Bấm vào đây để in ra giấy (Print)
I/ Các giá trị
Đối với tôi thì điều mà làm tôi luôn chống lại những người Cộng sản đó
là những gian manh, trí trá. Có một số người tại hải ngoại muốn có một
phân định rõ ràng: ai là những người của quốc gia và ai là những người
Cộng sản? Đó là một việc rất khó nếu không muốn nói là không tưởng.
Thực tế thì đại đa số trong chúng ta ai mà chẳng có người quen, hay một
người họ xa, hay là một người thân là đảng viên Cộng sản, như trong gia
đình tôi đây thì ông ngoại tôi là một công chức cấp cao trong bộ máy của
chính quyền Pháp, ông nội tôi là là một chủ đất với rất nhiều người làm
thuê cuốc mướn, nhưng cha tôi lại là một đảng viên Cộng sản. Chính cha
tôi khi còn trai trẻ đã nhận thấy sự bất công đối xử của ông nội tôi với
những người làm công cho gia đình và ông đã nghe theo lời dụ dỗ của
những người csvn đứng lên chống lại chính cha đẻ của mình.
Tôi lớn lên, trong chiến tranh, vì thế cuộc sống luôn thay đổi và mỗi
lần chuyển rời chỗ học tôi thường phải khai lại lý lịch của mình, và khi
viết về thành phần gia đình, mẹ tôi bảo tôi khai là gia đình công chức
nhà nước, ông nội là người làm ruộng có nhiều người làm công.... Đó là
điều dối trá đầu tiên mà mẹ tôi đã cố nhồi nhét cho tôi. Khi tôi hỏi lại
là tại sao lại khai như thế? Vì trong nhà ai cũng biết là cái ngày cải
cách ruộng đất, chính quyền xã đã mang ông tôi ra giữa đình làng cho mọi
người nhiếc mắng đủ điều. Sau đó người ta vu cho ông nội tôi là địa chủ
và đã tịch thu ruộng đất nhà cửa, đồ đạc của ông nội tôi. Cha tôi đã
không thể làm được gì để cứu gia đình trong cơn bách hại này, mặc dù ông
chính là một đảng viên Cộng sản. Đó cũng là điều tôi luôn thắc mắc trong
thời kỳ thơ ấu của tôi. Tôi đã hỏi mẹ và mẹ tôi bảo là vì lúc đó cha tôi
là đảng viên nên phải gương mẫu trong đấu tranh, không thể để tình cảm
làm tổn hại tới đường lối chung của đảng. Khi tôi vặn lại: tại sao lại
nói dối? Mẹ tôi bảo đó là vì quyền lợi của tôi, nếu mà khai ông nội là
địa chủ thì số phận tôi sẽ rất long đong trên bước đường đời, còn nếu
lúc đó cha mà cứu ông thì cả nhà chắc chết! Cha tôi thì quát: trẻ con
biết cái gì mà hỏi.
Khi tốt nghiệp phổ thông với số điểm thi cao trong kỳ thi vào đại học,
tôi được đi du học tại Balan nhờ vào bản lý lịch khai man. Và một phần
nhỏ nữa là nhờ vào những gì mà cha tôi đã làm cho Cộng sản.
Bây giờ tôi là người trưởng thành và có thể lý giải một số chuyện trong
cuộc đời này, tôi đã hiểu tại sao mẹ tôi phải khai man lý lịch của tôi
và tại sao những bà mẹ Việt Nam khi đứng cạnh đứa con trưởng thành và
THÀNH ĐẠT, thay vì kiêu hãnh và tự hào mà thường thì họ khóc.
Họ khóc vì những đứa con thành đạt của họ khi nói với họ những lời cảm
tạ, những tình cảm yêu thương đối với mẹ mình không hề biết rằng, để
giúp con mình thành đạt người mẹ đã phải làm những điều bất chính trái
với lương tâm, họ khóc vì những cay đắng đã đến với họ mà không thể nói
được với con mình, họ khóc vì buồn tủi... khóc vì sự oan nghiệt của cuộc
đời này.
Điều này thật dễ dàng nhận ra khi quan sát các cuộc tuyên dương, vinh
danh công trạng các chiến sĩ công an, các cán bộ “vì dân” của chính
quyền Cộng sản Bắc Việt. Thường thì khi vinh danh một ai đó các MC hay
lôi những người mẹ vào phỏng vấn và chúng ta thấy sau vài câu ấp úng
nước mắt các mẹ tuân trào như mưa hệt như câu “tôi đi giữa phố phường.
Chỉ thấy nước mắt sa trên nền cờ đỏ” như lời thơ của Trần Dần mà thôi.
Bây giờ tôi đã thấy rất rõ: con đường công chính trên mảnh đất này là
một con đường rất hẹp và có rất nhiều chông gai.
Và để được coi là người THÀNH ĐẠT thường thì đa số trong họ trước đó
phải làm rất nhiều việc đồi bại.
Một người điển hình về tấm gương của những người suy đồi là Hồ Chí Minh.
Để được khoác lên mình danh hiệu thơm tho cao quý “CHA GIÀ DÂN TỘC” Hồ
Chí Minh đã làm quá nhiều chuyện đồi bại và những ví dụ về sự đồi bại
của y không cần phải dẫn chứng trong bài viết này.
Một thực tế mà ai cũng biết là Hồ Chí Minh là người tài trí. Những người
như thế mà phải làm những chuyện đồi bại để leo lên đỉnh cao danh vọng
là vì sao?
Câu trả lời là vì họ là những người đi ngược lại với những giá trị dân
tộc mà thôi. Họ lợi dụng các giá trị của dân tộc để mưu cầu những lợi
ích riêng tư, vì đặt lợi ích riêng tư lên trên hết nên họ sẵn sàng làm
mọi chuyện đồi bại miễn sao mục đích của họ thành đạt mà thôi. Cha tôi
cũng không là trường hợp ngoại lệ.
Trong xã hội Việt Nam tôi không được coi là người THÀNH ĐẠT, bởi lẽ tôi
luôn luôn tôn trong các giá trị văn hóa, tâm linh của dân tộc và vì thế
tôi luôn luôn là người đi ngược lại với các suy nghĩ và tư duy trước hết
là những người thân trong gia đình (cha, mẹ) sau nữa là những người
trong cộng đồng và xã hội.
II/ Văn hóa dân tộc và cuộc chạy
trốn?
Văn hóa dân tộc là gì? Không có câu trả lời rõ ràng cho vấn đề này.
Nhưng trên hết dù là người chống lại các giá trị văn hóa, tâm linh dân
tộc hay người bảo vệ các giá trị đó, tất cả những người nói tiếng Việt,
sinh ra ở mảnh đất Việt đều là những người kế thừa di sản văn hóa của
cha ông, nhưng những thăng trầm của lịch sử đã biến dân tộc Việt thành
hai quốc gia trong một dân tộc với những hận thù và khác biệt ý thức sâu
sắc. TỪ ĐÓ XÃ HÔI VIỆT NAM SINH RA NHỮNG TÂM LÝ TRÁI NGƯỢC NHAU:
a/ Tâm lý vong bản
Vong là rời xa, rời xa mà vẫn phải liên hệ tức là vong, như chính phủ
lưu vong, là chính phủ của dân tộc có nhiều liên hệ với dân tộc, quốc
gia nhưng lại nằm trên một đất nước khác.
Vong bản là tâm lý của người Việt hiện nay, mặc dù sinh ra và lớn lên
tại đất Việt, nói tiếng mẹ đẻ là tiếng Việt nhưng lại luôn có những hành
động, ngôn ngữ để mọi người chú ý và ngạc nhiên về nguồn gốc xuất thân
của anh ta.
Giới trẻ Việt ngày nay ở trong nước thích nói tiếng Anh bồi, thích nghe
nhạc, và hát nhạc ngoại quốc, thích bắt chước ăn mặc và hành động như
các ngôi sao điện ảnh của Mỹ, Hàn Quốc.... Họ muốn gửi một thông điệp
đến mọi người xung quanh “Tôi không giống người Việt Nam”. Lớn hơn lên
một chút những thanh thiếu niên tốt nghiệp các trường đại học và có một
chút tự trọng họ sẽ tìm cách làm việc tại các công ty của nước ngoài
đóng tại Việt Nam hay tìm cách làm việc tại nước ngoài. Đối với họ các
giá trị dân tộc, văn hóa... là những thứ xa lạ, mục tiêu của họ là kiếm
tiền, kiếm tiền và kiếm tiền, nói theo kiểu của Nguyễn Ngọc Ngạn là làm
business.
Những người không có tự trọng thì tìm cách lọt vào các cơ quan công
quyền mặc dù cái giá để phải vào những cơ quan công quyền này có khi đến
cả trăm triệu đồng nhưng họ biết rất rõ những cái mà họ sẽ nhận được
trong tương lai, đó là trở thành những kẻ cai trị lại chính đồng bào của
dân tộc mình.
Nói là cai trị vì phương cách lãnh đạo và điều hành đất nước của chính
quyền hiện nay giống hệt cách cai trị của chế độ phong kiến quân chủ hôn
quân.
Cai tức là cai quản như quản ngục cai quản tù nhân, trị là thống trị.
Cai trị là cai quản để thống trị. Trong chế độ phong kiến có minh quân
và hôn quân. MINH QUÂN như các bậc vua thời LÝ-TRẦN, hôn quân như các
vua thời hậu Lê. Trong chế độ độc tài mà minh quân làm chủ thì đó vẫn là
phúc cho dân tộc, nếu là hôn quân u ám thì thực là đại họa cho đất nước.
Thế cho nên thời Tổng Thống Ngô Đình Diệm, tuy mầu sắc của chính phủ có
ngả sang chế độ độc tài nhưng vẫn để lại đầy tiếc thương trong lòng
người dân Nam Việt Nam.
Nói rằng họ là những người không có tự trọng là vì để vào được các cơ
quan công quyền (trừ những trường hợp là con ông cháu cha), tất cả họ
đều phải qua các cuộc thử thách về sự luồn cúi, về trình độ nịnh hót, và
về các kiểu đĩ bợm khác nhau.... Tất cả các việc này đều phải được
khuếch trương bằng tiền, cụ thể là để chứng minh sự đĩ bợm của mình,
đương sự muốn xin việc vào một cơ quan công quyền quan trọng nào đó phải
mời cho được kẻ phê duyệt mình đi ăn nhậu và nếu trong cuộc ăn nhậu đó
lỡ có một tay chơi nào đó muốn chứng tỏ sự ngông cuồng hơn, có ý định
trả tiền có bữa nhậu đó thì đương sự phải quyết tâm gạt phăng hắn đi mà
tranh trả cho bằng được, mà nếu sếp có ngỏ ý thích trò tiêu khiển theo
kiểu trai trên gái dưới thì đương sự phải tỏ ra sành điệu. Có những
trường hợp, các đương sự tranh nhau về một vị trí quyền lực và cùng có
mặt trên bàn nhậu rồi sau đó đã tranh nhau trả tiền, cuộc tranh giành đó
trở thành một trận mưa tiền tới tấp đến chủ quán. Sự đồi bại đã trở
thành trò lố bịch chỉ vì một mục tiêu duy nhất là “Tôi có khả năng trả
giá cho chiếc ghế quyền lực đó cao hơn”. Đó là một trong những tiêu chí
để một đương sự có thể được chấp nhận vào cơ quan công quyền đang xảy ra
tại Việt Nam.
Tiêu chí vào các cơ quan công quyền có thể xếp theo thứ tự ưu tiên như
sau:
1/ Bằng lòng
2/ Bằng tiền
3/ Bằng tình (đối với ứng viên là mỹ nữ thì điểm này có thể được xếp lên
hàng đầu)
4/ Bằng cấp.
Mặc dù trên các phương tiện truyền thông trong nước người ta luôn đề cao
tiêu chí bằng cấp lên đầu tiên nhưng trong thực tế thì bằng cấp là cái
mà các sếp xem cuối cùng mà chỉ có liếc qua thôi. Chính vì thế mà trong
nước nạn bằng giả tràn lan. Vì liếc thì làm sao phân biệt được đâu là
giả, đâu là thật.
Tất cả những điều này đã xảy ra và những thanh thiếu niên có lòng tự
trọng hay không có tự trọng đều đi đến một kết luận chung giống nhau:
Thời thế, thế thời thì phải thế.
Bây giờ chúng ta đi vào tâm lý của tầng lớp trung lưu tại Việt Nam, tức
là tầng lớp có tiền và có địa vị, tầng lớp này là tầng lớp rất phức tạp,
họ là những người có tiền nhưng có thể không có địa vị, hoặc ngược lại,
hoặc có cả hai thứ.
Đối với những người có chức quyền tại Việt Nam hiện nay thì đa phần họ
xuất thân từ những gia đình chân đất mắt toét (thành phần bần cố nông)
Những người nông dân về bản tính là:
Hiền lành khi bị ràng buộc
Thô lỗ khi tranh giành
Sợ hãi dưới cường quyền
Ngạo mạn khi được đề cao.
Nông dân hay còn gọi là thứ dân trong cách hiểu của KINH DỊCH là tầng
lớp thấp nhất trong xã hội. KINH DỊCH cũng chỉ ra rằng tầng lớp trong xã
hội thì cố định, nhưng con người trong xã hội thì chuyển động có nghĩa
rằng một người nông dân có thể thay đổi tính cách của mình để trở thành
một trí thức thực sự có ích cho dân cho nước, thậm chí có thể trở thành
VUA như trường hợp VUA QUANG TRUNG. Tất nhiên khi Nguyễn Huệ làm VUA ông
đã gột sạch bản tính nông dân của mình và không còn là nông dân nữa.
Tuy nhiên chủ nghĩa Cộng sản lại làm một điều ngược lại là cố định tính
cách con người nhưng lại muốn hoán vị các giai tầng xã hội. Cho nên các
gương mặt của các nhà lãnh đạo Cộng sản thường có những nét thâm hiểm ác
độc, tính cách thì cục cằn gắt gỏng, cau có. Họ không muốn thay đổi tâm
tính, tức là về nguyên tắc họ vẫn là một nông dân xịn nhưng họ lại cố
thay đổi giai tầng xã hội, tức là họ muốn những người trí thức hay những
người có chí khí phải ngu hơn họ. Họ muốn tạo ra một giai tầng xã hội
thấp hơn giai tầng thứ dân. Nói một cách chính xác là tạo ra một lớp
người tù tội, vì như thế những người này mới có cái vẻ ngu xuẩn hơn tầng
lớp thứ dân mà thôi.
Trong nước vẫn lan truyền một câu ca “ếch nhái lên làm người”. Đó là chỉ
về những người này, nhưng tôi cho rằng đó là chỉ là thời thế, đó không
thể là chân lý được.
Và vì thành phần lý lịch như thế nên tính cách của họ là thô tục, bẩn
thỉu, nhỏ nhen, ích kỷ. Họ ý thức được điều đó là xấu xa nhưng không
biết cách sửa nên họ luôn có một tâm lý chối bỏ nguồn gốc của mình, và
che đậy chúng bằng những mỹ từ cùng những lời có cánh.
Chúng ta thấy, khi họ có địa vị chức quyền họ thay hình đổi dạng rất
nhanh, ăn mặc đồ đắt tiền, nói năng hách dịch, đi toàn xe đẹp, nhà xây
ngất ngưởng. Nhưng những thứ đó chỉ là bề ngoài mà không thể làm thay
đổi bản chất thô tục trong lòng họ (chân đất mắt toét). Đó là tâm lý
vong bản đã hình thành rất rõ rệt trong giới quan trường ở VN. Tâm lý đó
đã tạo ra một xã hội nhầy nhụa, bẩn thỉu....
Đối với những người có tự trọng và có tiền ở Việt Nam thì khi đối mặt
với sự nhơ nhớp trong xã hội và khi họ cảm thấy bất lực trước viễn cảnh
của đất nước thì họ thường tìm cách chạy trốn, trước hết là tìm cách cho
con cháu họ chạy ra nước ngoài, sau nữa là họ sẽ tìm cách sống yên ổn
trong một căn nhà đẹp với một khuôn viên yên tĩnh, say sưa nghe những
bản tình ca ủy mị, và nhâm nhi những giọt rượu ngon của ngoại quốc.
VÌ KHÔNG TÌM THẤY NHỮNG GIÁ TRỊ CỦA VĂN HÓA VÀ TÂM LINH CỦA DÂN TỘC NÊN
HỌ TÌM ĐẾN CON ĐƯỜNG VONG BẢN NHƯ MỘT CUỘC CHẠY TRỐN CHÍNH NHỮNG GIÁ TRỊ
TINH THẦN CỦA CHÍNH BẢN THÂN MÌNH MÀ NGUỒN GỐC XUẤT PHÁT TỪ VĂN HÓA, TÂM
LINH CỦA CÁC BẬC TỔ PHỤ BÁCH VIỆT ĐÃ XÂY CẤT VÀ TẠO DỰNG QUA RẤT NHIỀU
THẾ HỆ!
b/ Tâm lý bảo thủ các giá trị
văn hóa và tâm linh.
Có thể nhận thấy rất dễ dàng là cộng đồng người Việt tại hải ngoại là
những người nhiệt huyết nhất trong công cuộc bảo vệ những giá trị văn
hóa, tâm linh của dân tộc.
Thường thì để khoe các giá trị văn hóa của một dân tộc thì những nghệ sĩ
của dân tộc đó đem lời ca tiếng hát, âm hưởng đất nước của mình đi trình
diễn trên xứ người. Nhưng đối với Việt Nam thì ngược lại. Những công dân
có quốc tịch Mỹ, Pháp, Đức... lại về Việt Nam để hát những bài tình ca,
dân ca trữ tình của đất Việt và họ đã được hoan nghênh nhiệt liệt. Sau
đây là những so sánh:
1/ Đàm Vĩnh Hưng khi hát tại sân khấu tròn ở Sài Gòn, giá vé năm
2010 từ 90 đến 100 ngàn
2/ Ca sĩ hải ngoại khi hát tại sân khấu tròn tại Sài Gòn, giá vé từ 500
dến 700 ngàn
Như vậy các ca sĩ từ ngoại quốc về Việt Nam hát những bài tình ca quê
hương có giá gấp 5 lần các ca sĩ trong nước?
Ca sĩ Chế Linh biểu diễn ở Hà Nôi có giá 3 triệu đồng/vé.
Dẫn chứng này cho thấy cộng đồng người Việt hải ngoại là những người bảo
vệ các giá trị văn hóa tốt hơn những người làm văn hóa trong nước. Điều
này có làm xấu hổ những cán bộ làm công tác văn hóa văn nghệ trong bộ
văn hóa không? Tôi không nghĩ là không, vì như dư luận trong nước đã nói
là họ bị đứt dây thần kinh xấu hổ.
Như các bạn đã thấy khi các ca sĩ hải ngoại hướng tới văn hóa và những
âm hưởng dân tộc, thì quần chúng đã ủng họ nhiệt liệt. Vậy việc thanh
thiếu niên trong nước thờ ơ với lịch sử dân tộc, thờ ơ với các truyền
thống cổ truyền của dân tộc không bắt nguồn từ bản chất của họ mà cái
chính là có một bức rèm ngăn cách họ với quá khứ, có một thế lực muốn
hủy hại các giá trị văn hóa dân tộc của cộng đồng người VIỆT.
Tuy nhiên chúng ta cũng cần làm rõ thêm một số điểm quan trọng trong
phong trào ca hát cổ võ dòng nhạc quê hương này:
+ Các ca sĩ trong nước thua các ca sĩ ở hải ngoại không phải vì họ kém
tài năng mà vì thể chế chính trị trong nước là một vùng lầy, đa phần các
ca sĩ muốn được hát, hay muốn được lăng xê phải làm “đĩ” trước khi được
lên sân khấu. Tức là các cán bộ văn hóa phải được làm nhục họ trước khi
cho họ biểu diễn.
+ Trong trường hợp môi trường chính trị cởi mở, thông thoáng như môi
trường mà các ca sĩ hải ngoại đang được thụ hưởng thì chắc chắn các ca
sĩ trong nước sẽ biểu diễn tốt hơn rất nhiều.
+Phần lớn các trình diễn của các ca sĩ hải ngoại là các bản dân ca, hoặc
là nhạc trữ tình quê hương do các nhạc sĩ sáng tác ở những năm 50 -60.
Thời điểm này là thời điểm mà tại Việt Nam xuất hiện nhiều biến cố đau
thương: Chia cắt hai miền Nam-Bắc, Tổng Thống Ngô Đình Diệm bị ám sát,
quân đội Mỹ đổ bộ vào Miền Nam, cuộc nội chiến trở nên đẫm máu.... Các
nhạc sĩ đã ghi lại những vết thương tình cảm đó trong các sáng tác của
mình và vì thế các bài hát ở thời đó thường mang âm hưởng rất buồn.
Nhưng đó cũng là một khúc rẽ đau thương của dân tộc.
+Mặc dù đã hơn nửa thế kỷ trôi qua kể từ ngày hiệp định Giơ-ne-vơ chia
cắt hai miền Bắc–Nam nhưng những đau thương của cuộc chiến, cũng như
những đau buồn do thăng trầm của lịch sử vẫn lẫn khuất u ám trong mỗi
tâm hồn người Việt sống tại quê nhà. Âm hưởng u buồn này đeo đẳng, lúc
lên lúc xuống theo nhịp điệu cuộc sống lúc buồn lúc vui của mọi người.
Cho đến khi các ca sĩ hải ngoại trở về và với một tình cảm nhớ nhung quê
hương, với phong điệu tân kỳ của kỹ nghệ âm nhạc tây phương cũng như với
một ý chí giữ gìn nguyên trạng âm hưởng, hồn phách của quê hương. Khi họ
trở về quê nhà, hát lại những bản tình ca thủa nào thì trong lòng những
người dân Việt nỗi buồn đau lại được dâng tràn. Và nhiều người đã khóc.
Tuy nhiên những giọt nước mắt này khác rất nhiều với những giọt nước mắt
của các mẹ đã dẫn ở trên.
Không có ai thích tích tụ những sự đau khổ, buồn rầu trong người, vậy
nên khi các ca sĩ hải ngoại về trình diễn tại quê nhà người ta tranh
nhau mua vé bởi họ muốn tống thoát những đau buồn trong lòng tích tụ
hàng bao nhiêu năm nay. Tình cảm đau buồn lẫn khuất trong tâm hồn họ
được tràn ra khi nghe hát. Sự việc này rất giống như việc bạn đun một
nồi nước, khi sôi tràn cũng là lúc một lượng nước đã thoát ra khỏi nồi.
Những giọt nước mắt của họ là những giọt nước mắt sung sướng vì được
giải thoát, cho dù là một phần rất nhỏ trong tâm hồn.
Thật sự thì khi chúng ta quay về với tổ tiên chúng ta sẽ nhận được nhiều
hơn chúng ta tưởng. Hiện tại thì các ca sĩ hải ngoại là những người như
thế.
Không có ai thích tích tụ những sự đau khổ, buồn rầu trong người, vậy
nên khi các ca sĩ hải ngoại về trình diễn tại quê nhà người ta tranh
nhau mua vé bởi họ muốn tống thoát những đau buồn trong lòng tích tụ
hàng bao nhiêu năm nay. Tình cảm đau buồn lẫn khuất trong tâm hồn họ
được tràn ra khi nghe hát. Sự việc này rất giống như việc bạn đun một
nồi nước, khi sôi tràn cũng là lúc một lượng nước đã thoát ra khỏi nồi.
QUÁ KHỨ LUÔN LÀ MỘT VẾT THƯƠNG TRONG TÂM HỒN. NGÀY MÀ VẾT THƯƠNG ĐÓ CHƯA
ĐƯỢC CHỮA LÀNH NÓ LÀM CHO CHÚNG TA GIỐNG NHƯ NHỮNG CON THÚ BỊ THƯƠNG,
KHÔNG THỂ ĐI XA ĐƯỢC.
Sự phồn vinh, thịnh vượng của dân tộc Việt Nam phụ thuộc vào việc chúng
ta băng bó, chữa trị vết thương trong tâm hồn mỗi người chúng ta!
Viết tại Phát Diệm, ngày 29
tháng 4 năm 2012
Nguyễn Hòa Bình (Bút danh: Hàn Quang Tự)
![]()
Nguồn: Internet E-mail by Lê Dũng, K4-71/SQTB/TĐ, ĐPQ/QL-VNCH chuyển
Đăng ngày Thứ Tư, May 23rd, 2012
Ban Kỹ thuật Khóa 10A-72/SQTB/ĐĐ, ĐĐ11/TĐ1ND,
QLVNCH