. Chắc vì bắt nguồn từ nền tảng Tình Lý hài hòa của mọi con Người, Chậm vì được truyền từ người này qua người khác theo cách Tự do lựa chọn. Lại nữa khi có Văn hóa tốt đẹp mà không biết đem tinh thần Nhân bản và Công chính vào đời sống xã hội thì không thể có tác dụng cứu con Người và Dân tộc.

d. Ngài kêu gọi các Gia đình phải thoát ra khỏi sự phá hoại của “Chủ nghĩa thực dân về Tư tưởng”, có lẽ là bạo lực, áp bức, chiếm đoạt: nguồn của Bất công. Sự bất công trong gia đình làm thương tổn cảnh “Thuận Vợ thuận Chồng”, khiến cho Gia đình mất hạnh phúc. Khi Gia đình có êm ấm thì mới mong xây dựng được xã hội Hòa bình, vì Gia đình là nền tảng của xã hội.

e. Đặc biệt Ngài kêu gọi phải tôn trọng Phụ nữ. Phụ nữ có nhiều điều nói với chúng ta trong Xã hội ngày nay, vì Phụ nữ còn chưa được đối xử công bằng nhất là nạn bạo hành trong gia đình, cũng như Phụ nữ có những vấn đề mà chúng ta không thể hiểu, vì phụ nữ thường nặng về Tình, mà Tình thì chỉ có thể cảm thông, mà không thể lý giải được, có lẽ thời này là thời Khoa học, thường Duy Lý, nên khó cảm nhận được nguồn Tình của Tâm linh.

Nói tóm lại, vì con Người xa lánh đời sống Tâm linh để cho Satan (Tham, Sân, Si) chế ngự, nên thiếu lòng Bác ái, con Người trở nên Bất Nhân, vì Bất Nhân, nên con Người làm chuyện Bất công gây khổ đau cho nhiều người. Đó là nan đề chung của Nhân loại.

Tóm lại đức Giáo Hoàng chỉ đề cập tới hai vấn đề chính của Nhân loại:

Con Người phải ăn ở với nhau sao cho có Tình (để thông cảm nhau),

Và đồng thời phải hành xử theo Lý công chính (để có tinh thần Liên đới trách nhiệm) theo cung cách của con Người toàn diện, nghĩa là con người không Duy Tình, cũng chẳng Duy Lý, mà Tình Lý tương tham, và con Người còn phải tôn trọng vẻ đẹp của Thiên nhiên – Công trình sáng tạo của Thiên Chúa: Tài sản chung của Nhân loại, mọi người đều có trách nhiệm Không làm ô nhiễm môi trường, gây nguy hại chung cho nhân loại. Tóm lại đó là lệnh truyền “Mến Chúa Yêu Người” của Chúa Giê-su.

Trước kia Nam Hàn còn lạc hậu hơn Việt Nam, nhưng từ thập niên 70 của Thế kỷ 20, cả nước đã vươn lên canh tân đời sống, bằng cách dạy nhau về “Cách làm Người và cách Làm Ăn”, nên được tiến bộ như ngày nay.

 

V. Quan niệm về Vấn đề Công bằng Xã hội

 

Theo tinh thần của các Tôn giáo, thì Lòng Nhân ái hay Bác ái hay Từ bi là nền tảng của con Người và Công bằng là nền tảng Hòa bình của Xã hội. Ngày nay, vì cách hành xử của con Người với nhau thiếu Công bằng nên xã hội rối loạn, nạn bất công đang lan tràn khắp nơi dưới muôn vàn hình thức, nạn khủng bố đã lan ra cả thế giới, một số người đã thí mạng sống của mình, ôm bom tự sát hầu giết cho được nhiều người, theo họ đó là cái giá của Thiên đàng mà họ quyết tử để thủ đắc, Thiên đàng ảo này cũng đắt giá như Thiên đàng trần gian của CS. Đây là những con người Duy Lý cực đoan đã đánh mất con Tim của mình.

Từ ngày rời khỏi Tháp Babel, vì ở những địa phương khác nhau, không còn chung ngôn ngữ, nên con người không chia sẻ nhiều thứ với nhau, trở nên “Dị Khí tương Thù”, ngay những người cùng chung một ngôn ngữ, cũng ngày càng cách xa nhau, một phần cũng do sự tiến bộ khác nhau do Thù đồ mà ra. Tuy sự xung khắc mang nhiều hình thức khác nhau, nhưng cái Lý do chính của sự Bất ổn vẫn là Bất công xã hội. Con người ai cũng khao khát Công bằng, nhưng sự công bằng mỗi người, mỗi nơi hiếu một cách khác nhau, tuy hai bên đều nhân danh công bằng nhưng vẫn đấu đá nhau, vì mỗi bên có dụng ý khác nhau, nhất là không đồng thuận về một tiêu chuẩn Đạo lý chung về con Người để Đồng quy.

Theo thiển ý trong thế giới Hiện tượng tương đối này, công bằng cũng chỉ là tương đối, tùy theo người, tùy hoàn cảnh, tùy địa phương. Ngày nay trên thế giới đã có gần 9 tỷ người, nhưng mỗi người mỗi khác: Về Thể chất và Tinh thần chẳng ai giống ai.

Người thì có Thể xác vạm vỡ khỏe mạnh, người thì mảnh khảnh yếu đuối, người thì tàn tật. Về Tinh thần cũng vậy, người thì thông minh đỉnh ngộ, người thì kém thông minh, người thì ngu đần. Có người mỗi giờ làm ra hàng trăm hàng ngàn, có người không làm ra một đồng dính túi, có người giàu nứt đố đổ vách, có người nằm ăn xin ngoài đường. Hố cách biệt xã hội càng ngày càng lớn. Đây cũng là nguồn rối loạn xã hội. Thế thì con người căn cứ vào đâu mà đòi công bằng xã hội, ngoài sự công bằng về Cơ hội và Phương tiện trong xã hội.

CS đã nhân danh sự “công bằng xã hội” cổ động số đông người nghèo, lấy đa số đàn áp thiểu số cướp lấy chính quyền, phá hết mọi nền tảng xã hội để mong lập nên một xã hội mới gọi là Chế độ Xã hội rồi tiến lên Chế độ CS, thế mà chỉ trong hơn 70 năm, chế độ Xã hội đã đổ cả mảng tận gốc rễ. CS lập lờ rằng phải thực hiện Công bằng xã hội, cho là do con người nghèo khổ bị áp bức bóc lột mà ra, khi giải phóng được những thứ đó thì lớp Công Nông trở nên thông minh sáng tạo, nên mọi thứ ai ai cũng có thể bằng nhau, để mọi người “làm theo năng lực hưởng theo nhu cầu”, nhưng đây là thứ “mật ngọt chết ruồi ngu dốt và cuồng tham”!

CS là kẻ Vô thần, làm sao hiểu rõ được nguồn gốc của Công bằng xã hội và làm thế nào để xây dựng xã hội công bằng.

Thật ra CS không cần những thứ đó, vì mục tiêu của họ là cổ động Hận thù để ăn cướp cả thế giới, để trả thù Bất công xã hội, họ cho bất công xã hội là do chế độ Tư bản mà ra, vì chế độ Tư bản tôn trọng quyền Tư hữu, quyền Tư hữu lại được Pháp luật bảo vệ. CS cho sự Chiếm hữu Cá nhân để có quyền Tư hữu gây ra Bất công xã hội, do đó họ tìm cách tiêu diệt Chế độ Tư bản, thế mà Tư bản cứ phồn vinh mà Chủ nghĩa bách chiến bách thắng Vô sản đã rẫy chết! Trung cộng và CSVN ngày nay không là CS nữa, mà chỉ là “một tổ chức cướp bóc Quốc gia theo ảo tưởng dối gian Quốc tế”.

Không phải trong chế độ Tư bản không có Bất công, nhưng những Bất công có tang chứng rõ ràng đều được pháp luật xét xử công minh, chứ không dàn cảnh gán ghép để đấu tố mà giết người cướp của, lại nữa họ cũng có phương cách tương đối để giải quyết nạn bất công, đem tư tưởng “công bằng tuyệt đối” để giải quyết Bất công xã hội là một sai lầm nghiêm trọng.

CS không hiểu tại sao lại có sự khác nhau về Tư cách và Khả năng của từng người, mỗi người đều được sinh ra ngoài Ý muốn của Mình, của Cha Mẹ mình, ai cũng muốn thông minh và khỏe mạnh cả, nhưng sự thật nhiều khi trái với ý muốn của mình.

Biết hỏi ai đây? Hỏi người thì không người nào trả lời được, hỏi Trời thì Trời không nói, (Thiên hà ngôn tai) chỉ có những người ngồi yên “bất động” và “im lặng” đi sâu vào Lòng mình, xóa màn Vô minh thì mới cảm nhận được Thiên lý, được gọi Mạc khải, vì Mạc khải là sự Im lặng lớn lao <Lão Tử>.

Nhờ Mạc khải giúp con người tiếp cận với Nguồn Sống và Nguồn Sáng, mà tin có Trời và tin Thế giới Hiện tượng là Công trình sáng tạo của Ngài, khi đó mới tìm ra cách nhìn vào sự biến hóa của các hiện tượng thiên nhiên, mà lãnh nhận ra Nguồn cơn của thiên hạ (Thiên hạ chi Cố). Chỉ có Chúa Giê-su là Đấng Thiên sai mang xuống trần gian sự Mạc khải lớn lao.

Nho gia cũng có câu: Dịch nghịch số chi lý, tịch nhiên bất động, nhi toại thông Thiên hạ chi Cố: Dịch là sự tiến hóa của cặp đối cực ngược chiều, mình chỉ ngồi im lặng <silent> và Bất động <Still>, bỏ Suy tư (To think), đi vào nội Tâm <To feel: Quy tư> xóa bỏ hết mọi vương vấn cuộc đời, mới cảm thông được Nguồn cơn của Vũ trụ hay Thiên Lý.

Ta thấy trong Trời cao Đất rộng, mọi sự đều biến đổi không ngừng, Nước luôn chảy từ Cao xuống Thấp, Không khí cũng vậy, gió bão cũng chuyển từ vùng áp suất Cao đến áp suất Thấp, nhờ có mức độ cách biệt mà mọi Vật đều biến hóa, cứ thế mà biến hóa không ngừng, đừng lầm tưởng sự cách biệt về Thiên bẩm là bất công. Mọi vật chất đều được cấu tạo bởi Nguyên tử, Phân tử. (Vạn vật đồng nhất thể) Cấu trúc mỗi nguyên tử cũng tương tự như cấu trúc của một Thái Dương hệ, nên trong Nhất có Đa, trong Đa cũng có Nhất hay trong Tinh vi đều chứa Vĩ đại và ngược lại. Các Nguyên tử có thể phản ứng với nhau thành Hợp chất mới mà biến hóa, (Vạn vật tương liên), có nhiều loại Phản ứng: phản ứng trung tính, phản ứng hấp nhiệt, phản ứng phát nhiệt và phản ứng thuận nghịch. Vì vậy cho nên Vũ trụ chúng ta đang sống là Vũ trụ động theo Luật Biến hóa vô cùng vi diệu.

Con Người không thể không nương theo luật Biến hóa để Đổi mới mà Tiến bộ cũng như Sống Hòa với nhau.

Các vật Nặng thì rơi từ Cao xuống Thấp, những vật Nhẹ lại bay bổng lên Cao, các vật có thể thay đổi theo ba trạng thái để “Tuồng nào theo Tập ấy”. Đặc biệt mọi vật cũng đều phát ra tần số, các tần số có thể giao thoa (thành Bụng) hay tiêu hủy (thành Nút) để hội thông với nhau, mọi thứ cứ vận chuyển tuần hoàn không ngừng, đó là sự biến hóa theo chu kỳ. Đó là Luật Loại tụ. Cha ông chúng ta gọi là “Đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu” hay “Vân tòng Long, Phong tòng Hổ”. Cùng một Tuồng (Thanh) nên khi nghe gọi nhau thì hưởng ứng, cùng một Tập (Khí) thì sẽ nhận ra nhau theo Tần số mà tìm về (quy tụ) với nhau.

Nhờ luật Loại tụ, mà con dân Việt biết tìm về “Hồn Thiêng Sông Núi” tức là Nhân Nghĩa mà đoàn kết với nhau. Vì là Hồn Thiêng cho nên có thể gặp nhau nhờ sự Hội thông theo các tần số.

Ngoài vật vô sinh, ta còn có vật hữu sinh. Tuy vô sinh nhưng các điện tử trong các nguyên tử vẫn chuyển động không ngừng. Còn các vật hữu sinh thì biến hóa vô cùng vi diệu, theo lối “Vô tính sinh và “Hữu tính sinh”. Tuy “Vô tính” nhưng vẫn sản sinh được theo nhiều cách.

Loại: Hữu tính “sinh sản nhờ các chủng tử. Đây là nhưng phép Lạ lớn lao. Do đấy ta có Luật Giá sắc, luật này được nhà Phật gọi là Luật Nhân quả. Đây là Lưới Trời, mà cha ông chúng ta gọi là “Thiên vọng khôi khôi sơ nhi bất lậu: Lưới Trời lồng lộng, tuy thưa nhưng mà không gì lọt qua được”. Theo luật Giá sắc: Ai Gieo thì kẻ đó Gặt, Gieo gì thì Gặt nấy, Gieo Một thì Gặt Trăm. Nay đang là “mùa Gặt ân oán” của đảng CSVN!

Khi hiểu biết về Luật Giá Sắc, con Người mới gắng công tu Nhân tích Đức mà xây dựng hạnh phúc riêng chung.

Theo Tổ tiên việt thì có ba luật lớn: Đó là luật Biến Dịch tức là Dịch lý, luật Loại tụ và luật Giá sắc. Thực ra trong vật chất nào cũng đều mang theo luật Biến hóa, những Định luật Khoa học này bảo toàn trật tự Vũ trụ cũng như giúp cho con người khai thác nguồn thiên nhiên vô cùng phong phú để tồn tại và phát triển.

Vật chất và Năng lượng tuy là hai dạng khác nhau, nhưng vẫn là một, vì có thể biến đổi lẫn nhau. Vật chất có thể biến đổi ra năng lượng dưới nhiều dạng khác nhau, như Cơ năng, Nhiệt năng, Quang năng, Hóa năng, Nguyên tử năng, nặng lượng là hoạt lực của vạn vật, mặt Trời là nguồn năng lượng hiển lộ, vật chất là dạng năng lượng tiềm năng. Cả Vũ trụ toàn là năng lượng.

Đó là một số ví dụ Khoa học về định luật Vật chất. Trong thế giới vật chất, Khoa học chỉ chiếm một phần nhỏ, ngoài ra còn có lãnh vực Phản vật chất cũng vô cùng vĩ đại. Qua cái nhìn của Khoa học, trong muôn vàn vật chất thì cái Tinh vi và Vĩ đại đều được liên kết chặt chẽ với nhau, một Nguyên tử cũng có cấu tạo như một Thái Dương hệ, một Tế bào cũng có đầy đủ chức năng như một con người với hàng tỷ tỷ Tế bào, một sự mất quân bình của một phần tử cũng gây rối loạn cho môi trường chung xung quanh, nguyên do chính là trong Nhất có Đa, và trong Đa cũng có Nhất, Đa Nhất liên hệ chặt chẽ với nhau. (Xem Hologram và The wisdom of the cells). Đó là bộ máy huyền vi của Vũ trụ (Lò Cừ).

Thượng Đế hay Thiên Chúa là đấng vô Hình, vô Thanh, vô Sắc, vô Xú, tuy Vô hình nhưng chúng ta có thể nhìn vào thế giới hữu hình của Tạo vật để nhận ra Đấng Sáng tạo - toàn Năng, toàn Thiện, toàn Mỹ. Hay cách khác là tin vào lời Mạc khải. Điều này không thể chứng minh bằng Khoa học, mà chỉ Cảm nhận mà Thể nghiệm được thôi. Vũ trụ Tinh vi Vĩ đại với Định luật bất biến như thế không thể do Ngẫu nhiên mà thành.

Mọi vật đều như thế, là một Thụ tạo anh linh trong muôn vàn Tạo vật, con người cũng chẳng thể khác, nên phải nương theo luật biến hóa của Thiên nhiên mà sinh tồn và phát triển, nếu làm ngược với luật thiên nhiên thì sẽ bị đào thải. (Thuận Thiên giả tồn, nghịch Thiên giả vong)

Vì thế chúng ta phải nhìn những hiện tượng được coi như là bất công trong xã hội một cách tích cực hơn, vì giả dụ khi có cào bằng được mọi thứ cho đồng đều thì mọi thứ dều ngưng biến hóa tức là sự sống theo luật tiến hóa sẽ bị tiêu diệt, khi đó thì nhân loại cũng chẳng còn!

Thử hỏi trong Vũ trụ, không có “sự khác biệt” giữa Nữ và Nam, Cái và Đực, Mái và Trống cũng như Nhụy Cái nhụy Đực thì Vũ trụ này chỉ là một bãi sa mạc mênh mông!

Vậy thì chỉ có một cách là theo luật biến hóa thiên nhiên mà nhân loại sống với nhau bằng cách lấy Cao bù Thấp, lấy Nhiều bù Ít, lấy To bù Nhỏ, lấy Mạnh giúp Yếu, lấy Giàu giúp Nghèo, nhưng phải theo cung cách thích hợp của Trung đạo, chứ không theo công bằng tuyệt đối được. Để vừa có Tiến hóa vừa Sống Hòa tương đối với nhau bằng cách “Phải Người Phải Ta”, chứ không có “Dĩ cường lăng nhược, Phù Thịnh mà chẳng phù Suy”!

Đây là việc làm xem ra bất công, nhưng lại hợp với lẽ Trời, việc Trời sáng tạo ra loài người dường như bất công, nhưng xét kỹ thì sự cách biệt về Thiên bẩm giữa mọi người với nhau là điều cần thiết để giúp con người cố gắng nâng cao Phẩm giá của mình (Nhân phẩm) với muôn vàn sắc thái khác nhau để xứng danh là Bậc Thụ tạo của Đấng Sáng tạo. Vũ trụ có muôn vàn vật chất khác biệt với muôn màu muôn vẻ, để cho loài người khai thác mà sống cho sung mãn, nếu không thì cuộc sống loài người hầu như vô nghĩa.

Mọi người nên nhận ra tất cả mọi môi trường trong vũ trụ mênh mông (Không khí, Nước, Đất, Tư tưởng, Tâm linh) với hằng hà sa số vật chất, các vật chất đều biến hóa không ngừng theo các định luật bất biến, nhờ có định luật bất biến mà con người có Tự do, đây là:

* Vật chất trong các môi trường là Nguồn tài nguyên vô tận được biếu không” cho loài người, - nguồn “Công hữu của Nhân loại “-. Đây là nguồn Vốn vô cùng vô tận, nhưng vừa khai thác vừa phải bảo tồn, đừng làm ô nhiễm mà làm rối loạn trật tự vũ trụ.

* Chính Thể xác và Tinh thần của mỗi con người cũng là “quà biếu cho không”, là nguồn “Công hữu thuộc Cá nhân”, cá nhân mình chẳng có xuất tí vốn nào hết. Đây là hàng bao tỷ người trên quả địa cầu có hoạt lực làm Lời, để cho mỗi cá nhân được phát triển toàn diện về Tư cách và Khả năng.

Thế nhưng, nhân loại đã không nhận ra quyền Công hữu của Cá nhân và Công thể để làm Lời về Tư cách và Khả năng, để biết chia sẻ mà sống Hòa với nhau, lại cứ thượng hạ giao tranh lợi quá đáng, mà gây khổ đau cho nhau! Muốn có hạnh phúc thì mọi người nên nhận ra: “Ở đời muôn sự của Chung, hơn nhau ở chỗ Biết dùng mà thôi”.

Mọi người chúng ta đều nợ Trời Đất mọi thứ, chúng ta không cần trả nợ, vì không thể tìm ra Chủ nợ, Ngài là Đấng Bác ái không cần đáp ơn, nên chúng ta phải giúp nhau để sống hòa với nhau cho hạnh phúc, và cũng đừng quên phải sống hòa theo Luật của Đấng Sáng tạo, vì nếu mình làm ngược lại, phớt lờ luật của Trời Đất thì không những gây khổ đau cho chính Mình và cho Nhau, mà còn đánh mất phần cao qúy của con Người, làm cho cuộc đời trở nên vô nghĩa. Đó là Thiên Ý.

Cái vốn Trời phú bẩm cho, càng dùng càng có lời, con người năng Hoạt động thì tay chân mới khỏe mạnh, Trí óc cũng vậy, càng Suy tư (Động) thì sự Hiểu biết càng tăng, càng Quy tư (Tĩnh) thì Tình người càng đôn hậu, đó là sự sống mà cần sao cho hai yếu tố Động và Tĩnh cần được hài hòa nơi mỗi con người, chứ cứ sống mà không hoạt động cho phát triển đồng đều toàn diện thì kể như con người đã chết đi một phần rồi.

Vậy Trời xuất vốn cho mỗi người để mỗi người làm Lời theo khả năng và hoàn cảnh của mình. Mọi hoạt động của con người đều phải vượt qua mọi khó khăn trở ngại để vươn lên mà trau dồi Phẩm giá con Người với hai mục tiêu:

Hoàn thiện mọi việc Làm từ nhỏ tới to hầu Thành Thân để Ăn nên Làm ra.

Hoàn thiện các mối Liên hệ Hòa để Thành Nhân, biết lưu tâm chia sẻ, để sống công bằng mà an hòa với nhau.

Khi con người được phát triển toàn diện như thế thì mới làm Chủ được chính Mình, Gia đình mình, Đất nước mình và cả Vũ trụ nữa, để tất cả mọi sinh hoạt đều được hòa nhịp vào Tiết nhịp Hòa của Vũ trụ (cosmic rhythm). Khi đó nhân loại mới có hạnh phúc. Nhưng muốn có hạnh phúc thì mọi người phải tự kiến tạo lấy, không ai có thể làm thay cho mình, con người không thể có Hạnh phúc, khi sống trên lưng kẻ khác.

Chúng ta nhớ trong Thánh kinh Tân ước có Dụ Ngôn, ông Chủ cấp phát cho mỗi người một số nén bạc khác nhau và bảo phải làm Lời, công lao mỗi người được “Đấng Xuất vốn” tính theo tỷ lệ làm Lời (về Nhân cách và Khả năng), chứ mình không thể dựa theo vốn được cấp nhiều ít, mà chèn ép người khác, sống trên lưng kẻ khác, kẻ đã nhận được nhiều nén vui lòng làm kẻ rửa chân cho người ít vốn hơn trong cộng đồng của mình, vì mình đã được ưu đãi hơn rồi, chứ không nên sống theo lối khôn vặt “Ăn cỗ đi trước, lội nước theo sau”, thành phần được ưu đãi này thường ở ngoài và đứng trên Dân tộc.

Khi nói đến sự công bằng, thì ý tưởng của mỗi người một khác. Vì sự khác biệt về thiên bẩm của hàng tỷ người chẳng ai giống ai, nên sự công bằng xã hội rất tương đối và rất phức tạp, tùy theo từng cá nhân, từng hoàn cảnh, từng trường hợp mà hành xử sao cho:

* “Phải Người Phải Ta, Một vừa Hai phải” hay “Dĩ Hòa vi quý “là được,

* Chứ không nên đem tư tưởng: “Đếm từng hạt gạo để thổi cơm, chẻ sợi tóc làm tư (4) mà làm lạt buộc” để ăn thua với nhau, để đi đến tình trạng Người ăn thịt Người (Lão Tử?)

* Khi con người thiếu đức Bao dung, chỉ hành xử theo Tinh thần Duy lý thì xã hội bị xé tan ra từng mảnh, khi đó con người là kẻ thù nguy hiểm nhất của con người. Các Chế độ độc tài và tổ chức khủng bố ngày nay là ví dụ.

Vì vậy nên “Học cách làm Người và Học cách Ăn ở tương đối công bằng với nhau” là một ràng buộc của từng Cá nhân trong Cộng đồng, vì thói “Khôn Độc” dẫn tới “Dại Đàn”, khiến cho Dân tộc chúng ta đã trải qua vô vàn kinh nghiệm đau thương.

 

VI. Hai mô thức thực hiện Công lý xã hội

 

1. Mô thức Chế độ Bình sản của Tổ tiên Việt

Chế độ Bình sản là Chế độ của Tổ tiên chúng ta dùng quyền Công hữu để điều hòa với quyền Tư hữu, để cho ai ai trong xã hội Nông nghiệp cũng có Phương tiện mưu sinh hàng ngày để sống có Nhân phẩm và đồng thời để cho sự cách biệt Giàu Nghèo trong Làng Xã không quá cách biệt. Chế độ này được thực hiện trong các triều đại Lý, Trần, nhất là Hậu Lê. Vào quảng thập niên 20, 30 của Thế kỷ 20 số công Điền công Thổ trong các làng Xã ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ còn chừng một nửa, vì thế không có Tư nhân nào quá giàu, còn số Công điền Công thổ được luân phiên cấp phát cho những người bất hạnh, như người tàn tật, cô nhi quả phụ..., một số Ruộng Đất được dùng làm Học điền giúp cho những trẻ em nghèo có khả năng đi học để tiến thân. Đối với những người khỏe mạnh thì họ tự canh tác lấy Hoa lợi mà sống, còn những người bất khiển dụng thì cho Rong canh, nghĩa là cho người khác canh tác, lấy một số hoa lợi mà sống, tuy mức sống còn thấp, nhưng không ai phải đi ăn xin. Còn Nam kỳ là Thuộc địa của Pháp, quyền Công hữu bị xem nhẹ, nên mới có những địa chủ có ruộng “cò bay thắng cánh”, lớp tá điền bị bóc lột, nên có đời sống cơ cực.

Còn Trung và Bắc kỳ cũng bị đặt dưới quyền Bảo hộ của Pháp, nên số Công diền Công thổ cũng giảm dần. Lại nữa các Vua chúa các đời sau bị cái bã của Hán Nho, cứ thi văn, tầm chương trích cú theo Hán Nho bá đạo của Tàu, trong khi các nước tiến bộ vượt bậc, còn nước mình thì cứ bế quan tỏa cảng, để có thì giờ ngâm vịnh và xây lăng tẩm, ngày càng lạc hậu và hủ lậu, nên mới bị CSVN loại trừ một cách dễ dàng.

Tuy còn ở mức độ thô sơ, nhưng Tổ tiên chúng ta đã quan niệm vấn đề Công bằng Xã hội rất chính xác và đã thực hiện công bằng xã hội thành công, nên đã có những lúc đời sống dân chúng trong Làng Xã tuy thanh bần nhưng vẫn bình an hạnh phúc. Bhutan ngày nay là nước Á Đông lấy mức độ Hạnh phúc nhân dân làm chuẩn, mà không đặt nặng vào mức Lợi tức hàng tháng hàng năm. Thực ra nên điều hòa cả hai.

Ta nên nhớ theo nền Văn hóa của Tổ tiên thì quyền Công hữu và Tư hữu là cặp đối cực khi được điều hành quân bình theo Dịch lý thì tạo nên tình trạng hòa, hòa phát xuất từ Đại Đạo Âm Dương hòa hay Tình Lý tương tham. Nhờ cuộc sống “Chí Nhân và Đại Nghĩa” mà một nước bé nhỏ đã biết cách đem Đạo lý vào Đời để có đủ Nội lực đặng đánh bại một nước Khổng lồ “Tham tàn và Cường bạo” suốt gần 5000 năm lịch sử. Qua đó, ngày nay chúng ta nhận ra chúng ta phải làm gì để Cứu nước và Dựng nước đang trong cơn nguy biến.

2. Mô thức Công bằng xã hội của Chế độ Dân chủ Hoa Kỳ

Hoa Kỳ là một nước Công nghiệp, nhờ trình độ Khoa học phát triển, nên cũng đã có phương cách khác làm điều hòa giữa Tư hữu và Công hữu. Về Tư hữu thì chế độ Tư bản lấy hai tiêu chuẩn Tự do kinh doanh và Tự do cạnh tranh làm động lực tiến bộ, để làm giàu hầu tích lũy Tư bản. Mặt khác lại đánh thuế Lũy tiến trên lợi tức từng Người, từng Gia đình, số thuế thu được dùng làm Công hữu để xây dựng chế độ Dân chủ. Đảng Công hòa và đảng Dân chủ là cặp đối cực nắm quyền điều hòa giữa Công và Tư hữu.

Hiện Tổng thống Obama của đảng Dân chủ đang có dự luật tăng thuế cho người giàu, để giúp đỡ lớp Trung lưu, còn đảng Cộng hòa đang chống lại để bảo vệ quyền lợi cho thành phần Tư bản giàu có. Hai bên đang cọ cưa nhau về Công hữu và Tư hữu để đạt tới một thỏa thuận cân bằng. (Ở Hoa Kỳ, phần đông trong 1% Tỷ phú vui vẻ chấp nhận đóng thêm thuế.)

Ngân sách do Tiền thuế thu được phải dùng một cách điều hòa để xây dựng Hạ tầng Cơ sở và Thượng tầng Kiến trúc ngày thêm vững mạnh. Cũng nhờ sinh hoạt theo “cặp đối cực cọ cưa nhau”, nên khi có sự chệch đường là điều chỉnh được ngay, vì lẽ Phải nằm ở Trung đạo, chứ không có cực đoan một chiều, khi nào cũng nhất trí 100% như CS, sự sụp đổ của Liên Xô và Đông Âu là ví dụ. Ngoài ra, chính phủ trích một số trong ngân sách Quốc gia để thiết lập “Quỹ An sinh xã hội” hầu giúp những người bất hạnh, những người tàn tật, những người già nghèo và gia đình có lợi tức thấp để cho ai ai cũng có cơ hội và phương tiên để có nghề nghiệp để giúp họ sống tự lập, cũng như giúp những người bất lực có phương tiện sống hàng ngày, để không ai nhân danh chén cơm manh áo để bắt nạt nhau, để làm thương tổn nhân phẩm của nhau. Trong khi đó CSVN đã dùng tem phiếu thực phẩm và Sổ Hộ khẩu để hủy diệt Tự do và Nhân phẩm của con người. Ở đất nước ta thì “Trẻ cậy Cha, Già cậy Con”, nhưng đối với người Con bất hiếu thì người Cha già rất khốn đốn, còn ở Hoa Kỳ thì “những người bất hạnh và nghèo khó” đều cậy trông vào sự cấp dưỡng và săn sóc của xã hội, mọi sự đều có luật pháp bảo vệ. Đó là đường lối Phú chi, Giáo chi để cho ai ai cũng có Tư cách và Khả năng xây dựng chế độ Dân chủ, cũng như nương theo Thiên lý mà bù đắp cho cuộc sống những người bất hạnh.

Đây là cách giải quyết tương đối ổn thỏa vấn đề Công bằng tương đối trong Xã hội, không thể đem ảo tưởng công bằng tuyệt đối như CS mà phá nát cả Thượng tầng kiến trúc và Hạ tầng cơ sở xã hội, để cướp giật rồi chạy quanh hiện tượng xã hội rối ren, mà hò hét, không biết làm gì, chỉ nói bạy để che lấp tội ác!

Nhờ phương cách đem Đạo lý (Bác ái) vào Đời (Thực hiện Công bằng xã hội) mà Nhân dân Hoa Kỳ đã trở nên hùng cường nhất thế giới, không những bảo vệ và xây dựng được nước phú cường mà còn giúp các nước trên thế giới chống lại thói “Dĩ cường lăng nhược” của các chế độ độc tài như CS cũng như lực lượng Khủng bố khắp thế giới.

Về Đối ngoại, Hoa Kỳ theo đuổi Chủ nghĩa Bành trướng mang bản sắc Hòa bình, lấy Tinh thần Hiến Chương Liên Hiệp quốc làm “Chủ đạo chung” cho thế giới, lấy Tổ chức Liên Hiệp quốc để điều hành nền an ninh thế giới và lấy Luật lệ của các Tổ chức Quốc tế để các thành viên đối tác ứng xử tương đối công bằng vói nhau, để giúp nhau Ăn nên Làm ra và để bảo vệ quyền lợi chính đáng của nhau... hầu thực hiện Thế giới Hòa bình. Đây là chính sách “Win – Win solution” hay Lưỡng Lợi.

Còn Đại Hán và nhất là Trung cộng ngày nay luôn theo đuổi chủ trương Bành trướng mang bản chất Chiến tranh bằng cách Mua chuộc, Lừa đảo, để Chiếm đoạt cũng như chuẩn bị Chiến tranh theo thói “Cá Lớn nuốt cá Bé” để thống trị thế giới. Suốt dòng Lịch sử nước Tàu hầu hết đều theo đường lối Bành trướng này. Đây là đại họa của Việt Nam và Nhân loại. Đường lối ngoại giao của Tàu xưa nay là: “Win – Loose solution” hay Kẻ Được – Người Thua” hay “Kẻ thì ăn Cả - Người ngả về Không”!

Hoa Kỳ đã thực hiện đường lối “Tòng cách” nghĩa là nương theo để sửa đổi, nhờ lòng Bác ái, không kể Bạn Thù, cứ giúp nhau “Ăn nên làm ra (Phú chi)” rồi đem Tinh thần Dân chủ mà truyển bá (Giáo chi) để chuyển hóa từ Chế độ Độc tài qua Dân Chủ (Tòng cách) với mục đích tạo ra những Đối tác giúp nhau kiếm lời và đồng thời duy trì an ninh chung mà giữ quyền lợi cũng như chia sẻ trách nhiệm Hòa bình chung trên thế giới.

Nhưng khi đã được giúp trở thành nước có kinh tế bậc nhì thế giới, thì Tàu cộng chẳng những trốn trách trách nhiệm chia sẻ đóng góp chung để giúp đỡ nhau trên thế giới, đến nỗi khi giúp bão lụt ở Phi Luật Tân, cả nước Tàu với 1.3 tỷ người, mà phần đóng góp giúp đỡ còn kém thua xa chừng hơn một triệu người Việt tỵ nạn ở Hoa Kỳ. Tàu cộng chỉ lo chạy đua vũ trang đe dọa các nước lân bang không những nhằm chiếm hết Biển Đông mà còn muốn bành trướng để thống trị cả Thế giới, trước đây Trì Hạo Điền đã đe dọa đánh bại Hoa Kỳ để chiếm đất Hoa Kỳ, Gia Nã Đại và Úc châu đề có “không gian sinh tồn: Space for Life cho người Tàu, ông cho rằng dầu có chết đi năm bảy trăm triệu cũng còn đủ số người cai trị thế giới! Mộng Bành trướng truyền thống của Đại Hán xưa nay vĩ đại biết nhường nào? Chính sách khôn vặt có “Ăn mà không có Chịu đóng góp trách nhiệm chung” khiến các nhà đầu tư Hoa Kỳ đang lục tục rút ra khỏi nước Tàu. Những gì sẽ xảy ra sau đó, hãy chờ xem?

Có điều buồn cười là “chưa đậu Ông Nghè đã đe hàng Tổng” nay Tàu cộng đang bị bao vây tứ phía, phỏng với Tham tàn và Cường bạo có giúp Tàu cộng bành trướng để cho cả thế giới trở thành Thiên hạ của Thiên triều không?

 

VII. Kết luận

 

1. Sở dĩ Cha ông chúng ta dã thực hiện được chế độ Bình sản là nhờ biết tu dưỡng lòng Nhân ái để biết cách ăn ở theo lý Công chính. Vua tôi được xem là Phụ mẫu chi dân, Chế độ xã hội biết lấy Dân làm gốc, nên chăm lo công việc Phú chi và Giáo chi để nâng cao Dân sinh, Dân Trí và chấn hưng Dân khí. Chế độ Bình sản là cách đem Đạo lý Nhân sinh vào Đời để mưu hạnh phúc chung. Cái thảm họa của Việt Nam là ở vào một vị trí quan trọng, lại sống cạnh một nước khổng lồ Tham tàn và Cường bạo, cứ luôn gây chiến tranh để cướp bóc và tàm thực, nòi Đại Hán luôn quen thói “Dĩ cường lăng nhược” để áp bức lột, làm cho Dân tộc chúng ta không vươn lên vực dậy được.

Trong tám thập niên nay, để được giúp đỡ mọi mặt hầu làm Cách mạng Vô sản, ngay từ ngày đầu Hồ Chí Minh và bè lũ đã ký nhượng Việt Nam cho Tàu cộng và lại tiếp tay đắc lực dẫn kẻ thù truyền kiếp vào nhà để dày xéo mồ mả Cha ông, nay Tàu cộng đã bao vây tứ phía, đã xâm nhập vào mọi ngõ ngách của đất nước, CSVN đã bần cùng hóa và ngu dân để dồn dân vào tròng nô lệ kẻ thù truyền kiếp.

2. May thay, nhờ vào sự xoay trục của Hoa Kỳ mà tới nay Trung cộng chưa nuốt chửng được Việt Nam. Nuốt chửng Việt Nam là giấc mộng lớn của Tàu từ ngàn xưa tới nay, nhờ Tính chất quật cường của Nhân dân, mà Việt Nam đã dạy cho Tàu nhiều bài học cay đắng, thế mà Trung cộng cứ theo truyền thống “Thói nào tật nấy”, từ cách ăn nói và hành xử càng ngày càng tỏ ra là loài người có Trí óc Khổng lồ mà không có Con Tim, nên cứ lộng ngôn lộng hành, với nhãn quan “Mục hạ vô nhân” xem thế giới của thế kỷ 21 như là Thiên hạ, không hề biết đến liêm sỉ! Sự xoay trục về Á châu của Hoa Kỳ là cơ hội ngàn năm một thuở, hy vọng nhân dân ta phải chụp lấy cơ hội, cùng nhau canh tân đời sống mà thoát hiểm.

Sở dĩ Hoa Kỳ trở nên hùng cường nhất thế giới là do nhân dân Hoa Kỳ đã xây dựng được chế độ Dân chủ, biết tôn trọng Nhân quyền, mọi người đều được hưởng đầy đủ Tự do, do đó mà mọi người đều có Cơ hội và Phương tiện phát triển toàn diện con người, nhờ đó mà cuộc sống của Dân (Dân sinh) được no ấm, Trí Dân (Dân trí) được mở rộng, và Tinh thần của Dân (Dân khí) được nâng cao. Lòng bác ái của họ rộng lớn, họ cảm thương hết mọi người, Trí họ cao sâu, thấy rõ mọi vấn đề lợi hại dài lâu, Chí họ bền lâu, nên quyết tâm xây dựng một xã hội công bằng, mọi người đều tận Tâm tận Lực xây dựng chính con người mình cũng như công đồng, không những họ lo cho nước hùng cường mà còn hết Lòng cứu giúp các nước đang phát triển trên thế giới để giúp nhau Ăn nên Làm ra và chung sống Hòa bình, để tránh cảnh “Bò chết thì Trâu cũng bị lột da”, họa CS là ví dụ.

Hoa Kỳ là nước đặc biệt đã đem Tinh thần Bác ái và Công bằng của Ki-tô giáo vào đời sống xã hội một cách tuyệt hảo, họ hết lòng tôn trọng Tự do cá nhân dể giúp mọi người phát triển Tư cách và Khả năng cao độ và đồng thời vẫn tôn trọng Pháp luật để duy trì lẽ Công bằng mà sống Hòa với nhau, nhờ đó mà giúp mình và cứu người được vẹn toàn.

Chỉ khi nào mọi người sống sao cho nghịch lý Bác ái (Tình) và Công bằng (Lý) được hài hòa thì khi đó mới có thể sống sao cho nghịch lý Tự do (Nhân quyền: Tự do hàng dọc: Vô biên) và Pháp luật (Dân quyền: Tự do hàng ngang: Hạn chế) được kết hợp.

Nhờ vậy mà mọi người dân Hoa Kỳ đều có cơ hội chọn đời sống Tự do cá nhân thích hợp để phát triển bản sắc riêng của mình, nhưng mọi người vẫn có đủ Dũng lực tự chế để Đồng quy vào Tinh thần Hiến pháp công minh để Xây nhà Dựng nước. Đây là nguồn Sức mạnh của Dân tộc Hoa Kỳ.

Tự do và Luật pháp là nghịch lý, một bên tự ý, một bên bó buộc, làm điều hòa được hai yếu tố ngược chiều đó là Tinh thần của nền Dân chủ Pháp trị, Pháp luật nhằm giúp người dân khỏi phạm pháp để duy trì công bằng xã hội, mà không nhằm để trừng phạt người phạm lỗi. Còn CSVN nhân danh luật pháp, cai trị dân bằng Nghị đinh mù lòa vì thiếu con tim, nên mang bản sắc rừng rú của loài sài lang, họ dùng luật rừng để loại trừ những người yêu nước công chính để làm tốt nhiệm vụ tôi đòi. Nói tóm lại Hoa Kỳ cần đối tác để cùng nhau kiếm lời và giữ an ninh thế giới, không thể đem tư tưởng Nô lệ mà doàn xét Hoa Kỳ. Một điều rất quan trọng là khi muốn làm đối tác với Hoa Kỳ thì chúng ta phải là con người tự Chủ, tự Lực, tự Cường, nếu cứ ỷ lại, không làm tròn nhiệm vụ chắc Hoa Kỳ sẽ phản bội.

Còn sức mạnh của Các chế độ độc tài nằm trong tay thiểu số chính quyền độc đoán, còn trong chế độ CS như Trung cộng và Việt cộng thì quyền lực nằm trọn trong tay các Trung Ương Ủy viên, được gọi là Dân chủ tập trung, tập trung để tiêu diệt Tự do Dân chủ!

Đây là nguồn cội của Chiến tranh để Chiếm đoạt, họ là những con người “đại Bất nhân” gây ra “đại Bất công xã hội” đem con người vào Hỏa ngục trần gian! Đây là Tử Điểm của chế độ Độc tài, điển hình là Trung cộng, Việt cộng...

3. Cha ông chúng ta có khuyên “Ăn theo Chợ, Ở theo Thời”.

Cái Chợ ngày nay là Thị trường chung toàn cầu và Thời là Thế kỷ 21. Tại sao chúng tôi lại đem cái Mô thức xây dựng Xã hội ngày xưa của Tổ tiên và Mô thức Chế độ Dân chủ của Hoa Kỳ ra bàn luận, việc này chắc sẽ làm phiền lòng một số quý vị. Nhiều người cho rằng chế độ ngày xưa đã lạc hậu nhắc lại làm gì, làm mất thì giờ nhau vô ích, nay thành phần yêu nước đang hàng giây hàng phút trực diện với lũ tham tàn, cứ đem những chuyện lý tưởng xa xôi ra cho thêm lắm chuyện, nhưng chúng tôi cốt ý nhắc đến phần Tinh thần mà thôi. Tất cả chúng ta đang trên bước đường “xóa bỏ Tham tàn và Cường bạo” đề xây dựng Chế độ Dân chủ có nền tảng “Chí Nhân và Đại Nghĩa” cũng như Tinh thần “Công lý và Hòa bình”. Công việc phá hoại đã vô cùng khó khăn, nhưng công việc xây dựng từ đống đổ nát toàn là công việc “Xẻ núi lấp sông”, nếu không có điểm Tựa và Đòn bẩy thì khó lòng hoàn thành được.

Điểm Tựa là Tình thần Nhân Nghĩa, cũng như Bác ái Công bằng, Từ bi Trí tuệ, nhờ giữ vững Tinh thần “Tôn giáo đồng nguyên” hay “Vạn giáo nhất lý” mà các tôn giáo đoàn kết với nhau một lòng. Việc nước là việc chung không một đảng phái nào, Tôn giáo nào có thể cáng đáng nổi, đây là vấn đề mà chúng ta phải trực diện, không thể né tránh.

Đòn bẩy là Nội lực của toàn dân, mọi người phải Chung Lòng chung Trí giữ vững Tinh thần chung mà Cứu và Dựng nước. Trên bước đường phá hoại và xây dựng khó khăn và lâu dài nếu không Ý thức đủ về Tinh thần xây dựng chung để giữ vững Tay lái, đến gặp khó khăn sẽ bị chệch hướng, tất dẫn đến tình trạng đấu đá nhau mà hỏng việc chung!

Con Thuyền Dân tộc đang bập bềnh trên trùng dương sóng gió, nếu không có La bàn định hướng Nhân Nghĩa mà lướt tới thì sẽ rơi vào bước đường Vô định!

Khi nhắc đến Tổ tiên là nhắc đến lòng Nhân ái và Lý công chính nơi Dân tộc, còn nhắc đến Chế độ Dân chủ Hoa Kỳ cũng chỉ lưu tâm đến tinh thần Bác ái và Công bằng của Nhân dân Hoa Kỳ, thiếu những Động cơ này thì không đủ sức hoàn thành công cuộc lớn lao, lâu dài và khó khăn. Tuy ở hai Thời khác nhau và Chợ khác nhau, nhưng Tinh thần đó không ngoài Ý nghĩa: Tôn trọng con Người, yêu thương con Người và mọi Người phải ăn ở tương đối công bằng để sống hòa với nhau. Chợ và Thời luôn luôn đổi thay, nhưng Tinh thần đó sẽ trường tồn với Nhân loại. Không có những giá trị của “Con Tim biết yêu nhau và Khối óc biết ăn ở phải Người phải Ta nơi mỗi người Dân “thì chắc không thể xây dựng chế độ Dân chủ được, không thể lấy Luật Pháp Ròng để buộc mọi người Dân thực thi công bằng xã hội. Học hỏi Cha ông để duy trì cái Gốc Tinh thần Chung (Nhân, Trí, Dũng của Vua Hùng) mà đoàn kết với nhau, tuy học hỏi Hoa Kỳ và các nước khác, nhưng chúng ta không có sao y nguyên bản, vì Văn hóa chúng ta khác nhau, hoàn cảnh chúng ta khác nhau, trình độ Dân sinh Dân trí và Dân khí của chúng ta cũng khác nhau, (Cách khác là Hạ tầng Cơ sở và Thượng tầng kiến trúc của chúng ta khác với các nước khác), nên phải có óc sáng tạo để đem cái Tinh hoa của người ta vào con Người và xã hội Mình mới ổn.

Trước đây người Nhật cũng qua Tây phương để học hỏi về Khoa học kỹ thuật, nhưng đến khi đi sâu vào lòng Dân tộc theo tinh thần câu nói “A Nation in seach of itself” mới thành công tốt đẹp. Nước Nhật học cách làm xe hơi của Tây phương, nhưng xe Nhật lại gọn hơn, đẹp hơn, rẻ hơn và bền hơn, cách buôn bán của Nhật biết giữ uy tín dài lâu, họ có cái khôn dài lâu, không có ăn xổi ở thì, do đó chúng ta nhận ra cái Học của họ đã được tiêu hóa, nhờ vào tinh thần Tự Chủ, tự Lực, tự Cường, nên có sáng tạo thêm, chứ không có sao chép đánh cắp hay học hỏi theo tinh thần nô lệ.

Sau Quốc nạn 1975, một số nhân dân chúng ta đã tỏa ra khắp thế giới, mỗi người đã học hỏi được một số tinh hoa của nước ngoài, nhất là Khoa học Kỹ thuật, đây là bước đường Thù đồ, với bản sắc riêng biệt của mình, mỗi người đã thủ đắc được những kiến thức khác nhau, đồng bào trong nước cũng tiếp thu được nhiều điều qua internet, nhất là có sự kiện để nhận ra những sự sa đọa cũng như tinh hoa của nền Văn hóa Dân tộc, đây là vốn liếng vô cùng quý giá, mỗi người chúng ta cứ đóng góp theo khả năng riêng của mình, chúng ta đón nhận sự khác biệt của nhau, mỗi người sinh hoạt một cách khác nhau trên mọi trận tuyến để cứu con Người và Đất nước, mọi thứ càng khác biệt càng phong phú càng đầy đủ, nhưng xin đừng quên Đồng quy vào Tinh thần “Nhân Nghĩa” hay “Bác ái Công bằng” hay “Từ bi Trí tuệ” của Dân tộc: Mọi người phải Kính trọng, Yêu thương và Bao dung nhau, và hành xử hai chiều có Đi có Lại cho toại Lòng nhau mà chung Lòng chung Trí và Góp sức xây dựng nền Dân chủ chân chính, chứ cứ vin vào “Tự do phóng túng và Dân chủ nửa vời” mà xào xáo với nhau thì lại phá nát Dân chủ.

Thù đồ mà không Đồng quy thì Dân tộc lâm vào cảnh phân hóa mà rơi vào Thảm họa tan Đàn xẻ Nghé, cứ chạy quanh các hiện tượng rối ren mà hò với hèt! Cứ nhìn vào tình trạng của các nước ở Trung Đông, Châu Phi vừa mới dẹp được ách độc tài, cũng như Thái lan, vì thiếu Chủ đạo chung nên chưa thoát qua tình trạng bất ổn vì nạn Thù đồ mà không có một tiêu chuẩn chung về Đạo lý nhân sinh để Đồng quy.

Không có Đạo lý Nhân sinh thì chẳng thể giúp Nhân sinh được Hạnh phúc!


Nguyễn Quang
Xin xem thêm bài (1)

 

      

oooooOOooooo
(1): Quyết Nông To vn-share-news@googlegroups.com

DENNIS PRAGER - CHUYẾN ĐI THĂM VIỆT NAM
KHIẾN LẠI PHẢI GHÉT CHỦ NGHĨA cộng sản
Dennis Prager, The Patriot Post
PBD dịch
Hung Le giới thiệu
15-2-2011
Nguyên bản: Trip to Vietnam Revives Hatred of Communism

 

 

Thật khó mà kềm nổi các cảm xúc của tôi — nhất là không tránh được phải nổi giận — trong chuyến viếng thăm Viêt Nam của tôi hồi tuần trước. Tôi càng ngưỡng mộ người dân Việt bao nhiêu — thông minh, yêu đời, tự trọng, và chăm chỉ — thì tôi lại càng tức giận chính phủ cộng sản đã gây đau khổ quá nhiều cho người dân nước này (và dĩ nhiên cả người Mỹ chúng ta) trong nửa thế kỷ sau của thế kỷ 20.

Điều không may là chính phủ cộng sản vẫn cai trị nước này. Mà Việt Nam ngày nay đã đón nhận cách duy nhất, chủ nghĩa tư bản và thị trường tự do, để thoát khỏi cảnh nghèo đói, chứ khoan nói đến chuyện thịnh vượng. Vậy thì 2 triệu người Việt phải bỏ mạng trong Chiến Tranh Việt Nam để làm gì? Tôi muốn hỏi một trong những người lãnh đạo cộng sản đang cai trị Việt Nam câu hỏi đó. Tôi muốn hỏi: “Này đồng chí, đồng chí đã bỏ hết tất cả những gì mà đảng cộng sản của đồng chí đã tranh đấu cho kỳ được: nào là cộng sản, nông nghiệp tập thể, hoạch định trung ương, và quân phiệt, ngoài những lý tưởng khác nữa. Vậy thì hãy nhìn lại xem Hồ Chí Minh yêu kính của đồng chí và đảng của đồng chí đã hy sinh hàng triệu đồng bào người Việt của đồng chí thì đúng ra là để được cái gì?”

Không có câu trả lời nào là câu trả lời hay. Chỉ có một lời nói dối và một lời nói thật, và lời nói thật thì thật thê lương.

Lời nói dối chính là câu trả lời của cộng sản Việt Nam, cũng như hầu hết mọi lời nói dối của cộng sản, và đã được khối cánh Tả phi cộng sản trên thế giới lặp lại. Lời nói dối này đã (và vẫn tiếp tục đang) được dạy tại hầu hết các viện đại học ở phương Tây, và đã (và vẫn tiếp tục đang) được hầu hết mọi phương tiện truyền thông trên địa cầu truyền tải: Lời nói dối đó là cộng sản Việt Nam (tức Bắc Việt), và Việt cộng chỉ tranh đấu giành độc lập cho nước họ khỏi tay ngoại bang. Trước hết là tranh đấu chống Pháp, sau đó là Nhật, rồi đến Mỹ. Những người Mỹ sinh vào thời hậu chiến (sau thế chiến 2) sẽ nhớ là họ cứ được nhắc nhở mãi Hồ Chí Minh là George Washington của Việt Nam, và ông ta yêu mến Hiến Pháp Hoa Kỳ và đã dùng bản hiến pháp này làm nền tảng mô phỏng hiến pháp của ông ta, và chỉ muốn giành độc lập cho Việt Nam.

Sau đây mới là sự thật

Tất cả những kẻ độc tài cộng sản trên thế giới đều là những kẻ côn đồ ngông cuồng, thần thánh hóa cá nhân, tham quyền, khát máu. Hồ Chí Minh cũng thế. Hắn thủ tiêu các đối thủ, tra tấn biết bao nhiêu người Việt vô tội mà chỉ có trời mới biết chính xác được bao nhiêu người, và đe dọa hàng triệu người để họ phải cầm súng ra trận cho hắn — phải, cho hắn và cho đảng cộng sản Việt Nam đẫm máu, và được một tên sát nhân “vĩ đại” nhất mọi thời đại khác yểm trợ: Mao Trạch Đông. Nhưng những kẻ ngu ngốc về đạo lý tại Hoa Kỳ lại cứ hô to “Ho, Ho, Ho Chi Minh” trong các cuộc biểu tình chống chiến tranh và gọi Hoa Kỳ là những kẻ giết người — “Hey, Hey, LBJ, hôm nay ngươi giết được bao nhiêu trẻ con?”

Đảng cộng sản Việt Nam không đánh Mỹ để giành độc lập cho Việt Nam. Mỹ không bao giờ muốn kiểm soát người dân Việt, và có một trường hợp tương tự để chứng minh điều đó: Chiến Tranh Triều Tiên. Mỹ có đánh cộng sản Triều Tiên để kiểm soát Triều Tiên hay không? Hay là 37,000 người Mỹ bỏ mạng tại Triều Tiên để người dân Triều Tiên được hưởng tự do? Ai đã (và vẫn là) người có tự do hơn — một người Triều Tiên sống dưới chế độ cộng sản Triều Tiên ở Bắc Triều Tiên hay một người Triều Tiên sống tại nơi mà Hoa Kỳ đã đánh bại cộng sản Triều Tiên?

Và ai đã là người có tự do hơn ở Việt Nam — những người sống ở miền Nam Việt Nam không cộng sản (dù là với tất cả các khuyết điểm của chế độ đó) hay những người sống dưới chế độ cộng sản của Ho, Ho, Hồ Chí Minh ở Bắc Việt Nam?

Hoa Kỳ tranh đấu để giải phóng các nước, không phải để cai trị họ. Sự thật là, chính đảng cộng sản Việt Nam chứ không phải Hoa Kỳ, mới là những kẻ muốn kiểm soát người dân Việt. Nhưng lời dối trá lại được tuyên truyền lan rộng khắp nơi và hiệu nghiệm đến mức đa số mọi người trên thế giới — trừ những người Mỹ hậu thuẫn cho cuộc chiến đó và thuyền nhân người Việt và những người Việt khác khao khát tự do — cứ tin rằng Hoa Kỳ nhập trận là để lấy kẽm, tungsten, và để thành lập cả một “đế quốc Mỹ” giả tưởng trong khi cộng sản Việt Nam thì tranh đấu cho tự do của người Việt.

Tôi ghé đến “Bảo Tàng Viện Chứng Tích Chiến Tranh Việt Nam” — tòa nhà triển lãm các hình ảnh chống Mỹ cao ba tầng của đảng cộng sản. Chẳng có gì để tôi phải ngạc nhiên — tôi chẳng ngạc nhiên vì không có đến một chữ chỉ trích cộng sản Bắc Việt hoặc Việt cộng, không có đến một chữ về việc đe dọa mạng sống của mọi người khắp nơi nếu họ không chiến đấu cho cộng sản, không có đến một chữ về những người liều mạng để vượt thoát bằng thuyền, thà chịu nguy hiểm bỏ mạng ngoài biển cả, vào bụng cá mập, hoặc bị hải tặc tra tấn hoặc hãm hiếp tập thể, còn hơn sống dưới chế độ cộng sản đã “giải phóng” Nam Việt Nam.

Điều cũng không có gì đáng ngạc nhiên là không thấy có khác biệt gì mấy giữa lịch sử Chiến Tranh Việt Nam do Đảng cộng sản Việt Nam kể lại với lịch sử cuộc chiến đó mà hầu như sinh viên nào cũng sẽ được nghe kể lại từ hầu như bất cứ giáo sư nào tại bất cứ trường đại học nào ở Mỹ Châu, Âu Châu, Á Châu, hoặc Châu Mỹ La Tinh.

Tôi sẽ kết thúc bằng đề tài tôi đã bắt đầu — người Việt. Đã đến thăm Việt Nam thì không thể không mang ấn tượng tốt đẹp về người dân nước này. Tôi hy vọng tôi còn sống để thấy ngày người dân Việt Nam, được giải phóng khỏi những lời dối trá của cộng sản hiện vẫn lan tràn trong đời sống hàng ngày của họ, hiểu rằng mỗi mạng người Việt hy sinh trong cuộc chiến chống Mỹ đều bị phí phạm vô nghĩa, là thêm một mạng người nữa trong số 140 triệu sinh mạng bị đem ra hy sinh trước bệ thờ tên giả thần khát máu nhất trong lịch sử: Chủ Nghĩa cộng sản.

Dennis Prager hiện có một chương trình truyền thanh thính giả đàm thoại (Talk Show) hàng ngày trên đài KRLA tần số 870AM bao gồm vùng Los Angeles và Orange County. KRLA liên hợp với 140 đài khác trên toàn quốc Hoa Kỳ. Ông viết xã luận hàng tuần, là tác giả của bốn cuốn sách và là sáng lập viên của Đại Học Prager.

Triết Học Đường Phố, Blog

Trí Nhân Media.com

http://www.trinhanmedia.com/2015/02/dennis-prager-chuyen-i-tham-viet-nam.html


Diễn Đàn online VN-SHARE-NEWS là diễn đàn của những người Việt Nam có cùng quan tâm và tham gia vận động dân chủ cho Việt Nam; dùng để trao đổi thông tin, chia sẻ quan điểm, thảo luận những vấn đề liên quan đến VN, đặc biệt trong lĩnh vực tự do, dân chủ, dân tộc và nhân quyền; trong tinh thần tương kính, hòa nhã, tôn trọng mọi khác biệt.

 

      

oooooOOooooo
28.1.15 Chân dung Quyền lực

Chỉ mới bắt đầu vài phóng sự tại quê nhà Quảng Ngãi, độc giả đã rõ, cha con Bí thư Tỉnh ủy Nguyễn Hòa Bình đã dùng thủ đoạn dựng các công ty ma, lập dự án, chiếm đoạt làm của riêng hàng trăm héc ta đất của dân nghèo rồi phân lô rao bán, thu về hàng nghìn tỷ đồng bất chính, mua cả chục căn nhà mặt tiền, biệt thự, căn hộ cao cấp tại trung tâm thành phố Hà Nội. Sau khi hút cạn máu dân nghèo Quảng Ngãi, ông vọt lên Hà Nội với chức vụ mới là Viện trưởng Viện KSND Tối cao quyền lực hơn, có thể dễ dàng vơ vét hơn... Trong khi gia đình ông hưởng thụ cuộc sống đế vương tại Hà Nội, hoàn cảnh những người dân nghèo Quảng Ngãi hiện nay ra sao?

Càng tìm hiểu, chúng tôi càng quặn thắt đến nao lòng, càng thương những mảnh đời đói khổ càng căm hận những quan tham, không những không biết lo cho người dân địa phương, mà trái lại, dùng mọi thủ đoạn để vơ vét, hút cạn máu dân nghèo. Vẫn còn đó, trong năm 2015 này chứ không phải hàng chục năm về trước những hình ảnh cơ cực, bất hạnh của người dân nơi đây. Lớp lớp dân oan Quảng Ngãi về Thủ đô khiếu kiện vì mất đất, mất nhà, những cụ già đã ngoài 80 vẫn còn phải vất vả mưu sinh, những em nhỏ không có trường để học, những mái nhà lụp xụp thiếu trước hụt sau... Nước mắt lưng tròng, chúng tôi chỉ biết nhìn lên trời gào thét, hỡi ông trời, liệu ông có mắt?

Xin giới thiệu với độc giả bài viết “Người bán khoai lang” của blogger “Tình yêu và Hy vọng” được viết vội trong một chuyến từ thiện về quê nhà Quảng Ngãi những ngày đầu năm 2015. Hình ảnh người phụ nữ bán khoai lang vụt qua bên vệ đường đã gợi lên những cảm nhận sâu lắng của tác giả về hoàn cảnh dân nghèo nơi đây, họ đã bị gia đình ông Bí thư Tỉnh ủy Nguyễn Hòa Bình dìm xuống tận cùng của xã hội ngay trước mắt chính quyền địa phương với sự lạnh lùng đến vô cảm...

 

      

oooooOOooooo

Người bán khoai lang

Giữa cái rét cắt da cắt thịt của trời đồng, tôi bắt gặp hình ảnh một phụ nữ ngồi co ro bán bó khoai lang. Không phải ngọn khoai lang về luộc hay nấu canh nhưng là bó rau lợn. Chuyện cũng chẳng có gì nếu xảy ra cách đây 5 hoặc 10 năm về trước. Nhưng, đây là năm 2015, hình ảnh này vẫn con trên dải đất Việt Nam, đặc biệt xảy ra với người Kinh ở vùng Quảng Ngãi.

Về với vùng quê Quảng Ngãi trong chuyến từ thiện, chiếc xe vụt nhanh vượt qua người phụ nữ ngồi bên vệ đường. Không biết phải gọi là bà hay chị? Gọi là gì cũng khó vì con người nơi đây cơ cực và già hơn so với tuổi. Vả lại, xe đi quá nhanh khiến tôi chỉ có thể ngó lại nhìn mà không kịp ghi lại tấm hình về người phụ nữ.

Người phụ nữ co ro bên vệ đường với chiếc nón lá tơi tả. Chiếc nón chẳng thể giúp chị ấm được trong con mưa phùn gió bấc nên chị phải mang trên mình chiếc áo mưa. Chiếc áo mưa màu trắng nhưng thực ra là một mảnh hình vuông không thể che chắn được cơn gió lùa ùa vào đùa giỡn với da thịt chị. Chị ngồi đó run run, mặt cúi gằm bên rổ rau lang chừng mươi bó. Chắc chị đã đi từ rất sớm nên giờ đây chỉ còn từng đó. Những cọng rau lang già khú đế lợn cũng chả thèm ăn. Nếu muốn chúng ăn về phải băm nhỏ trộn với cám thì may ra mới vừa lòng con heo. Nghĩ đến đây, tôi lại nhớ đôi bàn tay chai sần của mẹ mình vì việc thái khoai lang.

Thực ra, giờ quê tôi không còn trồng khoai lang nhiều mà chỉ còn trồng khoai tây và rau vụ đông. Nhưng cách đây 13 năm về trước, khoai tây thì hiếm mà khoai lang thì nhiều. Những cánh đồng khoai lang bạt ngàn vào vụ đông được người nông dân vun trồng để kiếm thêm thu nhập. Củ to dành cho bữa ăn sáng, củ nhỏ để nuôi lợn. Nhà nào có lợn con thì mua củ nhỏ về nhử lợn - nghĩa là tập cho chúng ăn trong những ngày đầu tiên đến khi xuất chuồng cho thương lái. Cả dây lang cũng vậy, nhiều quá chẳng ai ăn mà đem bán để nuôi lợn nuôi gà.

Ngày đó, để có được những bó khoai lang đi chợ, từ chiều hôm trước mẹ và chị tôi đã phải tất bật ra đồng cắt dây rồi đem về nhà tối bó - hay còn gọi là làm hàng. Làm hàng không khéo thì không thể bán được. Cứ thế, mẹ và chị bó rau lang thành từng bó đến 12 thậm chí 1 giờ sáng. Bó xong xếp lại và tưới nước để rau tươi chuẩn bị cho buổi chợ sớm mai.

Ngày từ tơm tởm sáng, mẹ và chị đã dậy để xếp những bó rau lên xe thồ để lên thành phố bán. Phải lên phố chứ ở quê ai mua vì nhà ai cũng có. Cứ thế, hai mẹ con đi trong mưa phùn giá rét miễn sao tới nơi kịp khi trời sáng. Ngủ trưa chật thì coi như mang rau về. Chị lái xe thồ còn mẹ thì đẩy. Việc đi bộ trên quãng đường dài với xe rau nặng đã làm cả hai toát mồ hôi trong cái rét căm căm của trời đông. Song, khi dừng lại, cả hai run lên bần bật bởi cái rét của khí trời thêm cái rát do những giọt mồ hôi dẫn độ trong thân. Bán hết, cả hai quốc bộ về nhà chuẩn bị cho buổi chợ tiếp theo.

 

 

Người bán khoai lang bên vệ đường Quảng Ngãi

 

Công việc chuẩn bị là như thế. Những xe thồ chất ngất rau lang này đã làm cho đôi bàn tay của mẹ và chị đen xì. Đen xì vì nhựa bám che khuất làn da thâm tái vì lạnh.

Đó là chuyện của 13 năm trước, còn bây giờ, quê tôi chẳng còn ai nuôi lợn thủ công thế nữa. Hình ảnh vụ khoai đông xanh mướt với những luống khoai lang trải dài cũng đã mất. Những người phụ nữ bán khoai lang giờ cũng xa vắng. Ấy vậy, tới tận bây giờ, đầu năm 2015, tôi lại bắt gặp hình ảnh này tại vùng quê Quảng Ngãi.

Người phụ nữ co ro bên những bó khoai lang già nua mong kiếm chút tiền về lo cho gia đình. Đi xa xa một chút, tôi lại thấy ruộng khoai ngứa xanh ngắt được trồng để nuôi lợn. Hình ảnh này quê tôi cũng không còn. Ấy vậy, nơi đây vẫn còn nhiều lắm. Người dân vẫn còn phải bán khoai ngứa, khoai lang để kiếm từng bạc lẻ. Ôi phụ nữ Việt Nam! Năm 2015 rồi mà vẫn còn những hình ảnh thế này!

Tò mò, tôi hỏi sao có hình ảnh như vậy tại vùng quê cách mạng này. Một người bạn cho biết:

Chính quyền nơi đây vô tâm lắm. Họ chỉ chăm lo cho mình, còn người dân thì sống chết mặc bay. Họ sống trong những ngôi nhà khang trang bên cạnh những hộ dẫn kiếm ăn từng bữa. Quả là người ăn không hết kẻ lần không ra. Cách mạng mà làm chi khi đã đến thế kỷ 21 đã qua năm thứ 15.”

Quả thật, vùng quê nghèo này chỉ còn 8-3-1-6 và 1-10. Tại sao vậy? Những ai có sức vóc thì kéo nhau vào thành phố, ra Hà Nội hay vào nam kiếm sống cả rồi chỉ còn lại phụ nữ, trẻ em và người già. Họ ra đi đến xứ người kiếm manh áo hạt cơm và tương lai cho con em mình. Họ ra đi để chắt chiu từng bạc lẻ gửi về để dựng nhà dựng cửa cũng như lo cho con cái ăn học. Vùng quê im vắng thiếu sức sống vì sức sống đã bay đi tận trời xa. Đôi mắt của những con người nơi đây trở nên xa xăm. Xa xăm như chính tương lai mịt mờ mà người dân nơi đây, và trên hết, người phụ nữ vẫn lầm lũi với đôi bàn tay đen đủi do nhựa khoai chẳng có cơ hội làm đẹp cho chính mình. Dầu vậy, họ vẫn đẹp hơn nhiều minh tinh màn bạc nào đó vì họ sống bằng chính sức lực và đôi tay của mình. Đôi tay đen nhưng lòng vẫn trắng trong như hoa huệ sớm mai lung linh dưới nắng!

Kính gửi quý độc giả một số hình ảnh để thấy cuộc sống của bà con Quảng Ngãi dưới sự chăn dắt quan tham - Bí thư Tỉnh ủy Nguyễn Hòa Bình:

 

 

Hàng trăm héc ta đất của người dân đã bị cha con ông
Bí thư Tỉnh ủy Nguyễn Hòa Bình cướp trắng



Lớp lớp dân oan Quảng Ngãi đã nhiều năm đi khiếu kiện
vì mất đất, mất nhà bởi các dự án của cha con ông
Bí thư Nguyễn Hòa Bình



Một góc mặt tiền căn biệt thự BL09-02 của ông
Nguyễn Hòa Bình tại Vinhomes Riversides, Hà Nội



Gia đình anh Đỗ Văn Quý, Hội Đức, Sơn Tịnh, Quảng Ngãi
phải cố gắng làm thuê lắm mới dựng được một căn nhà
vách đất để che nắng che mưa



Các cháu nội tên Phúc, Đức của ông Viện trưởng Nguyễn Hòa Bình
chơi đùa với iPhone, iPad trong chăn ấm nệm êm



Cháu Đỗ Xuân Mến, con trai anh Đỗ Văn Quý, đang tuổi cần được đầy đủ,
vậy mà bữa ăn của cháu cũng chưa được như cơm thừa canh cặn
của cháu Viện trưởng VKSND Tối cao Nguyễn Hòa Bình



Thường xuyên những buổi tiệc tại nhà hàng sang trọng của ông
Nguyễn Hòa Bình và cô con dâu Hoàng Minh Thủy



Một ngày của chị Phan Thị Sơn, Bình Sơn, Quảng Ngãi bắt đầu
từ lúc trời còn chưa sáng và chỉ về nhà nghỉ ngơi khi đã bảy giờ tối...



Căn biệt thự AD01-58 của Nguyễn Việt Anh, cậu quý tử
sinh năm 1990 của Viện trưởng VKSND Tối cao Nguyễn Hòa Bình



Căn nhà của bà Châu Thị Bưởi, Hương Nhượng Bắc,
Quảng Ngãi dột nát, vách đất cũng xiêu vẹo và sạt lở



Con dâu ông Viện trưởng Nguyễn Hòa Bình thường xuyên
tháp tùng bố chồng trong những chuyến xuất ngoại



Bà Nguyễn Thị Lan, huyện Bình Sơn, Quảng Ngãi còn
phải vất vả kiếm ăn từng bữa với việc làm thuê, làm mướn



Nguyễn Tuấn Anh, con cả ông Viện trưởng Nguyễn Hòa Bình
ăn chơi phè phỡn cùng nhân tình Nguyễn Ngọc Diệp



Bà Phạm Thị Liền, Đông Yên 3, Bình Sơn, Quảng Ngãi
tuổi đã xế chiều vẫn còn phải vất vả bữa đói bữa no



Phu nhân Viện trưởng Nguyễn Hòa Bình nâng ly chúc tụng thành quả



Bà Châu Thị Bưởi vất vả lên rừng kiếm từng miếng cơm



Hai cháu nội Phúc và Đức của ông Bí thư Tỉnh ủy
Nguyễn Hòa Bình được hưởng nền giáo dục Quốc tế



Các em nhỏ miền núi Tây Trà, Quảng Ngãi không đủ cơm ăn áo mặc



Bà Phùng Nhật Hà, vợ ông Viện trưởng Nguyễn Hòa Bình
bận rộn với những buổi tiệc thâu đêm



Gia đình anh Đỗ Văn Quý cơ cực với những bữa ăn thường xuyên thế này

 

Nguồn: Tình yêu và Cuộc sống

 

    

 

oooooOOooooo

Chơi để quên đi nghèo khó
Posted by admin on January 28th, 2015
GS Nguyễn Văn Tuấn
28-01-2015




Ông Phan Đăng Long – Phó Trưởng Ban Tuyên giáo
Thành ủy Hà Nội. Nguồn: báo Soha

 

Thỉnh thoảng các quan chức tuyên giáo cũng có vài câu nói đáng chú ý. Ví dụ như trả lời câu hỏi về bắn pháo bông có lãng phí quá chăng, một vị quan chức tuyên giáo Hà Nội nói rằng bắn pháo bông là một cách phục vụ cho toàn dân chứ không phải chỉ cho người giàu có. Còn đối với người nghèo, vị này nói thêm rằng bắn pháo bông “giúp [người nghèo] quên đi cái nghèo, cái khó”. Bắn pháo bông nói cho cùng là một trò chơi. Câu nói của vị quan chức đó có thể hiểu rằng trò chơi giúp cho người nghèo khó quên đi thực tại của mình. Suy nghĩ của ông làm nhiều người ngạc nhiên.

Không ai có thể phủ nhận rằng ở VN mình có rất nhiều người nghèo. Nếu chỉ quanh quẩn ở Quận I Sài Gòn thì chắc ai cũng thấy VN bây giờ giàu có quá. Nhưng đó là ấn tượng “phồn hoa giả tạo” – mượn chữ của giới tuyên giáo ngày xưa. Thật vậy, chỉ cần 5 phút ra ngoài khu đó thì sẽ thấy một bức tranh hoàn toàn khác, rất Việt Nam và rất thật. Người dân bươn chải để kiếm sống qua ngày. Trong khi có đại gia bỏ ra vài tỷ đồng để mua cái túi xách tay, thì 50% người dân phải sống với thu nhập 40,000 đồng/ngày. Đi về vùng quê sẽ thấy buồn hơn nữa. Những căn chòi xiêu vẹo, những đứa trẻ còi cọc, đen đúa, ở truồng, ánh mắt lơ láo trông thật thắt lòng. Chả thế mà có nhạc sĩ từng thốt lên câu “Bao năm giải phóng như thế này phải không anh”.

Câu hỏi đặt ra là những người nghèo khó đó có quên đi thực tại nếu họ xem bắn pháo bông? Nếu họ ở gần cầu Nhật Tân thì may ra (chỉ “may ra” thôi) họ có thể thấy pháo bông. Nhưng nếu họ ở xa cầu Nhật Tân thì làm sao họ có thể thấy mà quên đi cái nghèo của mình? Nhưng hãy giả định rằng 50% những người nghèo ở Hà Nội nhìn thấy pháo bông, và giả định một cách xa xỉ rằng những màu mè của pháo làm cho họ quên đi nỗi buồn nghèo khổ, thì sau đó là gì? Sau niềm vui khi được thấy pháo bông là gì? Dĩ nhiên, sau vài phút hân hoan, họ sẽ quay về với thực tế của cuộc sống: phải bươn chải kiếm tiền nuôi con và nuôi chính bản thân họ. Pháo bông không làm cho họ giàu hơn đồng nào. Như vậy, bắn pháo bông đâu có giúp gì cho họ về lâu dài; nó chỉ là trò chơi đắt tiền của người có quyền có chức muốn chứng tỏ rằng Hà Nội là thủ đô, là niềm tự hào của cả nước. Xem ra, cách thức thể hiện đó tốn tiền quá. Ai tự hào thì tôi không biết, chứ chắc chắn một điều là 99.9% dân số VN không có dịp xem pháo bông Nhật Tân.

Cái câu nói “ru ngủ” người nghèo của vị quan tuyên giáo làm tôi nhớ đến chuyện xưa. Xưa kia, giới tuyên truyền thường hay lớn tiếng nói chuyện cao đạo rằng bọn Mỹ Ngụy chúng ra sức ru ngủ thanh niên miền Nam bằng cách tạo ra một nền văn hóa ham vui và lai căng. Họ nói rằng mấy phim ảnh và sách báo tràn lan ở miền Nam là chỉ nhằm ru ngủ và dẫn thanh niên đi tìm một lối thoát, lẩn trốn trước thời cuộc.

Xem ra những gì họ lớn tiếng phê phán miền Nam trước kia được lặp lại y chang và với cường độ cao hơn ngày nay. Ngày nay, bật tivi lên chúng ta chỉ thấy toàn là những phim tình cảm sướt mướt của Hàn Quốc, thậm chí của Tàu. Vào nhà sách thì thấy rất nhiều sách tử vi, bói toán, phong thủy, sách dịch từ mấy cuốn tiểu thuyết ba xu ở nước ngoài. Sách nghiêm chỉnh của các tác giả VN thì rất khó tìm. Hệ quả là thanh thiếu niên ngày nay chạy theo những cái bóng, cái mốt của Hàn và Tàu. Một Võ Tắc Thiên tàn ác và ghê rợn trở thành thần tượng của thanh niên VN, đến nỗi họ bắt chước cách ăn mặc và nói năng của mụ Võ. Thật khó tin vào mắt mình khi thấy cảnh tượng thiếu niên đứng chờ các ngôi sao nhạc của Hàn Quốc, và khóc như mưa khi được thần tượng họ... cầm tay! Tôi đoán những thanh thiếu niên này chẳng biết đất nước mình đang bị đe dọa bởi cái nước đã sản sinh ra cái mụ mà họ thần tượng. Họ cũng chẳng ý thức rằng VN bây giờ là một trong những nước nghèo trên thế giới và nợ nần chồng chất, và chỉ làm gia công cho người ta làm giàu.

Ai chịu trách nhiệm về sự sao lãng đó, nếu không là những du nhập các giá trị văn hóa lai căng từ ngoài? Đáng lý ra những người có trách nhiệm phải tìm cách để vực dậy tiềm năng của dân tộc, để gieo niềm tự hào văn hóa và lịch sử dân tộc, thì người ta lại đi tìm những biện pháp màu mè và xa hoa để xoa dịu, để làm quên đi thực tại nghèo khó trong vài phút. Phải công nhận rằng đó là một “biện pháp” vừa đắt tiền lại vừa tối dạ.

Nguồn: FB Que Diêm

      

Bấm vào đây để in ra giấy (Print)

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Hình nền: Huy Hiệu Lục Quân VNCH (trái), Điện Capitol tại thủ đô Mỹ, BĐVN (giữa), & Bộ Huy hiệu các đơn vị Bộ Binh QLVNCH (phải). Để xem được trang web này một cách hoàn hảo, máy của bạn cần được trang bị chương trình Microsoft Internet Explorer (MSIE) Ấn bản 9 hay cao hơn hoặc những chương trình Web Browsers làm việc được với HTML-5 hay cao hơn.

 

Nguồn: Internet E-mail by Việt Nhân chuyển

 

Đăng ngày Thứ Ba, February 17, 2015
Ban Kỹ Thuật Khóa 10A-72/SQTB/ĐĐ, ĐĐ11/TĐ1ND, QLVNCH

Địa chỉ liên lạc: P.O. BOX 5055. Springfield, VA 22150
Điện thoại: 703-238-0736
E-Mail: lienlaclhccshtd@lhccshtd.org
Trở lại đầu trang