Bấm vào đây để in ra giấy (Print)
Qua khỏi Cầu Sơn, Thị Nghè (Hàng
Xanh), gã để chiếc xe đạp từ từ trôi xuống dốc, rồi quẹo vào xóm trên
con đường gập ghềnh những mô đất và những vũng nước dơ bẩn. Gã lắc chiếc
chuông đồng nhỏ treo tòn teng dưới ghi đông xe để báo hiệu cho mọi người
biết, ra mua kẹo kéo, mua vé số hoặc dò số. Đôi khi, theo thói quen,
đang đạp xe trên đường vắng, gã cũng thò ngón tay út xuống cái chuông,
khều cho nó kêu leng keng, chẳng vì mục đích nào cả. Gã chuyên bán kẹo
kéo vé số và số đề. Phía sau xe là một thùng có cục kẹo lớn, khi bán
kẹo, gã kéo ra một khúc nhỏ, bẻ gẫy và trao cho khách. Cục kẹo lớn đó,
gã bán cả ngày cũng chưa hết. Phía trước xe gã treo một mớ đồ chơi trẻ
con bằng nhựa. Những con thú, chiếc kèn, cây súng... đủ màu sắc. Khi có
người mua, gã mở hộp kẹo ra. Phần nắp có một cái khung để một trái banh
nhỏ. Ai mua kẹo cũng được bắn một phát súng hơi, nhắm vào trái banh, nếu
bắn rớt trái banh thì ngoài khúc kẹo còn trúng thưởng một món đồ chơi.
Trẻ con và cả người lớn đều thích trò chơi này. Ít người bắn trúng vì
viên đạn là một nút điên điển nhẹ, khi rời nòng súng là đi chệch hướng
ngay. Gã còn bán vé số, số đề nữa. Mỗi ngày có đến năm bảy tỉnh mở số,
kết quả được gã chép vào một miếng giấy nhỏ, treo trước xe cho người ta
tiện dò số. Khoảng bốn, năm giờ chiều, sau khi các đài phát thanh công
bố các lô trúng, gã đến huyện đề nhận tiền trúng giao cho người may mắn
trúng số đề.
Có ai hỏi gốc gác, gã không trả lời. Người gã cao lớn, râu ria mọc chơm
chởm trên khuông mặt lầm lì. Khi nói, cả hàm râu quanh miệng gã chuyển
động giống con sâu róm khổng lồ cựa quậy. Hai vai rộng, chân tay dài
lòng khòng, người hơi gập về phía trước. Đôi mắt vừa u uẩn vừa vô hồn,
như không thấy gì ngay cả khi đối đáp với ai. Chỉ với bọn trẻ nít, gã
mới trở nên linh động, vui vẻ. Gã rất tử tế với chúng, có khi tặng kẹo
cho những đứa không có tiền. Buổi sáng và giờ tan trường, gã bán kẹo
trước cổng các trường học. Gã thường móc trong túi áo ra hình chụp một
đứa bé khoảng năm, sáu tuổi và hỏi bọn trẻ "Các em có thấy đứa nào giống
như thằng nhỏ này không?" Bọn trẻ tò mò nhìn hình đứa bé và lắc đầu. Có
đứa hỏi "Nó là con của chú hả?" Gã gật đầu "Con chú nhưng bị thất lạc
mấy năm nay rồi. Bây giờ chắc nó lớn lắm, cỡ các cháu. Mấy cháu đây, có
cháu nào là con nuôi của gia đình nào không?". Bọn trẻ nhìn nhau lắc
đầu.
Buổi chiều gã hành nghề trong mấy xóm lao động, có khi vào các chợ, rồi
đưa tấm hình thằng nhỏ ra hỏi hết người này đến người kia "Có thấy thằng
nhỏ này không? Nó là con tôi, bị thất lạc... tôi tìm nó". Lúc đầu ai
cũng ái ngại, an ủi gã "Không thấy! Khi nào gặp nó, tôi sẽ báo cho chú"
Không rõ gã quên hay vẫn hi vọng, chỉ vài hôm sau, gã lại hỏi câu đó
ngay với người hôm trước. Riết rồi, thấy gã từ xa, người ta đã nói thay
gã "Có thấy thằng nhỏ này không? Nó là con tôi...".
Gã đi tù cải tạo, mười năm sau mới về. Mấy năm đầu trong tù, không được
thư trả lời của vợ, gã biết vợ gã đã bỏ gã. Gã không bận tâm, nhưng
thằng con của gã, "Không biết bây giờ ra sao?" Gã viết thư cho người
hàng xóm, hỏi thăm tình hình gia đình mình, người ta trả lời rằng, vợ gã
đã bán nhà đi đâu không rõ. Người ta không muốn nói sự thật. Khi ra tù,
về Sài Gòn, gã ở nhờ nhà một người bạn tù, hành nghề bán kẹo kéo. Gã đi
khắp Sài Gòn Chợ Lớn, la cà vào cả những nơi đĩ điếm, xì ke, ma túy,
cướp giật, kinh tế mới... tìm con. Gã cũng có vào xóm nhà cũ, hỏi thăm
"Có phải nhà này, trước đây có thằng nhỏ tên Mạnh không? Biết bây giờ nó
ở đâu không? Có người nhờ tôi tìm nó giùm "Người ta không nhận ra gã nên
vô tình trả lời "Ôi, thứ đàn bà thối thây. Nó rước thằng ăn cướp về,
đuổi thằng nhỏ đi. Sau bán nhà đi mất tiêu, không thấy lai vãng. Cha nó
chắc ở tù đã về rồi, nhưng không thấy về đây". Trước kia gã cao to, đẹp
đẽ, bây giờ tiều tụy, thêm râu ria khiến gã thành lạ hoắc. Có lẽ con gã
cũng vậy, mười năm rồi, thằng bé đã lớn, chắc gì nhận ra nhau, nhưng gã
tin chắc là sẽ tìm được nó. Gã tìm vài cậu trẻ, hỏi tuổi, để nhớ dáng
dấp những đứa cùng tuổi con gã. Khi thấy đứa nào khoảng đó, gã đi sau
lưng và gọi lớn "Mạnh!". Nếu cậu ta quay lại, tim gã như muốn nhảy ra
khỏi lồng ngực, người run lập cập, thở không ra hơi "Có phải cháu tên
Mạnh không?", rồi gã hỏi tiếp những câu hỏi về cha mẹ, nơi ở của cậu ta.
Khi biết không phải gã rối rít xin lỗi. Một ý nghĩ khiến gã bủn rủn tay
chân "Con ta đã chết rồi?". Thế là gã lang thang vào các nghĩa địa, đi
tìm tên Mạnh ở các mộ bia. Gã cầu mong vợ gã còn chút lương tâm, cho con
gã một tấm bia có khắc tên nó.
Thời bấy giờ, khoảng giữa thập niên 1980, trong các nghĩa địa, người
sống thường ở chung với người chết. Họ từ vùng kinh tế mới bỏ về thành
phố. Vài miếng thiết cũ gối trên tấm bia ở các mộ xây xi măng, che quanh
bằng những miếng cạt tông, những miếng ni lông là thành một nơi trú ngụ
tạm ổn vì người chết không phàn nàn hay đuổi người sống đi.
Thế rồi ở nghĩa trang Ông Tạ, gã tìm thấy một ngôi mộ đất, có một tấm
bia, đúng hơn, một miếng gỗ, cắm trước mộ, chỉ ghi một chữ Mạnh bằng dầu
hắc. Gã đi hỏi những người sống quanh đó, và được trả lời "Ở đây đã có
lệnh dời mộ nên họ chôn lén. Nghe nói đó là thằng nhỏ bụi đời, bệnh hoạn
gì không biết, nằm chết trước chùa, người ta khiêng ra, tìm mộ nào đã
được đào lên, dời đi, còn cái huyệt trống, họ bỏ đại xuống, lấp đất rồi
bỏ đi. Nghe mấy người chôn nó nói nó tên Mạnh nên ông làm đường lấy dầu
hắc viết tên nó vào miếng ván, cắm ở đó, hi vọng thân nhân sẽ tìm ra mà
lo dời đi. Cả năm rồi mà chẳng ai hỏi han, săn sóc gì đến" "Tôi có thằng
con bị thất lạc. Nó cũng tên Mạnh. Chắc là nó rồi" Gã đi mượn một cái
cuốc về làm cỏ, đắp đất thêm cho ngôi mộ. Rồi gã đi mua đồ cúng. Một gói
thịt quay, mấy ổ bánh mì, một bó hoa, nhang đèn, một xị rượu, và mấy cái
li, chén nhỏ. Gã dùng cái chén, đổ đất vào, làm chỗ cắm nhang, hai chiếc
ly được lật úp thành chân đèn, cắm hai cây đèn sáp lên. Gã đặt tất cả
trước mộ, thắp nhang đèn lên, quì xuống lầm thầm khấn "Ba đang cúng lạy
con đây. Tre khóc măng, con có biết không? Con thương yêu của ba!" Khấn
đến đấy, gã nghẹn lời, cố tự kìm chế nhưng nước mắt vẫn trào ra. Gã cứ
quì như thế, trông giống một tượng đá. Những gia đình kinh tế mới sống
rải rác trên các ngôi mộ gần đó, chẳng ai quan tâm. Họ đã chai đá với
đói khổ, bệnh hoạn, tử biệt sanh ly. Gia đình đi kinh tế mới nào mà
không có người chết vì bệnh, vì đói khổ. Chính họ cũng muốn chết quách
cho rảnh nợ đời. Đến gần tối, gã rót rượu ra hai chiếc ly "Con uống với
ba cho vui. Không sao đâu! Ba cho phép con uống mừng ngày ba và con gặp
nhau. Con say với ba một bữa. Con kể cho ba nghe. Con sống như thế nào
khi con chỉ mới sáu bảy tuổi mà không có ba bên cạnh? Con làm sao để
sống? Sống đói, sống khổ, bị người ta đánh đuổi như con chó hoang cho
đến khi con kiệt sức và gục ngã...". Gã ngồi lầm bầm một mình, rồi rót
rượu uống tiếp. Cho đến khi say khướt, gã lấy cái áo đi mưa sau yên xe
đạp mặc vào rồi nằm bên ngôi mộ. Gã thì thầm "Ba ngủ bên con. Ít lâu
nữa, ba chết, cha con mình ngủ chung" Người ta phải đem chiếc xe đạp vào
"nhà", giữ giùm cho gã.
Từ đó, mỗi chiều gã thường ra mộ với một ít thức ăn và rượu. Gã trải tờ
báo ra, để đồ ăn lên, thắp nhang và gọi vong linh thằng con trong mộ ra,
cùng nhậu nhẹt với gã. Nhưng một buổi chiều, đi bán kẹo về, gã thấy có
mấy người lạ hoắc đứng chung quanh mộ con gã bàn tán. Gã băng tới "Mấy
ông bà biết người nằm dưới này sao?" "Vâng. Nó là con tôi. Tôi la nó có
mấy câu mà nó bỏ nhà lên Sài Gòn, làm thằng bụi đời. Bây giờ đang tính
chuyện bốc mộ nó về quê, nhưng mộ mới quá, không tiện. Cũng không biết
khi nào nghĩa trang này mới bị cào bằng đây? Vài năm nữa thì hay quá!"
"Nó tên gì?" "Tên Mạnh" "Tôi lại tưởng con tôi. Tôi cũng có thằng con
tên Mạnh đi bụi đời, tìm cả năm nay mà không thấy đâu! Nhưng sao anh
biết chắc nó là con anh?" "Thì nhà chùa còn giữ đôi dép của nó. Tôi nhận
ra ngay. Tôi đưa tấm ảnh của nó ra, ai cũng bảo là đúng nó rồi. Người ta
dẫn chúng tôi ra đây, chỉ mộ nó...". Gã chỉ kịp nói hai tiếng cám ơn rồi
đạp xe đi thẳng. Vậy là con gã chưa chết, gã còn hi vọng.
Gã bắt đầu lại chương trình tìm con như trước đây. Một hôm gã tâm sự
chuyện tìm con với một ông già sửa giày ở đầu hẻm Cô Bắc trên đường Võ
Di Nguy "Tôi lạc thằng con, không biết cách nào tìm nó. Tôi đi nát cả
Sài Gòn, Chợ Lớn, cả năm trời mà vẫn không gặp" "Vì sao ông lạc mất con?
Mấy năm nay rồi?" "Tôi đi tù lúc nó mới sáu tuổi. Mười năm sau, đi tù
về, tìm không ra! Nghe nói nó bị đuổi ra khỏi nhà lúc nó sáu bảy tuổi"
"Mười năm thì nó đã mười mấy tuổi rồi. Có gặp nó, cha con cũng không
nhận ra nhau đâu" "Ông có cách nào chỉ tôi tìm gặp nó không?" Ông già
cười "Ông vừa đi vừa kêu tên nó, như mấy bà mẹ lạc con trong chợ vậy"
"Tôi hỏi từng đứa nhỏ mà vẫn không thấy!" "Nó tên gì?" "Lê Mạnh" "Thường
ở nhà gọi nó là gì?" "Cu Tí" "Nó đi bụi đời lúc sáu, bảy tuổi, làm sao
nó biết tên nó là Mạnh? Ông có gặp nó, nói tên Mạnh, nó cũng không biết
đâu. Ông phải tìm thằng Tí hoặc Cu Tí". Gã vỡ lẽ, gãi đầu cười "Tôi ngu
quá! Ông không nói, biết khi nào tôi mới tìm ra nó. Cám ơn ông nhiều
lắm. Chào ông" "Khoan đã! Đi đâu mà vội. Ngồi đó tôi chỉ cách cho. Nhà
ông ở vùng nào?" "Vùng này. Đa Kao, Tân Định..." "Nếu còn sống, chắc
chắn thằng nhỏ làm gì cũng lai vãng vùng này. Có thể nó tấp vô với xóm
kinh tế mới đường Hai Bà Trưng. Ban ngày đi kiếm sống, ban đêm về đó
ngủ. Tôi chỉ ông cách này. Ông kiếm một miếng bìa nhỏ, ghi lên đó mấy
chữ "Tí, ba đi tù cải tạo đã về. Ngày... tháng...l úc 7 giờ sáng con đến
đây gặp ba". Ông để ngày lơi ra một chút, khoảng tháng sau, thì nó mới
biết được. Ông đưa cái bảng đó cho tôi, mỗi buổi đi làm, tôi treo nó ở
đây. Nếu còn sống, làm gì nó cũng tìm đến" "Tôi sợ nó không biết chữ,
làm sao đọc cái bảng đó" "Trong xóm kinh tế mới ai cũng biết chữ cả. Họ
sẽ bảo nó. Mà dù nó có ở ngoài Sài Gòn hay trong Chợ Lớn, người khác
cũng sẽ cho nó biết. Ông yên tâm đi. Nó ra đời sớm, gì nó cũng cần phải
biết để xoay xở, đối phó mà sống còn. Ông có học, con ông nó không ngu
khờ đâu. Biết đâu chỉ mấy hôm là nó đến hỏi tôi về cha nó cũng nên".
Đến ngày hẹn, gã đến hẻm Cô Bắc rất sớm, nhưng dựng xe đạp phía đối
diện, ngồi nhìn qua bên kia đường. Lúc đó khoảng hơn năm giờ sáng, đường
phố còn vắng, chỉ mấy hàng cà phê vỉa hè đã bày bàn ghế ra cho khách đi
làm sớm tấp vô, uống ly cà phê, hút điếu thuốc rồi vội vã lên xe. Gã
thấy trên hiên nhà đầu hẻm có mấy người nằm ngủ. Dân kinh tế mới đụng
đâu ngủ đó nên gã không quan tâm, chỉ chờ đến giờ hẹn, hi vọng con gã sẽ
đến.
Trời sáng dần, có một cậu đi xe gắn máy, dừng lại nhìn giáo giác một lúc
rồi bỏ đi. Tướng nó cao lớn, mặt vuông, lầm lì. Gã hi vọng thằng nhỏ đó
là con gã. Nó đi xe gắn máy ắt không đến nỗi khổ. Nếu biết đúng đó là
con mình, có thể gã sẽ không nhận nó là con, nếu nó muốn, để cuộc sống
yên bình của nó không bị phiền nhiễu.
Gần đến bảy giờ, thằng nhỏ lại đến, dừng xe, gã nhỏm lên, định đến gặp
thì nó nhìn đồng hồ rồi lại bỏ đi. Mấy người ngủ vỉa hè kia cũng lồm cồm
ngồi dậy. Hóa ra đó là những cậu trẻ khoảng mười lăm, mười sáu, có cả
đứa độ hai mươi tuổi. Đứa nào cũng dơ dáy, ốm nhom, đen thùi, mặt mũi
vừa láu cá vừa gian xảo. Có đứa còn ngủ, bị đứa khác kêu dậy. Rồi thì cả
bọn bảy tám đứa ngồi một dãy trên thềm nhà người ta, chúng bắt đầu trò
chuyện, cười nói và dòm chừng hai bên đường. Gã vẫn ngồi yên bên này
đường, chờ thằng bé đi xe gắn máy.
Ông già sửa giày từ trong hẻm đi ra với chiếc xe đạp chở lỉnh kỉnh đồ
nghề. Bọn trẻ ùa đến. Chúng vây quanh ông ta hỏi gì đấy. Ông già giơ hai
tay lên trời và lắc đầu.... Đột nhiên gã hiểu hết mọi chuyện. Những đứa
trẻ đó đều tên Tí, đều có cha đi tù cải tạo và mẹ chúng đã để chúng đi
bụi đời. Chúng là con của các sĩ quan quân đội Cộng Hòa, đồng đội của
gã. Đa số những bé trai Việt Nam đều được cha mẹ gọi là Tí, Cu Tí khi
còn bé, dù tên chúng trong giấy khai sinh khác nhau.
Nước mắt trào ra, gã băng qua đường và kêu lên.
"Ba đây Tí ơi! Đứa nào cũng là con ba cả. Ba đây nè, các con về với
ba..."
Phạm Thành Châu
Nguồn: Internet E-mail, by Đoàn
Hữu Định.
Bấm vào đây để in ra giấy (Print)
![]()
PHẦN QUẢNG CÁO TÁC PHẨM
Một món qùa Xuân, qùa sinh nhật thanh
cao gửi đến bạn bè
Đã Phát Hành:
Ba tập truyện ngắn của Phạm Thành Châu
- Bức Họa Khỏa Thân (248 trang)
- Nhớ Huế (248 trang)
- Lý lẽ của trái tim (275 trang)
Giá mỗi tập 12.00USD (trong nước Mỹ)
Mua ba (3) tập trở lên, giá mỗi tập 10.00USD kể cả cước phí.
Gửi sách trước, trả tiền sau.
L/L: Phạm Thành Châu
7004 Beverly Lane
Springfield, VA 22150
Điện thoại (Phone) (703)569-0124 (571)480 - 3276) (c)
(xin để lại lời nhắn)
Đăng ngày Thứ Năm, MAY 25th, 2011
Ban Kỹ Thuật K10A-72/SQTB/ĐĐ, ĐĐ11/TĐ1ND, QLVNCH