Bắc đẩu tinh

 

 

 

Lịch sử
NHỮNG KẺ PHẢN BỘI TỔ QUỐC... (Tiếp theo)
Liên Thành

Bấm vào đây để in ra giấy (Print)

      

ĐỐI TƯỢNG PHẬT GIÁO VIỆT NAM THỐNG NHẤT
Tổ Chức Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất là một tai ương, một thảm họa
mà dân chúng miền Nam Việt Nam và hai nền Đệ I VNCH và Đệ II VNCH
đã phải thai nghén và sinh ra một quái thai do sự hiếp dâm của tên Hồ Tặc.

“Xuất phát từ bản đề nghị của tên cộng sản Thích Trí Quang gởi lên
Hồ Chí Minh vào mùa xuân 1946 qua đường Bưu Điện:
Bản Đề Án Thống Nhất Phật Giáo Việt Nam và bản Hiến Chương do chính
ban tham mưu của Thích Trí Quang và Thích Trí Quang biên soạn.

Orange County, CA, USA. Ngày 11/4/2016
(Trích biến động Miền Trung của tác giả Liên Thành)

 

****** ||| ******

Tổ Chức Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất là một tai ương, một thảm họa mà dân chúng miền Nam Việt Nam và hai nền Đệ I VNCH và Đệ II VNCH đã phải thai ghén và sinh ra một quái thai do sự hiếp dâm của tên Hồ Tặc.

Xuất phát từ bản đề nghị của tên cộng sản Thích Trí Quang gởi lên Hồ Chí Minh vào mùa xuân 1946 qua đường Bưu Điện:

Bản Đề Án Thống Nhất Phật Giáo Việt Nam và bản Hiến Chương do chính ban tham mưu của Thích Trí Quang và Thích Trí Quang biên soạn.

Mùa hè 1946, Trí Quang cùng với Sư phụ của y là Trí Độ (một đảng viên cộng sản, Trí Độ gia nhập Đảng cộng sản từ năm 1941), cả hai được mời ra Bắc để thành lập Phật Học Viện tại chùa Quán Sứ Hà Nội. Hòa Thượng Tố Liên cho Trí Quang biết Hồ Chí Minh đã mời Tố Liên đến gặp Hồ Chí Minh để thảo luận và trao đề án thành lập Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất của Thích Trí Quang cho ông ta. Nhưng do đang bận thành lập Phật Học Viện, nên chưa ai có thời gian dề thực hiện đề án nói trên
.”

Trích: “Trí Quang Tự Truyện do Trí Quang biên soạn. Nhà xuất bản Tổng Hợp Thành Phố Hồ Chí Minh, năm 2011”.

Bổn cũ sao lại, vào năm 1964 tại Sài Gòn Thủ Đô của miền Nam Việt Nam, Trí Quang đã ép Thủ Tướng đương thời của chính phủ miền nam Việt Nam Đại Tướng Nguyễn Khánh ký giấy phép cho phép tổ chức Phật Giáo Việt Nan Ấn Quang của Trí Quang đổi danh xưng là Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất được phép hoạt động từ vĩ tuyến 17 đến mũi Cà Mâu, có nghĩa trên toàn lãnh thổ VNCH.

Bản Điều lệ và Hiến Chương của Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất chính là bản Điều lệ và Hiến Chương mà Trí Quang đã đệ trình Hồ Chí Minh vào mùa xuân năm 1946 và đã được Hồ Tặc chấp thuận. Thử nhìn vào hàng ngũ cấp lãnh đạo của tổ chức Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất ta sẽ thấy ngay đây là cánh tay nối dài của ban Tôn Giáo Vận trong tổ chức Mặt Trận Tổ Quốc của đảng cộng sản Việt Nam. Đây là một thảm họa cho miền Nam, cho Đệ II VNCH mà hậu quả là ngày Quốc Hận 30/4/1975.

Đây là danh sách, lý lịch, quá trình hoạt động của cấp lãnh đạo trong tổ chức Phật Giáo Việt Nam từ Trung ương đến Thừa Thiền-Huế theo tài liệu và lời khai của Trung Tá VC Hoàng Kim Loan:

1/ Thích Trí Quang:

Thích Trí Quang tên Phạm Văn Bồng, về sau đổi tên thành Phạm Quang, sinh ngày 21/12/1923 tại làng Diêm Điền, Thị xã Đồng Hới, Tỉnh Quảng Bình. Làng Diêm Điền vốn là một làng nhỏ và nghèo. Dân làng với đa số làm nghề nông hoặc làm thuê làm mướn. Người dân Diêm Điền có bản chất bảo thủ, cực đoan, và rất quá khích. Thích Trí Quang vốn xuất thân trong một gia đình nông dân nghèo khổ và là con thứ hai trong bốn anh em trai. Nhà nghèo đến độ cha mẹ không nuôi nổi các con, nên Phạm Văn Bồng và người anh cả đã phải nương thân cửa Phật để kiếm miếng ăn. Hai anh em Phạm Văn Bồng được Hòa Thượng Hồng Tuyên ở chùa Phổ Minh thâu nhận làm đệ tử và đưa về chùa. Cũng cần nói thêm Hòa Thượng Hồng Tuyên đã có vợ và sanh được hai con rồi mới xuất gia.

Chùa Phổ Minh nằm tại Đồng Đình thuộc Thị xã Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình. Bốn anh em nhà họ Phạm đã được Hòa Thượng Phổ Minh dùng bốn chữ Minh, Quang, Chánh, Đại để đổi tên thành: Phạm Minh, Phạm Quang, Phạm Chánh, Phạm Đại. Nhờ nương náu cửa Phật tại chùa Phổ Minh nên Phạm Quang và anh cả Phạm Minh có được chút học hành. Song trình độ của cả hai không qua lớp ba bậc tiểu học, chỉ hiểu biết tối thiểu một số chữ Quốc ngữ. Phạm Quang tức Thích Trí Quang học được một chút đỉnh Hán văn do sư phụ Hồng Tuyên truyền dạy cho, còn về Tây học thì hoàn toàn mù tịt. Riêng Phạm Chánh và Phạm Đại đều chịu thất học.

Năm 1945 khi Việt Minh (cộng sản) nổi lên toàn quốc, Phạm Minh rời bỏ tu hành theo Việt Minh kháng chiến. Phạm Minh phục vụ trong Ủy ban Hành chánh Kháng chiến Xã tại địa phương. Sau này Phạm Minh là một Ủy Viên của Ủy ban Nhân dân Tỉnh Quảng Bình. Phạm Chánh và Phạm Đại thì đầu quân vào bộ đội. Một thời gian ngắn sau, Phạm Chánh được Bộ Chỉ Huy quân du kích phong làm Tiểu Đội Trưởng Quân Du Kích. Ngày 4/6/1947 Phạm Chánh bị một đơn vị lính Pháp phục kích bắn chết tại Đức Phổ, một vùng nằm về phía tây của Thị xã Đồng Hới, khi ấy Phạm Chánh mới có 21 tuổi. Phạm Đại, người em út của Trí Quang, làm y tá trong bộ đội cộng sản tại địa phương. Phạm Đại chết sau 1975.

Theo ký giả Robert Sharplen đã viết trong cuốn The Lost Revolution xuất bản vào năm 1965 do nhà xuất bản Harper and Row ấn hành, có đoạn kể rằng:

Phạm Minh, người anh của Thích Trí Quang đã đi theo Việt Minh cộng sản ngay từ buổi đầu 1945. Vào khoảng tháng 5 năm 1964 sau cuộc đảo chánh tại Miền Nam, Phạm Minh đã giả trang làm một tăng sĩ Phật giáo với tên là Thích Diệu Minh lẻn vào chùa Từ Đàm tại Huế thăm người em ruột của nó là Thích Trí Quang”.

Theo Đại Tá Hiển hiện đang sống tại vùng Hoa Thịnh Đốn, USA, nguyên Giám Đốc Cảnh Sát Công An Trung Nguyên Trung Phần thời Đệ I Cộng Hòa trước biến động 1963, và sau đó ông về chỉ huy Phủ Đặc Ủy Trung ương Tình Báo VNCH, rồi Chỉ Huy Trưởng Cảnh Sát Quốc Gia Vùng III cho đến ngày ông bị Việt cộng phục kích đặt mìn làm ông bị mù mắt vĩnh viễn, thì sau ngày 30/4/1975 thân nhân của ông có đến chùa Ấn Quang và đã bắt gặp Phạm Minh tức Thích Diệu Minh mặc thường phục đang ngồi với Thích Trí Quang. Bà cụ đã nói thẳng với Thích Trí Quang: “Tôi thật không ngờ thầy là Việt cộng!” Thích Trí Quang im lặng không trả lời.

Năm 1933, Bác sĩ Lê Đình Thám, Thượng Tọa Thích Mật Thể, và Hoàng Thân Tráng Đinh, anh em chú bác ruột với Hoàng Thân Tráng Cử, đứng ra thành lập trường An Nam Phật Học Huế, nhằm mục đích đào tạo tăng sĩ. Năm 1939 khi được mười sáu tuổi, Phạm Quang được tuyển vào trường này và thọ giáo với Hòa Thượng Thích Trí Độ, Giám Đốc của trường. Thích Trí Độ là đảng viên cộng sản. Y gia nhập đảng cộng sản vào năm 1941, thời điểm này đảng cộng sản Việt Nam còn hoạt động trong bóng tối. Năm 1943, Thích Trí Độ đặt pháp hiệu cho Phạm Quang với chữ Trí đứng đầu, từ đó mà có tên Trí Quang. Thích Trí Quang tốt nghiệp khóa Phật học Trung cấp vào đầu năm 1944.

Cũng trong thời gian này, qua người anh trai Phạm Minh, Trí Quang đọc được tài liệu về Bản tường trình sự cần thiết thành lập Mặt trận Việt minh của Trường Chinh. Tâm đắc với nội dung của nó, Trí Quang nhận thấy rằng theo Việt Minh là lựa chọn tốt nhất (1).

Năm 1945, sau khi Việt Minh cướp chính quyền, Thích Trí Độ được đảng cộng sản cử giữ chức vụ Chủ Tịch Trung ương Giáo hội Phật giáo Cứu quốc. Thích Trí Độ đã lôi kéo được một số tăng sĩ theo cộng sản. Y đã bổ nhiệm Thích Thiện Minh giữ chức vụ Chủ Tịch Phật Giáo Cứu Quốc ở tỉnh Quảng Trị, Thích Mật Thể ở Thừa Thiên Huế, và Thích Huyền Quang ở Liên Khu 5 gồm các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, và Phú Yên.

Mùa xuân năm 1946, Trí Quang gởi qua đường bưu điện cho Hồ Chí Minh, Chủ Tịch Nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, bản đề án thống nhất Phật giáo Việt Nam và bản hiến chương do chính Trí Quang soạn thảo. Mùa hè năm 1946, Trí Quang cùng với Trí Độ được mời ra miền bắc Việt Nam để thành lập Phật Học Viện. Tại chùa Quán Sứ, Hòa Thượng Tố Liên cho Trí Quang biết Hồ Chí Minh đã mời Tố Liên đến thảo luận và trao đề án của Trí Quang. Do đang tiến hành thành lập Phật Học Viện nên chưa ai có thời gian để thực hiện đề án nói trên (2).

Trí Quang trở lại Diêm Điền để giữ chức vụ Chủ Tịch Ủy ban Phật giáo Cứu quốc của tỉnh Quảng Bình, sau khi Việt Minh cộng sản do Hồ Chí Minh lãnh đạo tuyên bố “Toàn quốc kháng chiến” và ra lệnh cho đồng bào toàn quốc phải tản cư khỏi các Thành phố lớn như Hà Nội, Huế, và Sài Gòn.

Thích Trí Quang Bị Phòng Nhì Pháp Bắt Vì Can Tội Hoạt Động Cho Việt Minh cộng sản.

Vào ngày 25/6/1947 khi quân đội Pháp tái chiếm Thị xã Đồng Hới, Thích Trí Quang rời làng Diêm Điền đến trú ngụ tại làng Diên Nghĩa. Thời gian này Trí Quang hoạt động cộng sản cùng một tổ với hai cán bộ nội thành của Việt Minh cộng sản thuộc Thị xã Đồng Hới là Nguyễn Toại, dân làng thường gọi là Toại Béo, ở Đồng Đình, và Nguyễn Tịch ở Đồng Phú. Chẳng bao lâu, cả ba gồm Trí Quang, Nguyễn Toại, và Nguyễn Tịch bị Phòng Nhì (II) Pháp hốt trọn ổ và bị giam ở trạm Thiên Văn Tam Tòa. Nguyễn Tịch thoát ngục. Nguyễn Toại bị quân Pháp xử tử hình vì trong suốt thời gian hoạt động y cùng đám Việt Minh cộng sản đã sát hại nhiều thành phần quốc gia. Riêng Trí Quang bị giam giữ một thời gian và rồi được lực lượng an ninh Pháp trả tự do.

Không lâu sau đó, Trí Quang lại bị Phòng II Pháp bắt giữ vì y tái hoạt động cho Việt Minh cộng sản. Lần này Thích Trí Quang bị giam lâu hơn lần trước. Hội An Nam Phật Học tại Huế đã nhờ đến thân mẫu của Đức Quốc Trưởng Bảo Đại là Đức Bà Đoan Huy Hoàng Thái Hậu, tức Đức Bà Từ Cung, can thiệp và sau đó, một viên chức bảo hộ của chính quyền Pháp đứng ra bảo lãnh cho Trí Quang. Lần này Trí Quang đã phải làm giấy cam kết không hoạt động cho Việt Minh cộng sản nữa. Sau khi được thả ra, nhận thấy Đồng Hới không còn là nơi an toàn cho mọi hoạt động bí mật, Thích Trí Quang quyết định rời Đồng Hới vào Huế.

Thời gian đầu Thích Trí Quang ngụ tại chùa Báo Quốc và thời gian sau y về trú ngụ tại chùa Từ Đàm. Tại chùa Từ Đàm, bề nổi y đóng vai là một người tu đạo chăm chỉ, nhưng bề chìm y vẫn âm thầm hoạt động cộng sản.

Thích Trí Quang Gia Nhập Đảng cộng sản Việt Nam

Theo hồ sơ văn khố của sở Mật Thám Pháp còn lưu giữ tại trung tâm hồ sơ văn khố thuộc Bộ Chỉ Huy Cảnh Sát Quốc gia Thừa Thiên Huế trước 1975 thì Thích Trí Quang là đảng viên đảng cộng sản Việt Nam. Buổi lễ kết nạp vào đảng cộng sản được tổ chức tại chiến khu Lương Miêu Dương Hòa do Tố Hữu, đại diện cao cấp của đảng cộng sản Việt Nam chủ tọa buổi lễ vào năm 1949. Mật khu Lương Miêu Dương Hòa nằm về hướng tây nam Thành phố Huế, và cách Thành phố Huế khoảng trên sáu mươi cây số đường bộ. Đây là một vùng thung lũng rộng lớn bao bọc bởi những dãy núi đồi trùng điệp thuộc quận Nam Hòa, tỉnh Thừa Thiên. Nơi đây là căn cứ địa của Tỉnh ủy và Tỉnh đội Thừa Thiên Huế của lực lượng Việt Minh. Việc Tố Hữu, Ủy viên Trung ương đảng cộng sản Việt Nam, đứng ra kết nạp Thích Trí Quang vào đảng cộng sản Việt Nam cũng đã được chính Tố Hữu xác nhận, nhân khi đề cập đến những nhân vật Quốc gia và cộng sản của miền nam Việt Nam trước năm 1975, vào mùa hè năm 2000 trong một bữa cơm thân mật do Tố Hữu khoản đãi tại tư thất của y ở Hà Nội, với hai nhân chứng: Ông Nguyễn Văn... hiện đang sống tại Thành phố Huế gần chùa Từ Đàm, và Ông Kasaha... hiện đang sống tại Tokyo Nhật Bản.

Năm 1952, Thích Trí Quang ra Hà Nội tham dự Đại hội Thành lập Giáo hội Tăng già Toàn quốc do Thích Tố Liên làm Tổng Thư Ký.

Thích Trí Quang và Phong Trào Hòa Bình

Vào khoảng tháng 3 năm 1953, Ủy Ban Bảo Vệ Hòa Bình hay còn được gọi là Phong Trào Hòa Bình ra đời do Thích Trí Độ là thầy của Thích Trí Quang lãnh đạo. Sự ra đời của phong trào này là nhằm hỗ trợ thế mạnh cho chính phủ Việt Minh trong cuộc hòa đàm Genève 1954 giữa Việt Minh và chính phủ Pháp. Khi ấy Thích Trí Quang đang giữ chức vụ Hội Trưởng Hội Việt Nam Phật Học đồng thời hoạt động tích cực để cho ra đời Phong Trào Hòa Bình tại Huế, theo lệnh của cộng sản Bắc Việt và Thích Trí Độ.

Hòa đàm Genève 1954 ký kết chia đôi đất nước, lấy vĩ tuyến 17 làm lằn mức phân chia hai miền Nam, Bắc. Từ nam vĩ tuyến 17 đến tận Cà Mâu thuộc về những người quốc gia miền nam, từ Bắc vĩ tuyến 17 đến ải Nam Quan của người cộng sản miền bắc. Tại Sài Gòn, Luật sư Nguyễn Hữu Thọ thành lập Phong Trào Hòa Bình để yểm trợ cho sách lược và đường lối chánh trị của cộng sản Bắc Việt.

Nhân sự nòng cốt của Phong Trào Hòa Bình tại Huế là những đảng viên cộng sản của Chi bộ đảng cộng sản Thuận Hóa do Bác sĩ Lê Khắc Quyến là trưởng Chi bộ. Các đảng viên và đoàn viên trong Chi bộ Thuận Hóa là Dược sĩ Nguyễn Cao Thăng, Giáo sư Tôn Thất Dương Kỵ, Bác sĩ Thú y Phạm Văn Huyến, ông Nguyễn Văn Đẳng và còn nhiều thành phần trí thức tham gia phong trào này nữa.

Tại Sài Gòn, Luật sư Nguyễn Hữu Thọ thành lập Phong Trào Hòa Bình để yểm trợ cho đường lối chánh trị của cộng sản Bắc Việt.

Vào ngày 29 tháng 8, Phong Trào Hòa Bình (PTHB) đã tổ chức lễ ra mắt tại Sài Gòn, và phổ biến tuyên cáo 2 điểm:

- Yêu cầu quân Pháp rút khỏi miền Nam.

- Phải tổ chức ngay cuộc tổng tuyển cử theo tinh thần hiệp định Genève. Ngày 21/9/1954, Phong Trào Hòa Bình tổ chức một cuộc biểu tình khá lớn tại Sài Gòn đòi chánh phủ của Thủ Tướng Ngô Đình Diệm phải trả những người Bắc di cư về lại miền Bắc và tổ chức hiệp thương, rồi tổ chức tổng tuyển cử toàn quốc.

Cơ quan tình báo của chính phủ Quốc gia đã biết rõ ràng đây là một tổ chức của chính phủ cộng sản Bắc Việt. Trước những đòi hỏi phi lý của phong trào này, chính phủ Quốc gia bắt buộc phải vô hiệu hóa tổ chức này.

Ngày 7/11/1954, chính phủ VNCH ra lịnh bắt giam tất cả những nhân vật trí thức đã tham gia hoạt động trong phong trào này.

Ở Sài Gòn, Luật sư Nguyễn Hữu Thọ, Kỹ sư Lưu Văn Lang, Giáo sư Phạm Huy Thông, Kha Văn Dưỡng, cùng với một số ký giả như Nguyễn Bảo Hóa, Trần Chi Lăng bị bắt giữ. Ở Huế, cơ quan an ninh đã bắt giữ: Thích Trí Quang, Nguyễn Cao Thăng, Lê Khắc Quyến, Tôn Thất Dương Kỵ, Phạm Văn Huyến, và một số khác. Nhưng ở Miền Trung, ông Cố vấn Ngô Đình Cẩn lại muốn dùng chính sách chiêu dụ các thành phần này trở về với chánh nghĩa quốc gia. Ông Ngô Đình Cẩn đã nỗ lực khuyên lơn, đem tiền bạc, địa vị, và lợi lộc ra chiêu dụ Trí Quang và đồng bọn. Ông Ngô Đình Cẩn tin chắc rằng: Với những tài liệu cụ thể của Phòng II Pháp chứng minh rõ ràng Trí Quang đã từng hoạt động cho cộng sản từ lâu, hiện đang nằm trong tay ông, thì Trí Quang sẽ không thể nào dám cựa quậy, hay sanh lòng phản trắc nữa.

Đến ngày 9/2/1955, chính phủ Việt Nam Cộng Hòa đã ra lệnh tống xuất 26 nhân vật đầu sỏ của Phong Trào Hòa Bình, trao cho chính phủ cộng sản Bắc Việt, nhưng trong số đó đã không có Trí Quang, Lê Khắc Quyến, Nguyễn Cao Thăng, và Nguyễn Văn Đẳng. Điều đáng ngạc nhiên là chẳng bao lâu sau Lê Khắc Quyến lại được trọng đãi. Lê Khắc Quyến được bổ nhiệm làm y sĩ riêng cho thân mẫu của Ông Ngô Đình Cẩn và được bổ nhiệm làm khoa trưởng Đại học Y Khoa thuộc Viện Đại học Huế, Giám Đốc Bệnh viện Trung ương Huế. Nguyễn Cao Thăng được làm chủ nhân công ty bào chế thuốc tây OPV. Nguyễn Văn Đẳng từ ngạch Thừa Phái được chuyển ngạch sang Tham Sự Hành Chánh và được bổ nhiệm làm Tỉnh Trưởng Thừa Thiên, kiêm Thị Trưởng Huế từ 1955-1963.

Điều này cho thấy Hà Nội đã chỉ thị cho những tên này trá hàng nằm lại Miền Nam.

Riêng Trí Quang được ông Ngô Đình Cẩn bỏ tiền ra giúp đỡ trùng tu lại chùa Từ Đàm. Chùa Từ Đàm đã xây nên từ năm 1703, thời Minh Vương Nguyễn Phúc Chu. Khởi đầu chùa này mang tên “Ấn Tôn Tự”. Đến đời vua Thiệu Trị (1841-1847) chùa đổi tên là Từ Đàm (3 chữ “Ấn Tôn Tự” bị coi như phạm húy).

Bởi thế trong khoảng thời gian từ năm 1956 đến năm 1963, đồng bào Huế thỉnh thoảng thấy ông Cố vấn Ngô Đình Cẩn đến chùa Từ Đàm ăn cơm chay với Thích Trí Quang. Ngoài ra ông Cố vấn Ngô Đình Cẩn còn tích cực yểm trợ cho các hoạt động Phật giáo của Trí Quang, ở chùa Từ Đàm.

Có lẽ Ông Cố vấn Ngô Đình Cẩn tin rằng: Với sự tử tế giúp đỡ tiền bạc và hỗ trợ tinh thần của ông đối với Thích Trí Quang, ông ta đã xoay được hướng đi của Thích Trí Quang về với chính nghĩa quốc gia. Thế nhưng trò chơi chính trị và tình báo này của ông Cố vấn Ngô Đình Cẩn hoàn toàn không có hiệu quả nào đối với một tay cộng sản sắt máu như Thích Trí Quang. Ông Cố vấn Ngô Đình Cẩn đã “nuôi ong tay áo”. Tên lưu manh cộng sản Thích Trí Quang thi hành lệnh của cộng sản Hà Nội dùng lực lượng Phật giáo Ấn Quang tại Miền Trung tham gia cuộc đảo chánh ngày 1-11-1963 giựt sập nền Đệ I Việt Nam Cộng Hòa, sát hại Tổng Thống Ngô Đình Diệm và ông Cố vấn Ngô Đình Nhu. Sau đó chính y ra lệnh cho Tướng Nguyễn Khánh, khi ấy là Quốc Trưởng, ký một sắc lệnh đặc biệt mở phiên tòa đặc biệt để xử bắn ông Cố vấn Ngô Đình Cẩn.

2/ Thích Đôn Hậu Đệ III Tăng Thống:

Cơ sở tôn giáo vân của Hoàng Kim Loan. Thoát ly ra Hà Nội vào tháng 2/1968 Mậu Thân. Xin hãy nghe chính Đôn Hậu tự nói:

Thích Đôn Hậu đã mở đầu bức thư như sau:

Tại sao tôi gia nhập Liên Minh Lực Lượng Dân Tộc Dân Chủ và Hòa Bình Việt Nam

Kính gửi tất cả đồng bào miền Nam Việt Nam,
Đồng bào thân mến,

Nghe tin tôi gia nhập LMLLDTDCHBVN, tín đồ Phật giáo và những người ngoại giáo chắc là sẽ tự hỏi tại sao một người già lão như tôi, tu hành đã bao nhiêu năm, mà thay vì hiến thân trọn vẹn cho đạo giáo lại đi làm chính trị?

Phần tiếp theo, Thích Đôn Hậu tự trả lời bằng cách lên giọng vu khống hai Tướng Nguyễn Văn Thiệu và Nguyễn Cao Kỳ đã áp dụng một chính sách đàn áp Phật giáo ngày càng khốc liệt (?!).

Phần cuối cùng, Thích Đôn Hậu tuyên bố Thích Đôn Hậu “cương quyết gia nhập LMLLDTDCHBVN” và “tha thiết kêu gọi đồng bào trong và ngoài nước, đặc biệt là các Phật tử và những dân cư thành thị miền nam Việt Nam xiết chặt hàng ngũ trong LMLLDTDCHBVN, tăng cường sức mạnh, đứng lên để chiến thắng tụi xâm lược Mỹ và bè lũ tay sai, chiếm lại độc lập, tự do và hòa bình đích thực” (?!).

 

 

Etudes Vietnamiennes của Nguyễn Khắc Viện xuất bản năm 1973

 

 

 

Bức thư của Thích Đôn Hậu, Phó Chủ Tịch LMLLDTDCHBVN, 20-5-1968

 

Dữ kiện thứ hai là trích dẫn nguyên văn phát biểu tại phiên họp Quốc hội kỳ 2 (1976) của ông Diệp Trương Thuần Thích Đôn Hậu. Thích Đôn Hậu đã khoe công với Phạm Văn Đồng, Thủ Tướng CSVN, trong dịp Thích Đôn Hậu tham dự phiên họp Quốc hội kỳ 2 (1976) này:

Sau khi tôi ra miền Bắc năm 1968, thì vị mà tôi tiếp xúc đầu tiên là Hồ Chủ tịch.”

Khi gặp Hồ Chủ tịch, thì câu nói mà có lẽ là câu nói chính của Hồ Chủ tịch. Hồ Chủ tịch 'tán dương Phật giáo. Tán dương việc tranh đấu, phản đối các chánh quyền tay sai do Mỹ tạo nên ở miền nam Việt Nam.' Rồi Hồ Chủ tịch tán dương cuộc tranh đấu của Phật giáo là cả một sự đóng góp lớn lao vào sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc, mà điển hình là việc tự thiêu của sư Quảng Đức. 'Tôi rất là cảm kích về phong trào tranh đấu đó là một sự hi sinh của PG. Thay mặt Chánh Phủ Liên Tôn tôi thành thật cảm ơn và đặc biệt tôi rất hoan nghênh những việc tranh đấu đó.' Đại ý như vậy. Khi đó có Thủ Tướng.

Thì vài ngày sau, trong buổi chiêu đãi của Mặt Trận Tổ Quốc do cụ Tôn Đức Thắng chủ trì, buổi chiêu đãi của phủ Thủ Tướng do Thủ Tướng chủ trì, buổi chiêu đãi của Trung ương Đảng do cụ Lê Duẩn chủ trì thì các vị đều tán dương Phật giáo, đại khái như Hồ Chủ tịch đã nói
.” (3)

Dữ kiện thứ ba là trích dẫn nguyên văn phát biểu tại chùa Linh Mụ ngày 08 tháng 12 năm 1978 của ông Diệp Trương Thuần Thích Đôn Hậu (4):

Chắc quý vị đã biết một cách rõ ràng là Phật giáo chúng tôi luôn luôn gắn liền với dân tộc. Phật giáo với dân tộc gắn liền với nhau như môi với răng. Mà Phật giáo và dân tộc vì gắn liền với nhau cho nên khi ra Bắc, tôi được các vị cho biết: những thời qua, các vị cách mạng tiền bối, kể cả Hồ Chủ tịch và hiện tại các vị như là Thủ tướng Phạm Văn Đồng, v.v. thì đã ở chùa, ở chùa để mà tiếp tục làm cách mạng. Thì trong khi đó nếu Phật giáo không phải là yêu nước thì trong khi mà các Ngài ở chùa đó, nếu các nhà sư mà xấu, thì chắc là các Ngài cũng không còn đến ngày nay để lãnh đạo. Và từ đó về sau, trải qua những cuộc kháng chiến chống Pháp, kháng chiến chống Mỹ, các vị cũng đã biết rằng nhà chùa, nhất là nhà chùa là những nơi giúp đỡ, chở che cho cán bộ, bộ đội đến như thế nào! Và ngay cả Tết Mậu Thân, dù cán bộ, bộ đội về nhiều như thế, về thành phố Huế nhiều như vậy, thì về ở đâu, không phải là ở nhà đạo khác mà chỉ là ở nhà Phật tử, mà nếu như Phật tử mà họ xấu, họ không có tinh thần yêu nước, thì khó mà thực hiện được cuộc cách mạng vùng lên trong Tết Mậu Thân.

Nói như vậy để thấy rằng Phật giáo luôn luôn gắn liền với cách mạng. Vì gắn liền với cách mạng cho nên khi nghe đến giải phóng chỗ nào thì người Phật giáo hoan nghênh lắm. Mà nhất là khi nghe giải phóng đến Sài Gòn, thì họ phấn khởi vô cùng, hoan nghênh hết sức.

Từ đó thì cán bộ, bộ đội về khắp tất cả, từ nông thôn cho đến nơi thành thị, mà ở đâu có bóng của các vị, của anh em cán bộ, bộ đội, thì đồng bào, mà trong đó đa số là Phật tử, thấy các anh thì họ hết sức là hoan nghênh, vui vẻ ra đón chào. Người thì bắt tay, người thì vuốt vai, người thì cầm áo, người thì là ngó mà rất hoan nghênh, cứ ngó mãi mãi, cười mãi. Họ thấy các anh em, họ nhìn các anh em như là anh em, con cháu chú bác gì của họ mà đi xa, đi làm nhiệm vụ thành công mà về. Từ đó có cái gì họ cũng đem ra mời ăn, thành ra đoàn kết, mà còn là thương yêu nữa. Chẳng những thương yêu mà còn là kính nể nữa, kính trọng nữa. Bởi vì họ thấy anh em là những người có công với cách mạng, có công trong cuộc kháng chiến, là những người nếm mật nằm gai đem lại độc lập, hòa bình cho quê hương
....”

Ba dữ kiện nêu trên, đều do chính đương sự Thích Đôn Hậu, một đảng viên cộng sản cấp trung ương và là Đệ III Tăng Thống của GHPGVNTN, viết và tự thuật lại hoạt động cộng sản của Thích Đôn Hậu và GHPGVNTN đã góp công lớn trong việc lật đổ VNCH và vốn từng được Hồ Chí Minh trực tiếp 'cảm ơn' và 'hoan nghênh' vào năm 1968 khi Thích Đôn Hậu ra Bắc với “bác và đảng”.

Trở lại câu nói của ông Thích Đôn Hậu: “Nói như vậy để thấy rằng Phật giáo luôn luôn gắn liền với cách mạng.” Như vậy, ai là người nói rằng Phật giáo gắn liền với cộng sản?

Tôi phỉ báng Phật giáo hay ông Thích Đôn Hậu phỉ báng Phật giáo?

Xin một lời công đạo cho lực lượng CSQG Thừa Thiên-Huế và cho tôi Liên Thành Chỉ Huy Trưởng BCH/CSQG/Thừa Thiên-Huế.

Thích Đôn Hậu không thể chối cãi với các mật báo viên của ty Cảnh Sát Quốc Gia/TT-Huế là đương sự không gặp gỡ Hoàng Kim Loan như cơm bữa tại chùa Linh Mụ.

Và cuối cùng, Ôn Linh Mụ khó có thể đối chất với Trung úy Đoàn Lang, Trung úy Phan Thế Thông, Thiếu tá Trương Công Ân, và với Trưởng Ty CSQG Liên Thành mà tất cả hiện đang ngụ tại Hoa Kỳ, nếu như Ôn còn sống.

Trả lại sự thật cho lịch sử là bổn phận của tất cả mọi công dân đã vì duyên nghiệp mà biết được những oan khiên sai trái của những âm mưu chính trị đen tối. Tôi, Liên Thành, vì chức vụ, bổn phận, và trách nhiệm mà biết được những điều đó, thì tôi không có quyền im lặng, vì trách nhiệm đối với đất nước và lịch sử là bổn phận tối thượng. Đó là trách nhiệm thiêng liêng trên hết mọi lãnh vực kể cả lãnh vực tôn giáo. Không ai có thể nhân danh lãnh đạo tôn giáo, nhân danh tôn giáo để che đậy sự thật lịch sử của đất nước Việt Nam này.

Tôn giáo là tôn giáo. Phật giáo là Phật giáo. Lãnh đạo Phật giáo là lãnh đạo Phật giáo. Họ là những người đi rao giảng lời Phật. Họ không là Phật. Họ cũng chẳng là Phật giáo.

Điều này quá rõ và quá đơn giản, nhưng vẫn còn có một số người cố bám víu trộn lẫn các phạm trù này lại, cho rằng quý vị đó là Phật giáo, để đánh lận dư luận, mưu đồ lợi dụng sức mạnh tôn giáo để thực hiện những mưu toan chính trị không ngay thẳng.

Cuối cùng, với trách nhiệm là một Phật tử, tôi phải đặt đức công bằng lên trên tất cả những tai tiếng của các lãnh đạo tôn giáo của đạo mình, mà ngay chính cá nhân tôi, trong chỗ riêng tư, phần nào cũng muốn giấu bớt, vì xấu hổ.

 

3. Thích Thiện Minh (5)

Họ và Tên: Đỗ Xuân Hàng.
Sinh năm 1921 tại Bích Khê, Quảng Trị.
Chánh quán: Bích Khê, tỉnh Quảng Trị.
Trú quán: Chùa Từ Đàm-Huế.
Học Lực: Trình độ Trung Học Đệ I Cấp.
Họ và tên cha: Đỗ Xuân Quang,
Mẹ: Huỳnh Thị Nhàn (đều chết).
Anh ruột: Đỗ Xuân Khôi, nhân viên Ty Học Chánh Tỉnh Quảng Trị.
Em ruột: Đỗ Xuân Từ.

Quá trình hoạt động - Đỗ Xuân Hàng xuất gia từ năm 15 tuổi tại chùa Trúc Lâm, Hương Trà, Thừa Thiên, được 3 năm qua học chùa Bảo Quốc và 3 năm sau sang học chùa Kim Sơn. 1945 - Về Quảng Trị hoạt động trong tổ chức Phật Giáo Cứu Quốc của Việt Minh. 1959 - Về chùa Từ Đàm giữ chức Phó Hội Trưởng Hội Phật giáo Trung phần và Ủy Viên Thanh niên Phật tử của Tổng hội Phật giáo Toàn quốc.

Hoạt động trong vụ tranh đấu Phật Giáo tại Huế - Trong thời gian vụ treo giáo kỳ tại Huế, đương sự đã cùng với Thích Trí Quang đứng ra lãnh đạo Phong trào Quần Chúng Phật Tử, đòi hỏi 5 nguyện vọng. Thích Trí Quang nắm quyền quyết định tối hậu, còn đương sự được chia nhiệm vụ đặc trách đoàn Sinh viên Phật tử. Đây là một lực lượng quan trọng và nòng cốt trong suốt quá trình đấu tranh tại Huế và Trung Phần. Ngày đương sự cùng Thích Trí Quang và Hòa Thượng Hội Chủ Thích Tịnh Khiết vào Sài Gòn với mục đích thành lập Phái Đoàn Phật Giáo yết kiến Tổng Thống, nhưng khi tới chùa Xá Lợi thì y mới nhận thấy Ủy Ban Liên Phái Bảo Vệ Phật Giáo do Thích Tâm Châu đã thành hình, đương sự được cử làm trưởng đoàn của Phật Giáo liên lạc với Liên Bộ. Với nhiệm vụ này y đã tích cực trong công việc dàn xếp ổn thỏa để tiến tới cấp tốc việc ký Thông Cáo Chung giữa Phật Giáo và Chính Phủ. Bản Thông Cáo Chung được ký kết, y bị một số sư tăng trong đó có Thích Trí Quang công kích mãnh liệt cho rằng y quá yếu đuối và bị chính quyền mua chuộc. Sau đó đương sự chỉ được giao nhiệm vụ liên lạc với Phó Tổng Thống Nguyễn Ngọc Thơ trong trường hợp cần trình bày hoặc can thiệp điều gì do Ủy Ban Liên Phái chỉ thị, chứ đương sự không có trách nhiệm gì trong Ủy Ban Liên Phái.

Nửa tháng sau, Thích Trí Quang phát động phong trào đấu tranh sang giai đoạn II. Sau khi Tổng Thống ban hành hiệu triệu, đương sự có tiếp xúc với Phó Tổng Thống bằng điện thoại và thỏa thuận với Phó Tổng Thống sẽ thảo bức thư cam kết chấm dứt cuộc tranh đấu thì đương sự bị Thích Đức Nghiệp hành hung. Thích Đức Nghiệp dùng dao đâm đương sự nhưng có một sư đã can ngăn. Thích Tâm Châu tuyên bố nên lập Ủy Ban Hỗn Hợp cho phong trào tranh đấu và chương trình sẽ cho thiêu thêm 3 người nữa. Thích Đức Nghiệp hăm dọa sẽ mở cuộc họp báo công bố sự phản bội của Thích Thiện Minh đối với Phật giáo vì bị mua chuộc. Thích Thiện Minh khai rằng: Đương sự và đa số thượng tọa trong Ủy Ban Liên Phái hoàn toàn bất lực và thụ động, mọi chuyện đều do Thích Trí Quang nắm giữ và điều động toàn bộ. Trước tình trạng đó nên khi được cử ra Huế dự đám tang Thích Tiêu Diêu, đương sự nhận lời ngay để tránh không khí ngột ngạt ở chùa Xá Lợi.

Tại Huế, ở chùa Từ Đàm được 3 ngày, đương sự có tổ chức nói chuyện tại chùa Diệu Đế một lần, sau đó bị Ty Cảnh Sát Quốc Gia Thừa Thiên bắt giữ.

Ngoài ra Thích Thiện Minh còn khai:

1- Có sự giúp đỡ của Mỹ về tin tức chuyển ra ngoại quốc.

2- Mỹ cũng phụ trách đánh giúp những điện tín của chùa Từ Đàm từ Huế vào chùa Xá Lợi tại Sài Gòn. Việc này do nhóm ký giả Mỹ UPI đảm trách.

3- Cung cấp báo chí ngoại quốc cho chùa Xá Lợi. Việc này do Thích Đức Nghiệp và Thích Huyền Quang đảm trách liên lạc.

4- Có một người Mỹ mật vụ, theo Thích Đức Nghiệp thì người Mỹ mật vụ này cho biết ông ta theo lệnh của Thống Thống Kennedy đến gặp Thích Trí Quang và Ủy Ban Liên Phái, nói rằng: “Các Ngài đã không tin chính phủ thi hành bản Thông Cáo Chung thì các ngài còn đợi gì? Và nếu chính phủ bắt hết các vị lãnh đạo thì sao?”

Theo Thích Thiện Minh đây là “l
ời thúc giục của chính phủ Mỹ xúi giục Phật giáo hành động.”

5- Mỹ đưa ra 2 nhân vật Nguyễn Tôn Hoàn và Nghiêm Xuân Thiện hỏi đương sự có biết không, và ủng hộ người nào?

6- Ít ngày sau, có một người đàn bà ngoại quốc vào chùa Xá Lợi gặp Thích Trí Quang và Ủy Ban Liên Phái, đưa ra một bản danh sách một chính phủ mới bằng tiếng Pháp do ông Nguyễn Tôn Hoàn cầm đầu và còn có một ban cố vấn tối cao trong đó có các sư tăng.

7- Về nhóm Trần Văn Lý. Có một người đến Chùa Xá Lợi gặp Thích Trí Quang và Ủy Ban Liên Phái nói là của ông Trần văn Lý phái đến, với một chương trình trong đó có nhiều điểm mà đương sự chỉ đọc vài điểm nội dung là bài xích chế độ, khuyến khích cổ võ cuộc tranh đấu của Phật giáo đứng lên thanh toán chế độ.

8- Về Nhóm Caravelle. Nhóm Caravelle cho người đến gặp Thích Trí Quang và Ủy Ban Liên Phái nhưng bị từ chối.


Cuối cùng đương sự Thích Thiện Minh thừa nhận chịu một phần trách nhiệm và có tội với Chính phủ vì đã tham gia lãnh đạo phong trào tranh đấu chống đối mà một số sư tăng theo lệnh của Thích Trí
Quang, cố ý kéo dài vì mưu đồ chính trị
.

Trong khoảng 1967 Tướng Nguyễn Ngọc Loan mở cuộc hành quân lục soát phòng của Thích thiện Minh tại Đại Học Vạn Hạnh, Sài Gòn, lực lượng an minh đã tịch thu được một số súng và một điện đài dùng
để liên lạc với Cục R Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam. Thích Thiện Minh bị Tướng Nguyễn Ngoc Loan bắt giữ.

4. Thích Thiện Siêu, trụ trì Chùa Từ Đàm-Huế

Họ và tên: Võ Trọng Thường
Pháp danh: Tâm Phật, Hiệu là Thiện Siêu.
Sinh ngày 15 tháng 7 năm Tân Dậu (1921)
Quê quán: làng Thần Phù, Huyện Hương Thủy Tình Thừa Thiên.
Xuất gia năm 14 tuổi (1935) tại chùa Quan Thánh tức chùa Ông, sau lưng chùa Diệu Đế.

- 1947 được cử trụ trì chùa Từ Đàm.

- 1963 Hội Trưởng Tỉnh Hội Phật Giao Thừa Thiên.

- 1963 tham gia tích cực vào các cuộc bạo loạn lật đổ đệ I Cộng Hòa.

Theo hồ sơ lưu trữ tại Trung Tâm Văn Khố Bộ Chỉ Huy Cảnh Sát Quốc Gia Thừa Thiên-Huế thì đương sự Võ Trọng Thường tức Thích Thiện Siêu là đảng viên cộng sản, bị Ty Công An Thừa Thiên (VNCH) bắt
giam vào ngày 20 tháng 8 năm 1963, can tội phá rối trị an.

- 1974 Tổng Thư Ký Viện Hóa Đạo PGVNTN.

Đảng viên cộng sản, với 43 năm tuổi đảng.

- 1981 tham gia phái đoàn Phật giáo quốc doanh tham dự hội nghị tôn giáo vì Hòa Bình tại Moscow, Nga Sô.

- Tháng 9 năm 1985 Trưởng Phái Đoàn Phật giáo Việt Nam thăm viếng hai nước Nga và Mông Cổ.

- Bắt đầu từ tháng 4 năm 1987 được bầu vào Đại Biểu Quốc Hội nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam liên tiếp 3 khóa: khóa 8, khóa 9 và khóa 10.

- 1989 đại diện Phật giáo Việt Nam tham dự hội nghị Hòa Bình Á Châu tại Mông Cổ.

- 1994 trưởng phái đoàn Phật giáo Việt Nam thăm viếng Ấn Độ.

- 1995 với tư cách thành viên của Quốc Hội, tháp tùng cùng với tên Chủ Tịch Nông Đức Mạnh thăm viếng một số nước Đông Âu và Nghị Viện Âu Châu.

- 1999 Trưởng Phái đoàn đại diện Giáo Hội Phật giáo Việt Nam sang thăm viếng Phật giáo Trung Cộng.

- Năm 2000 nhận lãnh Huân Chương Đập Lập hạng nhì do nhà nước Cộng Hòa Xã Hội Chũ Nghĩa Việt Nam Trao tặng.

Năm 2001 được Ủy ban Tôn Giáo trong Mặt Trận Tổ Quốc của nhà nước CHXHCNVN tuyên dương công trạng.


CHÙA TỪ ĐÀM, TRUNG TÂM THẨM VẤN, PHÂN LOẠI TÙ DÂN SỰ CỦA CỘNG QUÂN TRONG TẾT MẬU THÂN 1968

Trong suốt 22 ngày làm chủ tình hình Huế, Cộng quân đã dùng Chùa Từ đàm làm nơi giam giữ, thẩm vấn, phân loại các tù dân sự mà lực lượng an ninh của khu ủy Trị Thiên của Tống Hoàng Nguyên, lực lượng Công An Thừa Thiên-Huế của Nguyễn Đình Bảy và đoàn Vũ Trang Thanh Niên của Nguyễn Đắc Xuân bắt từ các nơi trong thành phố Huế được giải về giam giữ tại chùa Từ Đàm để Ban An Ninh, Ban Thẩm Vấn của bọn chúng tra khảo xử tội.

Một số nhân chứng sau này đã khai báo rõ ràng với Bộ Chỉ Huy Cảnh Sát Quốc Gia Thừa Thiên-Huế rằng họ bị bắt tại các nơi trong thành phố Huế, sau đó cộng quân đã giải họ lên giam giữ tại chùa Từ Đàm. Họ bị bộ phận an ninh của Việt Cộng đánh đập thẩm cung. Cũng đã có những vụ xử bắn ngay tại chùa Từ Đàm, xác nạn nhân được chôn trong khuôn viên chùa.

Được hỏi cơ may nào những nạn nhân này trốn thoát được, số nhân chứng trên cho biết rằng trong những ngày bị giam giữ tại Từ Đàm, có nhiều đêm trong vùng Bến Ngự, Nam Giao, Từ Đàm bị pháo binh bắn liên hồi, hàng ngũ bọn Việt Cộng rối loạn, đó là lúc nếu can đảm liều mạng thì có thể trốn thoát. Một số khác trốn thoát được nhờ khi cộng quân giải họ từ chùa Từ Đàm đi lên núi, lợi dụng bóng đêm họ lách mình trốn vào bụi rậm.

Chùa Từ Đàm trở thành trung tâm thẩm vấn khai thác hành hạ tù nhân và là pháp trường xử bắn kẻ vô tội trong suốt 22 ngày cộng quân chiếm Huế. Đây là một sự thật không thể che đậy. Thật là đau lòng, bọn vô thần và đám cơ sở nằm vùng đã dùng nơi thờ cúng tôn nghiêm biến thành lò sát sinh vấy máu dân lành vô tội.

Xin đơn cử một vài trường hợp điển hình:

Ba bác sĩ người Đức giáo sư Đại Học Y khoa Huế là:

-Bác sĩ Raimun Discher
-Bác sĩ Hort Gunther Kramick
-Vợ của bác sĩ Hort Gunther Kramick
-Bác Sĩ Slois Alterkoster.


Bốn công dân người Đức này bị giam giữ tại chùa Từ Đàm và sau đó đem đi chôn sống.

Gần 400 thanh niên làng Phủ Cam cũng bị giam giữ tại chùa Từ Đàm trước khi dẫn họ lên Khe Đá Mài, vủng núi Quận Nam Hòa, phía tây thành phố Huế và hạ sát họ tại đó.

Nhiều Quân Cán Chính, VNCH và anh em Cảnh Sát thuộc BCH/CSQG/Thừa Thiên-Huế bị bắt, cộng quân giải họ về giam giữ tại chùa Từ Đàm, sau khi thẩm cung, một vài người đã bị bọn chúng xử bắn hoặc chôn sống ngay trong khuôn viên của chùa. Xin đơn cử một trường hợp điển hình:

- Anh Trần Văn Em là nhân viên Cảnh Sát Đặc Biệt thuộc Bộ Chỉ Huy Cảnh Sát Quốc Gia Thừa Thiên-Huế. Nhà của anh Trần Văn Em chỉ cách chùa Từ Đàm khoảng ba trăm mét, Anh Trần Văn Em bị bắt tại
nhà vào ngày mùng 4 Tết và bị cộng quân đem vào giam tại chùa Từ Đàm. Theo lời vợ anh Trần Văn Em kể lại, khi anh bị bắt chị đã chạy theo vào chùa Từ Đàm đem thêm áo lạnh, thuốc men, và thực phẩm cho anh. Ngày hôm sau chị trở lại, bọn an ninh từ chối không cho chị gặp mặt chồng nữa.

Sau ngày cộng quân rút khỏi chùa Từ Đàm, vợ anh Trần Văn Em đã tìm ra xác của anh Trần Văn Em ngay tại một hầm xác 3 người tại bờ rào của chùa Từ Đàm, trong đó có xác của Trung sĩ Thọ phục vụ tại phòng I của Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 1BB. Nhà của Trung sĩ Thọ cách nhà của anh Trần Văn Em chỉ một bờ rào. Hai người bị bắt cùng ngày mùng 4 Tết.

Sau Mậu Thân, rất nhiều đồng bào Huế ngạc nhiên, hỏi tại sao Cộng quân lại dùng chùa Tù Đàm làm nơi giam giữ tù nhân, tra khảo, và giết người tại đó? Trong chức vụ của người phụ trách an ninh tình báo tại Thừa Thiên Huế, chúng tôi xin trả lởi câu hỏi đó như sau:

Tình báo chiến lược cộng sản Hà Nội đặt vấn đề cài cán bộ vào tôn giáo là một chiến lược quan trọng hàng đầu, và vì vậy chúng đã cài đặt được rất nhiều cán bộ vào lãnh vực này. Đặc biệt là Phật giáo Ấn Quang tại Miền Trung. Trí Quang, Đôn Hậu, Chánh Trực là những cán bộ hoạt động nổi trong các phong trào quần chúng đấu tranh nổi dậy tại đô thị, tỷ dụ như cuộc đảo chánh lật đổ nền đệ I Cộng Hòa 1963, qua các cuộc biểu tình lên đường xuống đường, bạo động xảy ra triền miên từ sau 1963-1966 và đặc biệt qua cuộc làm loạn vào năm 1966 tại Miền Trung của Trí Quang và Đôn Hậu.

Tình báo Hà Nội cũng đã gài cán bộ hoạt động âm thầm, bí mật chìm sâu trong Phật giáo Ấn Quang tại Miền Trung, điển hình là Thích Thiện Siêu trụ trì chùa Từ Đàm. Thích thiện Siêu cùng Thích Trí Quang sau 1963 đã biến Chùa Từ Đàm thành trung tâm quyền lực nhất nước, chùa Từ Đàm là Dinh Độc Lập thứ 2 tại miền Nam Việt Nam từ sau 1963-1966.

Thích Thiên Siêu trụ trì chùa này thực sự là một cán bộ tình báo của cục tình báo cộng sản chứ không phải tu hành gì cả, vì lý do đó mà chùa Từ Đàm đã được tổ chức và chuẩn bị để trở thành một trung tâm thẩm vấn giam giữ tội nhân Mậu Thân. Thích Thiện Siêu chịu trách nhiệm tổ chức trung tâm thẩm vấn này. Hoạt động trong tổ tình báo này gồm có:

- Đoàn Công Lập, Trưởng Ty Cảnh Sát Quốc Gia Thừa Thiên-Huế (1966-1968).
- Bác Sĩ Hoàng Bá, có phòng mạch nằm trên đường Phan Chu Trinh gần cầu Nam Giao.
- Thích Thiện Siêu Trụ trì chùa Từ Đàm.

Trạm giao liên của bọn chúng là phòng mạch của Bác sĩ Hoàng Bá.

Ngoài ra Thích Thiện Siêu và Đoàn Công Lập còn dùng chùa Trúc Lâm làm nơi trao đổi tin tức, gặp mặt. Vị trí chùa Trúc Lâm nằm quá Cầu Lim về phía bên tay trái từ đàn Nam Giao đi lên, cạnh ngôi mộ lớn của ông Hồ Đắc Trung.

Phải nói rõ từng chi tiết như vậy để trả lời câu hỏi tại sao cộng quân lại dùng chùa Từ Đàm làm nơi giam giữ thẩm vấn tù nhân mà không là nơi khác?

Thứ nhất vì Thích Thiện Siêu là một cán bộ tình báo Việt Cộng nên Từ Đàm từ lâu đã là cơ sở căn cứ lõm của tên này, thứ hai chùa chiền biểu tượng của tôn giáo mà chính phủ cũng như quân lực VNCH không bao giờ muốn tấn công oanh tạc, rất an toàn, do đó chùa Từ Đàm là nơi lý tưởng để đặt làm trung tâm thẩm vấn.

5. Đệ Ngũ Tăng Thống GHPGVNTN
Thích Quảng Độ. Nhân Vật Này Là Ai?


Thích Quảng Độ tên thật là Đặng Phúc Tuệ.
Sinh ngày: 27/11/1928.
Tại: Xã Thanh Châu, Huyện Tiền Hải, Tỉnh Thái Bình, Bắc Việt.
Pháp danh: Quảng Độ.
Thân Phụ: Đặng Phúc Thiều.
Thân Mẫu: Đào Thị Huân.
Gia đình làm nghề nông.
Gia đình có 3 anh em trai, anh cả là Đặng Phúc Trinh, anh thứ là Đặng Phúc Quang, và đương sự là con út trong gia đình.

1934 - Theo học trường làng.

1942 - Xuất gia theo Hòa Thượng Đức Hải trụ trì chùa Linh Quang, thuộc xã Thanh Sam, huyện Ứng Hòa, Tỉnh Hà Đông, Bắc phần. Sau đó học tại học viện Quán Sứ tại số 73 Quán Sứ, Hoàn Kiếm, Hà Nội.

1951 - Thích Quảng Độ được Hòa Thượng Tố Liên, Tổng Hội Trưởng Tổng Hội Phật Giáo và là Trụ Trì chùa Quán Sứ tại số 73 Quán Sứ, Hoàn Kiếm, Hà Nội, cử đi Tích Lan theo học tại học viện Kelaniya
Pirivana.

1963 tại chùa Quán Sứ, tại số 73 Quán Sứ, Hoàn Kiếm, Hà Nội,
Hồ Chí Minh xuất hiện cùng phái đoàn thượng khách của y.

 

1953 - Qua Ấn Độ học tại học viện Vishsabharati University, Santiniketan ở tây Bengal.

1958 - Thay vì trở về lại miền Bắc với Hòa Thượng Tố Liên thuộc Tổng Hội Phật Giáo miền Bắc và với “Bác và đảng”, Thích Quảng Độ đã được bố trí xâm nhập vào Sài Gòn, Thủ đô miền Nam, qua lộ trình: Ấn Độ-Nam Vang (Cao Mên) - Tây Ninh-Sài Gòn, Chùa Ấn Quang.

1963 - Tham gia trong lực lượng Phật giáo Ấn Quang của Thích Trí Quang lật đổ chính thể Đệ I Việt Nam Cộng Hòa với chức vụ Ủy Viên Báo Chí của Ủy Ban Liên Phái do Thích Trí Quang thành lập.

Từ sau 1963 khi mà cuộc nổi loạn thành công giựt sập chính thể Đệ I Việt Nam Cộng Hòa, sát hại Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa Ngô Đình Diệm, và những năm kế tiếp 1964-30/4/1975, Thích Quảng Độ là
một trong những nhân vật chủ chốt của Thích Trí Quang hăng say tham gia mọi cuộc biến động và bạo loạn của GHPGVNTN. Mưu đồ của GHPGVNTN lúc này là nhằm lật đổ Đệ II Việt Nam Cộng Hòa tạo điều kiện thuận tiện cho cộng sản Bắc Việt thôn tính miền nam Việt Nam bằng những cuộc biểu tình bạo động, tuyệt thực, tự thiêu, chiếm tài sản, công ốc của chính phủ, kêu gọi đình công bãi thị, kêu gọi học sinh, sinh viên bãi khóa, và chiếm giữ các tỉnh miền trung Việt Nam.

Ngày 9 tháng 4 năm 1967 trên tờ New York Times, Thích Quảng Độ cùng Thích Trí Quang, Cao Ngọc Phượng đăng bài báo phản chiến một chiều chống lại cuộc chiến chống Cộng của chính phủ Đệ II Việt Nam Cộng Hòa và sỉ nhục QL/VNCH. Nhóm Thích Quảng Độ và Thích Trí Quang đã đánh lừa thế giới khi viết rằng nhân dân miền Nam muốn chiến tranh chấm dứt. Hầu hết không phải Việt cộng nhưng nếu không chấm dứt thì họ sẽ tham gia vào Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam. Chính quyền Nam Việt Nam hiện nay không phải là chính quyền của họ và không đại diện cho nhân dân. Chính quyền này do Mỹ áp đặt lên họ và được điều khiển bởi những tên lính đánh thuê cho Pháp chống lại nhân dân Việt Nam trước 1954. Nếu họ được bầu cử tự do, chính quyền này không tồn tại một ngày. Họ muốn tự họ giải quyết vấn đề Việt Nam bằng cách điều đình với Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam và Bắc Việt cũng như sự rút quân của Mỹ (6).

 

Ảnh phóng to đoạn cuối bài báo ngày 9/4/1967 trên tờ New York Times
nói trên là chữ ký của sư tăng chỉ huy của GHPGVNTN là Thích Trí Quang
và Thích Quảng Độ.


Bài báo ngày 9/4/1967 trên tờ New York Times,
đồng tác giả là Thích Trí Quang, Thích Quảng Độ, Cao Ngọc Phượng...

 

Bài báo ngày 20/10/1974,
ký giả Washington Post phỏng vấn Thích Quảng Độ.

 

Vào ngày 20 tháng 10 năm 1974 trên tờ Washington Post, Thích Quảng Độ tuyên bố rằng nếu Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu không từ chức thì Phật giáo Việt Nam Thống Nhất sẽ kéo ông ta xuống (7). Những tháng, những ngày, trong cơn hấp hối của miền nam Việt Nam, thì chính Quảng Độ cùng với Trí Quang và Nhất Hạnh đứng ra hô hào, kêu gọi, thậm chí gởi lời hăm dọa trên báo chí Quốc tế yêu cầu Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu từ chức để bọn chúng điều đình với cộng sản miền Bắc.

Cuối cùng chính lực lượng Phật giáo Việt Nam Thống Nhất của bọn chúng đã đón quân cộng sản vào Thành phố Sài Gòn vào ngày 30/4/1975, và cũng chính bọn chúng tổ chức ngày lễ sinh nhật cho tên Hồ
Chí Minh tại chùa Ấn Quang.

Câu hỏi được đặt ra cho những người việt tỵ nạn cộng sản cũng như cho những Phật tử chân chính:

Nhân Vật Đệ Ngũ Tăng Thống GHPGVNTN Thích Quảng Độ, Quốc gia hay cộng sản?

Xin đi từ, lý lịch, đến các hoạt dộng của Quảng Độ chúng ta sẽ có kết luận rõ ràng, minh bạch về Quảng Độ:

1) Thích Quảng Độ xuất thân từ một gia đình, một tầng lớp xã hội thấp. Cha mẹ làm nghề nông, không là địa chủ tại địa phương tại Xã Thanh Châu, Huyện Tiền Hải, Tỉnh Thái Bình. Đó là điều kiện đầu tiên để cộng sản kết nạp vào phong trào, vào tổ chức, vào đảng.

2) Xuất gia vào năm 1942, 14 tuổi, sau đó được vào học tại Học Viện Quán Sứ Hà Nội. Học viện Quán Sứ Hà Nội là nơi đào tạo cán bộ Phật giáo của đảng cộng sản Việt Nam thời bấy giờ. Những kẻ tốt nghiệp từ Học Viện Phật giáo Quán Sứ Hà Nội là những cán bộ Tôn Giáo vận.

3) Năm 1951, Phúc Tuệ (Quảng Độ), 23 tuổi, được Hòa Thượng Thích Tố Liên là Tổng Hội Trưởng Tổng Hội Phật Giáo Bắc Việt cử đi Tích Lan du học. Hòa Thượng Thích Tố Liên là ai mà sao lại có quyền gởi Thích Quảng Độ xuất ngoại du học? Thích Tố Liên là đảng viên cộng sản, là cán bộ cộng sản cao cấp, là cánh tay mặt của Hồ Chí Minh phụ trách về Phật giáo. Thích Tố Liên giữ chức Tổng Hội Trưởng Hội Phật giáo. Đây là tổ chức Phật giáo quốc doanh của cộng sản Việt Nam lúc bấy giờ.

Như tôi đã trình bày ở phần đầu cuốn sách, chính Thích Trí Quang trước đó cũng đã soạn thảo một đề án tổ chức và thống nhất Phật giáo toàn quốc và soạn thảo hiến chương. Mùa Xuân 1946, chính Thích Trí Quang đã gởi các bản soạn thảo này đến Hồ Chí Minh. Mùa hè 1946, chính Thích Tố Liên đã nhận các bản soạn thảo này từ tay Hồ Chí Minh trao lại để thực hiện đề án. Theo Thích Trí Quang, năm 1946, do đang tiến hành thành lập Phật Học Viện nên chưa ai có thời gian để thực hiện đề án nói trên. Như vậy việc du học của Thích Quảng Độ vào năm 1951 không phải là tình cờ, là riêng tư, mà là một sự sắp đặt của đảng cộng sản Việt Nam qua Thích Tố Liên, bố trí cho Thích Quảng Độ du học ngoại quốc trong một kế hoạch lâu dài của cơ quan tình báo cộng sản Việt Nam để đưa Thích Quảng Độ vào hoạt động tại miền nam Việt Nam.

Bằng chứng rõ ràng để chứng minh lập luận này là đúng là sau khi học xong ở Ấn Độ, Thích Quảng Độ thay vì trở về miền Bắc, y đã xâm nhập vào miền nam Việt Nam và có mặt tại Sài Gòn, thủ đô miền nam Việt Nam vào 1958. Bằng phương tiện nào và từ hướng nào Thích Quảng Độ xâm nhập lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa? Cho đến hôm nay người có thể trả lời câu này chính là đương sự Thích Quảng Độ.

Một điều chắc chắn là Thích Quảng Độ không thể vào miền nam Việt Nam bằng Visa do chính phủ Việt Nam Cộng Hòa cấp, vì y là công dân của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa của Hồ Chí Minh. Bản thân đương sự được cộng sản Việt Nam gởi đi học tại Ấn Độ thì không có lý do gì y vào Sài Gòn bằng Visa của chính phủ Việt Nam Cộng Hòa cấp. Vậy thì con đường xâm nhập vào Nam Việt Nam có thể là bằng ngã đường Thái Lan? Lào? Cao Miên? Vấn đề này tình báo cộng sản Việt Nam vẫn còn giữ kín, vì cho đến giờ này hành tung của Thích Quảng Độ vẫn chưa bị lộ.

4) “Khổ Nhục Kế” để trở thành đối lập “cuội”. Vở kịch khổ nhục kế muôn đời từ cổ chí kim, từ đông sang tây, các cơ quan tình báo của mọi quốc gia trên quả đất này đều diễn đi diễn lại cả hằng triệu lần để đánh lừa dư luận quần chúng và đánh lừa đối thủ. Nếu đạo diễn và diễn viên xuất sắc, tuồng trình diễn sẽ rất thành công, khán giả vỗ tay hoan hô nhiệt liệt. Sau đây là kịch bản “Ngài Tăng Thống Thích Quảng Độ đang ngày đêm đối đầu trực diện với cộng sản”:

Đạo diễn là Tổng Cục 2 Tình báo Chiến lược của cộng sản Việt Nam. Diễn viên chính: Tài tử Đặng Phúc Tuệ, bí danh Thích Quảng Độ.

Diễn viên phụ: Võ Văn Ái đóng vai thằng mõ.

Màn thứ I của kịch bản: Khổ Nhục Kế.

Theo lời loan truyền của Võ Văn Ái thì:

Ngày 6/4/1977: Thích Quảng Độ bị bắt vì tội chống đối nhà nước, bị giam 18 tháng (ai biết ai chứng nhận đương sự bị giam mà chỉ nghe diễn viên thằng mõ Võ Văn Ái rao truyền mà thôi), và ngày 10/12/1978 Tòa án Nhân Dân Thành phố Hồ Chí Minh tuyên án 2 năm tù treo.

Ngày 25/2/1982 bị trục xuất ra khỏi Sài Gòn, đưa về nguyên quán tỉnh Thái Bình Bắc Việt. Lệnh trục xuất này không từ tòa án mà do quyết định của Ủy Ban Nhân Dân Thành phố Hồ Chí Minh quyết định số: 71/QĐ 8/7/1982. Thích Quảng Độ ở tại tỉnh Thái Bình 10 năm từ 25/2/1982 đến 1992 thì tự động rời tỉnh Thái Bình đi vào Sài Gòn, và từ đó bị quản thúc tại Thanh Minh Thiền Viện cho đến nay 2013.

Vẫn theo Võ Văn Ái từ khi bị quản thúc tại Thanh Minh Thiền Viện “Ngài Quảng Độ” đã chịu bao nỗi đắng cay khổ cực, ăn uống không đầy đủ, không được tiếp xúc với thế giới bên ngoài, một chế độ quản thúc hết sức khắc nghiệt, thế nhưng “Ngài vẫn trực diện đối đầu với cộng sản, chống cộng đến cùng, v.v.” Đó là những gì mà Võ Văn Ái, Trưởng Phòng Thông Tin Văn Phòng II Viện Hóa Đạo tại Paris, Pháp quốc phổ biến.

Thế nhưng thực tế không phải như vậy. Thực tế chứng minh bằng tài liệu, bằng hình ảnh, bằng thông tin báo chí, truyền thanh, cho thấy những điều mà chính Thích Quảng Độ tuyên bố và những điều mà Võ Văn Ái phổ biến đã sai sự thật một trăm phần trăm, toàn là láo khoét và lường gạt đồng bào Phật tử, trong vai trò đối lập cuội do đảng cộng sản Việt Nam sắp đặt mà thôi. Đã hai lần tôi yêu cầu ông Thích Quảng Độ và Võ Văn Ái giải thích và chứng minh những gì mà ông ta đã tuyên bố và Võ Văn Ái đã loan truyền tại hải ngoại về vai trò chống cộng của ông Thích Quảng Độ và nhóm Phật giáo Việt Nam Thống Nhất mà ông ta là Tăng Thống. Lần thứ 1 tôi gởi thư bằng certified mail, và lần thứ 2 trên Đài Truyền Hình băng tần 57.10 phát đi từ Cali, USA. Tôi đã yêu cầu đối chất công khai với họ dưới sự tham dự của đồng bào và giới báo chí, truyền thanh và truyền hình quốc tế và Việt Nam tại hải ngoại. Thế nhưng cả hai lần ông Quảng Độ vẫn từ chối. Vì thế buộc lòng tôi phải mở cuộc họp báo tại Đài Truyền Hình 57.10 mời đại diện Văn Phòng II Viện Hóa Đạo Hải Ngoại tranh luận với chúng tôi về việc Phật giáo Việt Nam Thống Nhất vu khống hai chính thể Việt Nam Cộng Hòa là hai chính thể của ngoại bang, và bôi nhọ người lính Việt Nam Cộng Hòa là lính đánh thuê cho Hoa Kỳ. Họ đã không đến tham dự.

Theo Võ Văn Ái từ khi bị quản thúc tại Thanh Minh Thiền Viện từ 1992 đến nay, Ngài Quảng Độ đã chịu bao nỗi đắng cay khổ cực, ăn uống không đầy đủ, không được tiếp xúc với thế giới bên ngoài, một chế độ quản thúc hết sức khắc nghiệt, thế nhưng ‘Ngài vẫn trực diện đối đầu với cộng sản’, chống cộng đến cùng, v.v. Đó là những gì mà Võ Văn Ái, Trưởng Phòng Thông Tin Văn Phòng II Viện Hóa
Đạo tại Paris, Pháp quốc phổ biến.
”...

Nhưng xin đồng bào mọi giới từ trong nước đến hải ngoại hãy nhìn vào những bức hình mà tôi đưa ra dưới đây để thấy sự láo lường, dối gạt đáng kinh tởm của võ văn Ái, của tên cộng sản Quảng Độ nằm
vùng trong Phật Giáo.

 

Tướng công an cộng sản Mai Chí Thọ (trái)
đang tươi cười với Thích Quảng Độ.


3/1990 tại Hà Nội, thầy Quảng Độ “bị lưu đày” (?).
Còn thầy Quảng Độ nào lại xuất hiện ngồi ghế chủ tọa
bên cạnh số cán bộ cộng sản như Nguyễn Tương Lai
(Thành viên Ủy ban Trung ương Mặt Trận Tổ quốc Việt Nam;
Thành viên nhóm tư vấn các Thủ Tướng cộng sản Việt Nam
là Võ Văn Kiệt và Phan Văn Khải từ 1990-2006),
Mai Xuân Hải, Nguyễn Văn Phát, Trương Đình, và Vũ Tá Nhí?


19/3/1999 tại Quảng Ngãi, thầy Quảng Độ “bị quản chế” (?).
Còn thầy Quảng Độ nào đi từ Sài Gòn ra Quảng Ngãi và
xuất hiện bên cạnh Thích Huyền Quang?


9/10/2003 tại Khánh Hòa, thầy Quảng Độ “bị quản chế” (?).
Còn thầy Quảng Độ nào cùng Thích Tuệ Sỹ (trái) đi từ Sài Gòn
ra Khánh Hòa như thế này?


9/10/2003 tại Khánh Hòa, Thích Quảng Độ (X) tại chùa
Linh Sơn, Vạn Giả, tỉnh Khánh Hòa.


Phường 10, Quận Phú Nhuận, tay xách ống loa tay cầm bị bạc?
17/5/2007 tại Sài Gòn, thầy Quảng Độ “bị công an ngày đêm canh gác” (?).
Còn thầy Quảng Độ nào xuất hiện tại tiền đình trụ sở Văn phòng tay cầm bó bạc?


17/5/2007 tại Sài Gòn, thầy Quảng Độ “bị quản thúc tại gia” (?).
Còn thầy Quảng Độ nào lại cùng một số tăng lữ đi “thăm dân cho biết sự tình”?


27/5/2008 tại Bình Định, thầy Quảng Độ “bị quản thúc tại gia” (?).
Còn thầy Quảng Độ nào đi từ Sài Gòn ra Bình Định? Theo Võ văn Ái,
Ngài ăn uống không đầy đủ, Vậy thì ngài nào dây mặt mày
láng bóng tròn trịa như ông Địa?


2009, Thanh Minh Thiền Viện, nhìn bên ngoài.


2009, Thanh Minh Thiền Viện là một ngôi chùa đồ sộ tại số
90 Trần Huy Liệu, Phường 15, Quận Phú Nhuận, Sài Gòn. Cộng sản
để cho thầy Quảng Độ ở trong một ngôi chùa đồ sộ giữa Sài Gòn
nhộn nhịp, một địa điểm nằm trong tầm quan sát dễ dàng của nhân
dân và thế giới, rồi chúng bày binh bố trận canh gác ngày đêm.
Như vậy là thần tượng Thích Quảng Độ với “mấy chục năm trực diện
đối đầu cộng sản” được nặn xong.


2009, Thanh Minh Thiền Viện nhìn bên trong.


2010 tại Thanh Minh Thiền Viện, Sài Gòn. Để “hình tượng đối lập cộng sản”
thêm phần bóng bẩy trước ống kính thế giới, ông Quảng Độ mô tả cuộc sống của
ông ta chỉ là “Only one day, two meals, that’s all”, “cơm ngày hai bữa” thôi,
khi trả lời cuộc phỏng vấn của ký giả Oslo ngay tại Thanh Minh Thiền Viện tại Sài Gòn.


13/1/2011 tại Sài Gòn, ông Quảng Độ (X) “bị bọn công an cộng sản ngày đêm
canh gác chặt chẽ và giam cầm trong một căn phòng nhỏ ở Thanh Minh Thiền Viện
tại Quận Phú Nhuận”, lại xuất hiện và dẫn đầu phái đoàn tăng lữ đi vào chùa
Giác Hoa tại Quận Bình Thạnh. Ông Quảng Độ nào đây?


1/12/2012 tại chùa Giác Hoa, Quận Bình Thạnh, Sài Gòn, Quảng Độ (X)
chủ tọa cuộc họp thường niên và nghe báo cáo.


1/12/2012 tại Quận Bình Thạnh, Sài Gòn. Trong cuộc họp thường niên của
ông Thích Quảng Độ cùng một số chư tăng và Phật tử tại chùa Giác Hoa còn có
Việt gian cộng sản Lê Công Cầu (X) đứng phía trước và Thích Không Tánh (X) ngồi bên phải.

 

Đó là về vấn đề đối nội, còn về đối ngoại thì sự hoang tưởng và hài hước của ông Quảng Độ được phơi bày một cách lố bịch và ngạo mạn qua hai bức thư mà ông Quảng Độ và Võ Văn Ái gởi cho Tổng Thống Hoa Kỳ Obama ngày 27/2/2012 và ngày 5/3/2012. Ông Quảng Độ và Võ Văn Ái đã dám lừa cả Tổng Thống Hoa Kỳ Obama và chính phủ Hoa Kỳ bằng những lời lẽ như sau:

Trong thời đại khủng bố toàn cầu này, chỉ có Phật giáo là đóng vai trò chủ yếu trong việc chuyển hóa ôn hòa Việt Nam sang một xã hội đa nguyên... Xin lưu ý Tổng Thống về “tiềm lực” của Phật giáo trong việc “khai mở kỷ nguyên dân chủ mới, an ninh và hòa bình tại Á Châu-Thái Bình Dương và xa hơn nữa.”

[I hope that this past experience will help you, Mr. President, to have a clearer vision of “Buddhism’s potential in contributing to the emergence of a new era of democracy, security and peace in
Asia and the Pacific region” (Thích Quảng Độ, 27-2-2012).]

[“In this era of global terror, Buddhism can play an active role in maintaining stability in the Asia-Pacific region and beyond” (Võ Văn Ái, 5-3-2012).]

 

 

Bản copy bức thư Anh ngữ ngày 27/2/2012 của Ma Tăng Thích Quảng Độ.
Bức thư này cũng đã được Phòng Thông Tin Phật giáo Quốc Tế của
Việt gian cộng sản Võ Văn Ái phổ biến ngày 2/3/2012.



Bản copy bức thư Anh ngữ ngày 5/3/2012 của Việt gian cộng sản Võ Văn Ái.

 

Hai bức thư trên đã chẳng bao giờ nhận được hồi âm của Tổng Thống Hoa Kỳ Obama.

Ngoài ra, những sự kiện ông Thích Quảng Độ đã nêu ra qua thông cáo chính thức của tổ chức Phật giáo Việt Nam Thống Nhất trên cơ quan thông tin và phát ngôn chính thức của Viện Hóa Đạo tại hải ngoại với đề mục: Thông tư của Viện Hóa Đạo về các bài viết trên Mạng vu cáo hàng lãnh đạo Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất. Tổ chức Giáo Hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất bình luận về vấn đề Đệ Tam Tăng Thống Thích Đôn Hậu hoạt động cho cộng sản như sau.

1- Ông Thích Quảng Độ viết: “... Nghịch cảnh sau năm 1975 Ngài chống đối chính quyền cộng sản mãnh liệt, thế mà nay lại có một số người vừa xúc phạm Phật giáo, vừa vu cáo vô bằng cớ cá nhân ngài khi loan truyền lời điêu ngoa, thất thiệt ngài là Việt cộng...”

Thưa ông Quảng Độ, sau năm 1975 Thích Đôn Hậu có chống cộng hay không thì tôi sẽ đưa ra một số bằng chứng để chứng minh, còn trước 1975 ông ta từng hoạt động cho cộng sản là điều khẳng định. Mậu Thân 1968, Thích Đôn Hậu cầm đầu phái đoàn trí thức, tôn giáo theo lời mời của chính phủ cộng sản, ra Bắc để bốc thơm cho cộng sản. Phái đoàn phản nghịch này gồm có: Thích Đôn Hậu, Phó Chủ Tịch Liên Minh Dân Tộc Dân Chủ Hòa Bình năm 1968, đồng thời là thành viên trong Cố vấn đoàn Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam. Đào Thị Xuân Yến, còn gọi là bà Tuần Chi, Hiệu trưởng trường nữ Trung học Đồng Khánh. Lê Văn Hảo, Giáo sư nhân chủng học viện Đại học Huế, đồng thời là Chủ Tịch Liên Minh Dân Tộc Dân Chủ Hòa Bình, một lực lượng chính trị do Hà Nội thành lập chỉ có mấy ngày trước Mậu Thân 1968. Đương sự Lê Văn Hảo còn kiêm chức Chủ Tịch Ủy Ban Nhân Dân Cách mạng Tỉnh Thừa Thiên và Thị xã Huế. Trong lực lượng Liên Minh Dân Tộc Dân Chủ Hòa Bình còn có Giáo sư Tôn Thất Dương Tiềm, Giáo sư Nguyễn Đóa, v.v.

Tại Hà Nội vào năm 1970-1971, bọn nằm vùng phản nghịch nói trên này đã trở thành một công cụ tuyên truyền quan trọng của cộng sản. Chúng kết bè cùng nhau đi công du tại các nước cộng sản như: Mông Cổ, Trung Cộng, và Nga Sô phỉ báng chính phủ Việt Nam Cộng Hòa và tuyên truyền cổ võ cho Hà Nội về cuộc chiến xâm lăng miền nam Việt Nam.

Bọn nằm vùng phản nghịch Miền Nam này là tài sản quý của Bộ Chính Trị đảng cộng sản Việt Nam (theo lời của Lê Văn Hảo trong cuộc phỏng vấn của đài RFI do ký giả Nguyễn An thực hiện).

2- Ông Thích Quảng Độ viết: “Hội đồng lưỡng viện còn lưu giữ băng ghi âm Đức Cố Đệ Tam Tăng Thống kể lại thời kỳ ngài bị cộng sản đến chùa Linh Mụ, Huế, bắt đưa lên núi hồi tết Mậu Thân, ép buộc đưa ra Hà Nội.”

Vậy thì trước khi thẩm định giá trị lời tâm sự này của ông Thích Đôn Hậu, yêu cầu Hội Đồng Lưỡng Viện phải công khai phổ biến cuốn băng ghi âm theo như lời tuyên bố của mình. Tất nhiên chúng tôi không dễ dàng bị lường gạt bởi những cuốn băng giả. Nghề làm băng hình giả không có gì khó và chỉ là trò hề trước các phương tiện kỹ thuật giám định rất cao hiện nay.

3- Ông Thích Quảng Độ viết: “Trong năm 1978, sau mười lần cán bộ các cấp đến ép buộc Hòa Thượng ra ứng cử Đại Biểu Quốc Hội nhưng Hòa Thượng vẫn một mực khước từ.”

Thưa ông Quảng Độ, Thích Đôn Hậu là Đại Biểu Quốc Hội Khóa VI của nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam. Năm 1976, Thích Đôn Hậu là Ủy Viên Đoàn Chủ Tịch Ủy Ban Trung Ương Mặt Trận Tổ Quốc (tổ chức ngoại vi lớn nhất của đảng cộng sản Việt Nam). Như vậy ông Thích Đôn Hậu đã là một thành viên cộng sản một cách hiển nhiên. Vậy mà ông Thích Quảng Độ vẫn cố chối. Đây là bằng chứng nói láo thứ nhất của ông Thích Quảng Độ.

4- Ông Thích Quảng Độ viết: “Ngài bị quản thúc giữa thủ đô cộng sản ở Hà Nội.”

Thưa ông Thích Quảng Độ, hình ảnh “Ngài Đôn Hậu” xuất ngoại công du nhiều quốc gia cộng sản như Tàu, Nga, Mông Cổ với vẻ mặt vô cùng hớn hở hạnh phúc, v.v., vậy mà ông có thể mở miệng nói “ngài”
bị quản thúc tại Hà Nội hay sao?

Do đó, đây là bằng chứng nói láo thứ hai của ông Thích Quảng Độ.

5- Ông Quảng Độ còn viết rằng: “Nếu phải tố cáo hay quy trách nhiệm, thì phải quy trách nhiệm cho chính quyền Việt Nam Cộng hoà đã không làm tròn nghĩa vụ trong việc bảo vệ dân trong Tết Mậu Thân
khiến cho khắp nơi dân chúng bị đối phương tàn sát, đặc biệt ở Huế, khiến cho một bậc cao tăng Phật giáo như cố Đạo lão Hoà thượng Thích Đôn Hậu phải bị bắt đi trong đêm tối”...

Thứ nhất, chức vụ của Thích Đôn Hậu là Ủy Viên Hội Đồng Cố vấn Chính phủ Cách mạng Lâm Thời Cộng Hòa Miền nam Việt Nam. Chức vụ này là chức vụ của bọn cộng sản. Như vậy ông Thích Đôn Hậu là cộng sản, mà đã là cộng sản thì làm sao lại có việc bị cưỡng ép ra Bắc? Thật sự ông ta là khách mời vinh dự của Hà Nội. Vậy thì ai bắt ai đây? Cộng sản bắt ông ta đi hay ông ta bắt cộng sản đưa mình đi ra Bắc???

Thứ hai, dựa vào băng ghi âm lời tự thuật của Thích Đôn Hậu thì Đôn Hậu đã rất đồng ý với việc Phật giáo tranh đấu “Vạch trần tội ác Ngụy Quyền thì làm cho họ mất tất cả thể diện quốc nội, quốc ngoại. Như vậy không lợi cho Cách mạng thì là cái gì? Thành ra tuy là tranh đấu cho Phật giáo nhưng cũng làm lợi cho Cách mạng ở chỗ đó.”

Như vậy, chính miệng Thích Đôn Hậu đã xác định Phật giáo tranh đấu đã góp công phá hoại “Ngụy Quyền” và làm lợi cho cộng sản, tức là đương sự đã tự xác định Phật giáo tranh đấu đã biết mình là kẻ
phá hoại để dọn đường cho cộng sản xâm lược miền Nam. Thế thì ông Thích Quảng Độ không thấy ngượng hay sao khi quy trách nhiệm cho chính phủ Việt Nam Cộng Hòa phải bảo vệ an ninh cho một tên
Việt cộng, để tên này không đi ra đất Bắc? Khi chúng tôi đối đầu với bọn cộng sản trên chiến trường, ngay cả trước và sau biến cố Huế Thảm Sát Mậu Thân 1968, chúng tôi chưa từng chứng kiến bất cứ một tên Việt cộng nào trách móc ngược rằng “Ngụy Quyền” chúng tôi sao không bảo vệ cho hắn để hắn đâm sau lưng chúng tôi. Chúng tôi cũng chưa từng chứng kiến có một tên Việt cộng nào dám bắt “Ngụy Quyền” chúng tôi phải bảo vệ cho đồng bọn Việt cộng của hắn! Tại sao ông dám trách chúng tôi đã không bảo vệ an ninh cho một ông Việt cộng trong khi y gọi chính phủ chúng tôi là “Ngụy Quyền”, đồng thời bản thân ông lại có một hành tung không minh bạch?

Và do đó, phát biểu rằng tên Việt cộng Thích Đôn Hậu bị Việt cộng bắt đi trong đêm tối xem ra là một lời nói láo quá trắng trợn và lươn lẹo thứ ba của ông Thích Quảng Độ. Vì vậy, việc đổ trách nhiệm cho chính phủ Việt Nam Cộng Hòa không bảo vệ an ninh cho ông Việt cộng này là một lời nói vô giá trị và trơ trẽn.

Đã [có] quá nhiều bằng chứng Thích Đôn Hậu là cộng sản nằm vùng, đi Hà Nội là do sự tổ chức của Chính phủ Hà Nội và dĩ nhiên dưới sự ưng thuận của đương sự. Hà Nội hoàn toàn không bắt cóc hay cưỡng ép gì ông ta cả, ông ta tự ý đi theo giặc cộng thì hà cớ gì lực lượng an ninh của Việt Nam Cộng Hòa phải bảo vệ một tên nằm vùng muốn về với chủ của nó? Hành động vừa ăn cướp vừa la làng, gắp lửa bỏ tay chính phủ Việt Nam Cộng Hòa là hành động của những kẻ bất lương láo lừa, không nên là hành động của kẻ tu hành như ông Thích Quảng Độ.

6- Ông Thích Quảng Độ viết: “Gần đây tác nhân chính yếu trong chính tình Việt Nam là Hoa Kỳ vừa giải mật một số hồ sơ phơi bày diễn tiến chính sách Hoa Kỳ tại Việt Nam Cộng hoà thông qua sự thi hành của giới chính trị gia bản địa. Qua đó chưa thấy tài liệu nào cho biết GHPGVNTN hay hàng giáo phẩm lãnh đạo GHPGVNTN dính líu đến cộng sản.”

Đầu tiên, tôi có lời yêu cầu ông Thích Quảng Độ đưa ra những “tài liệu” giải mật của Hoa Kỳ xác định hàng Giáo Phẩm tổ chức Phật giáo Việt Nam Thống Nhất không dính líu đến cộng sản này. Tôi khẳng định với ông Thích Quảng Độ rằng chưa có tài liệu nào xác định rõ ràng tổ chức Phật giáo Việt Nam Thống Nhất không hoạt động cộng sản. Các ông đừng giở thủ đoạn dùng những bài bình luận rồi nói đó là tài liệu của CIA. Tài liệu là bằng cớ thật, còn bài bình luận chỉ là ý kiến không hơn không kém. Do đó, khẳng định rằng đây là lời nói láo thứ tư, đánh lận con đen của ông Thích Quảng Độ khi nói rằng chưa có tài liệu giải mật nào của Hoa Kỳ cho biết hàng giáo phẩm Phật giáo Việt Nam Thống Nhất hoạt động cho cộng sản. Đã có rất nhiều tài liệu giải mật của Hoa Kỳ về số tăng sĩ của Phật giáo Việt Nam Thống Nhất hoạt động cộng sản trong tổ chức Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam. Ông Thích Quảng Độ thừa biết, nhưng vẫn cứ nói láo. Tên tuổi các nhân vật họ Thích trong tổ chức Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam rất nhiều, chẳng hạn Thích Thiện Hoa, Thích Thiện Minh, Thích Trí Quang, Thích Quảng Liên, Thích Pháp Tri, Ni sư Huỳnh Liên, Thích minh Châu, Thích Huyền Quang, và Ông Thích Quảng Độ. Và còn quá nhiều...

Cán Bộ cộng sản Cao Cấp của Hà Nội, Đinh Văn Nam, Được gài vào hoạt động tại Miền Nam từ 1964 Chính Là:

Thượng Tọa Thích Minh Châu, Viện Trưởng Đại Học Vạn Hạnh, Kiêm Viện Trưởng Học Viện Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất tại Sài Gòn.

Đây là một nhân vật có hành tung rất bí mật, một tên cán bộ tình báo của chính phủ cộng sản Hà Nội được đưa vào miền nam Việt Nam qua tuyến đường Ấn Độ, tương tự như Thích Quảng Độ cũng đi vào miền nam bằng tuyến đường quốc gia Ấn Độ này.

Nhiệm vụ chính của Thích Minh Châu là điều khiển một trung tâm giáo dục tại Thủ đô miền nam với tên là Viện Đại học Vạn Hạnh. Đây là tên vỏ bọc và ngụy thức của một trung tâm đào tạo cán bộ Trí Thức Vận và dấy loạn cho cộng sản Hà Nội tại Sài Gòn, thủ đô của chính phủ VNCH. Tại trung tâm dấy loạn này, chính phủ cộng sản Hà Nội đã tung ra những cuộc biến loạn dưới hình thức các cuộc đấu tranh, bạo loạn của quần chúng tại đô thị, đã tạo ra rất nhiều khó khăn cho nhiều chính phủ của nền Đệ II Việt Nam Cộng Hòa. Cuối cùng cũng tại nơi đây vào sau ngày 30/4/1975, Đại học Vạn Hạnh là trung tâm của Ủy ban Quân Quản dành cho Dân, Quân, Cán Chính VNCH trình diện để đi vào các trại tù cải tạo do tên Nguyễn Trực là một phụ tá đắc lực của Thích Minh Châu và Thích Trí Quang làm Trưởng Ban Tiếp Nhận.

6. Thích Minh Châu

Tên thật là Đinh Văn Nam
Sinh ngày 20 tháng 10 năm 1918 và mất ngày 1 tháng 9 năm 2012, tại Sài Gòn, thọ 94 tuổi.
Chánh quán: Làng Kim Khê, xã Nghi Long, Huyện Nghi Lộc Tỉnh Nghệ An.
Sinh quán: Làng Kim Thành, tỉnh Quảng Nam.
Cha là Đinh Văn Chấp, đậu Tiến sĩ dưới triều nhà Nguyễn.
Mẹ là Lê Thị Đạt.

Đinh Văn Nam là con thứ 3 trong gia đình có 8 anh em: Anh trưởng là Đinh Văn Kinh, Đinh Văn Quang, Đinh Văn Nam (tức Hòa Thượng Thích Minh Châu), Đinh Văn Linh, Đinh Văn Phong, Đinh Thị Kim Hoài, Đinh Thị Kim Thai, và Đinh Thị Khang.

Đinh Văn Nam từng là học sinh trường Khải Định, Huế, tức trường Quốc Học sau này. Năm 1940, Đinh Văn Nam đậu Tú Tài Toàn Phần.

Cũng năm đó Đinh Văn Nam lập gia đình với cô Lê Thị Bé, con cụ Lê Văn Miến cùng làng. Vợ chồng Đinh Văn Nam sinh hạ được 2 con, người con trai đầu lòng tên là Đinh Văn Sương và người con gái là
Đinh Thị Phương.

Năm 1943, Đinh Văn Nam trở lại Huế và làm thư ký (thừa phái) cho tòa Khâm Sứ của Pháp ở Huế. Theo hồ sơ văn khố của Pháp để lại tại Bộ Chỉ Huy Cảnh Sát Quốc Gia Thừa Thiên-Huế thì Hòa Thượng Thích Trí Độ, Giám Đốc Trường An Nam Phật Học tại Huế, gia nhập vào đảng cộng sản vào năm 1941. Đinh Văn Nam và Võ Đình Cường gia nhập đảng cộng sản vào năm 1943. Như vậy cho thấy Đinh Văn Nam gia nhập đảng cộng sản tại Huế chứ không phải thời gian ở với vợ tại Nghệ An.

Vào tháng 8/1945, Việt Minh cướp chính quyền. Ông Đinh Văn Chất thân phụ của Đinh Văn Nam được Việt Minh mời giữ chức vụ Chủ Tịch Liên Việt Tỉnh Nghệ An. Như chúng ta đã biết cơ sở đầu tiên của
cộng sản Đông Dương được thiết lập là tại hai huyện Nam Đàn và Nghi Lộc tỉnh Nghệ An, giới sĩ phu theo đảng cộng sản rất đông trong đó có Đinh Văn Nam.

Ngoài ra em ruột của Đinh Văn Nam là Đinh Văn Linh là Đại Tá trong Bộ đội cộng sản Bắc Việt. Ngày 30/4/1975, Đinh Văn Linh là một trong những người được cộng sản gởi vào tiếp thu Sài Gòn.

Tóm lại, Thích Minh Châu tức Đinh Văn Nam đã gia nhập Mặt Trận Việt Minh từ đầu thập niên 1940 và trở thành đảng viên cộng sản vào năm 1943.

Vào khoảng gần cuối thập niên 1930, giới sĩ phu tại Bắc, Nam, Trung kỳ gia nhập Việt Nam Quang Phục Hội của Hoàng Thân Kỳ Ngoại Hầu Cường Để nổi lên chống đối thực dân Pháp khắp nơi. Phong trào này đã đẩy chính quyền bảo hộ Pháp vào tình trạng hết sức khó khăn và bọn thực dân Pháp gặp nguy hiểm trong việc đô hộ ba nước Việt, Miên, Lào. Toàn Quyền Pháp bấy giờ là Pasquier đã đưa ra một chính sách “Phong Trào Chấn Hưng Phật Giáo” và dùng phong trào này để vô hiệu hóa các cuộc nổi dậy chống Pháp của giới sĩ phu đương thời, đồng thời dùng họ để chống lại quân đội Nhật. Cho nên chúng ta không ngạc nhiên khi các nhân vật trụ cột, đảng viên của đảng cộng sản Đông Dương không bị chính quyền bảo hộ Pháp bắt bớ, thanh toán, mà ngược lại còn được Toàn Quyền Pháp Pasquier nâng đỡ, khuyến khích nhóm “Phong Trào Chấn Hưng Phật Giáo” của Bác sĩ Lê Đình Thám, Thích Trí Độ, Đinh Văn Nam tức Thích Minh Châu, Võ Đình Cường, Lê Dư, Trần Nguyên Chấn, v.v. Nắm được yếu điểm này của Toàn Quyền Pháp Pasquier, và qua các nhân vật đảng viên cộng sản Đông Dương kể trên, đảng cộng sản Đông Dương đã dùng Phật Giáo để phát triển và xây dựng cơ sở đảng.

Hồ sơ của Sở Liên Phòng Pháp cho thấy Bác sĩ Lê Đình Thám là đảng viên cao cấp của cộng sản Đông Dương nhưng đồng thời cũng là tình báo viên của Sở Liên Phòng Pháp. Ông Lê Đình Thám được Sở Liên
Phòng Pháp giao nhiệm vụ nằm vùng trong Phật Giáo tại Trung Kỳ. Cũng theo tài liệu của Sở Liên Phòng Pháp, Bác Sĩ Lê Đình Thám sinh ngày 1 tháng 1 năm 1897 tại Tỉnh Quảng Nam, tốt nghiệp trường Cao đẳng Y Khoa Đông Dương tại Hà Nội. Ông thành lập hội An Nam Phật Học tại Huế, văn phòng đặt tại chùa Trúc Lâm. An Nam Phật Học Hội bề nổi truyền bá Phật Giáo, bề chìm là hoạt động cho đảng cộng sản Đông Dương.

Cũng cần nói thêm chùa Trúc Lâm nằm về phía tây thành phố Huế. Từ dưới phố Huế đi lên chúng ta phải qua khỏi chùa Từ Đàm, qua khỏi Đàn Nam Giao (nơi các vị vua nhà Nguyễn làm lễ tế trời), đi qua khỏi cầu Lim chừng 200m, thì rẽ tay trái cuối con đường này là chùa Trúc Lâm. Mặt tiền của chùa Trúc Lâm nhìn sang là mộ của ông Hồ Đắc Trung và dòng tu Công giáo Thiên An. Chùa Trúc Lâm sau này là căn cứ vùng giáp ranh của cơ quan Thành ủy Việt Cộng Huế. Đây cũng là trạm giao liên và nơi hội họp của đám cơ sở nội tuyến hoạt động tại Thành phố Huế mà lực lượng tình báo, an ninh của Bộ Chỉ Huy Cảnh Sát Quốc Gia Thừa Thiên Huế đã phá vỡ và bắt giữ một số cán bộ quan trọng của Thành ủy Huế. Chẳng hạn như tên Trung Tá Điệp Viên cộng sản Hoàng Kim Loan, tên Đoàn Công Lập (Cựu Trưởng Ty Cảnh Sát Quốc Gia Thừa Thiên-Huế), Bác sĩ Hoàng Bá, Thích Thiện Siêu trụ trì chùa Từ Đàm, v.v.

Võ Đình Cường và Đinh Văn Nam là hai đệ tử ruột, là cánh tay mặt tay trái của Bác sĩ Lê Đình Thám. Trong thời gian này Đinh Văn Nam đảm nhận chức vụ Chánh Thư Ký của Hội An Nam Phật Học. Vào
năm 1940, Bác sĩ Lê Đình Thám cho thành lập Đoàn Thanh Niên Phật Học, giao cho Phạm Hữu Bình làm đoàn trưởng và Đinh Văn Nam tức Thích Minh Châu làm đoàn phó. Cuối năm 1947, Hội An Nam Phật Học hoạt động trở lại sau một thời gian vì chiến cuộc và đặt trụ sở tại 1B, đường Nguyễn Hoàng, Huế. Ngày 18/1/1948 theo chỉ thị của đảng cộng sản, Võ Đình Cường ra mắt tổ chức mới gọi là “Gia Đình Phật Hóa Phổ” tại chùa Từ Đàm, có sự hiện diện của Đinh Văn Nam, Tống Hồ Cầm, Hoàng Thị Cúc, Cao Chánh Hựu, và Văn Đình Hy.

Năm 1948, theo sự phân chia công tác hoạt động đảng của Bác sĩ Lê Đình Thám, Võ Đình Cường hoạt động trong giới Phật Tử, còn Đinh Văn Nam hoạt động trong giới tăng sĩ. Năm đó Đinh Văn Nam đã 30
tuổi.

Đinh Văn Nam xin nhận Hòa Thượng Thích Tịnh Khiết, trụ trì Chùa Tường Vân, làm sư phụ. Năm 1949, Hòa Thượng Thích Tịnh Khiết cho Đinh Văn Nam thọ giới tại giới đàn Hộ Quốc tại chùa Bảo Quốc với
Pháp tự là Minh Châu.

Năm 1952, Thích Minh Châu được cho đi Sri-Lanka rồi qua Ấn Độ học tại Đại Học Bihar, đậu Tiến sĩ Phật Học vào năm 1961.

Thời chính phủ Nguyễn Khánh, Viện Hóa Đạo PGVNTN bằng một văn thư chính thức yêu cầu chính phủ Nguyễn Khánh cho ông Thích Minh Châu về Sài Gòn để giữ chức vụ Viện Trưởng Viện Đại học Vạn Hạnh sắp được thành lập. Văn thư chính thức này Viện Hóa Đạo PGVNTN gởi cho Tướng Khánh vào năm 1964.

Tướng Khánh cho lệnh cơ quan an ninh điều tra lý lịch Đinh Văn Nam tức Thích Minh Châu. Sau đó cơ quan an ninh đã phúc trình với Tướng Khánh như sau:

Đinh Văn Nam tức Thích Minh Châu đã vào đảng cộng sản từ năm 1943. Đinh Văn Nam có vợ và hai con đang ở miền Bắc. Đồng thời Tòa Đại Sứ của VNCH ở Ấn Độ đã phúc trình rằng: Thời gian ở Ấn Độ, Thích Minh Châu đã và đang hoạt động cho cộng sản Hà Nội. Họ đưa ra hai bằng chứng:

1) Năm 1952, Trung Cộng mở hội nghị quốc tế gọi là Hội Nghị Hòa Bình Châu Á và Thái Bình Dương ở Bắc Kinh. Đảng cộng sản Hà Nội gởi một phái đoàn sang tham dự. Trưởng phái đoàn là Luật Sư Nguyễn Mạnh Tường. Thích Minh Châu từ Ấn Độ qua Bắc Kinh tham gia với phái đoàn.

2) Ngày 10/2/1958, Hồ Chí Minh qua Ấn Độ vận động Tổng Tuyển Cử và thống nhất Việt Nam, Thích Minh Châu là Trưởng Ban Tiếp Đón Hồ Chí Minh và là Thông Dịch Viên chính của Hồ Chí Minh.

Tướng Khánh đã thông báo mọi sự kiện này cho Viện Hóa Đạo PGVNTN biết và kết luận rằng:

“Rất tiếc chính phủ không để cho Thích Minh Châu vào nước được vì ông ta đang làm việc cho chính phủ cộng sản Hà Nội”.

Thế nhưng Viện Hóa Đạo và Thích Trí Quang không chịu, và đe dọa nếu Thích Minh Châu không được chấp thuận vào nước để giữ chức vụ Viện Trưởng Viện Đại Học Vạn Hạnh thì Phật Giáo sẽ “Hành động”.

Tướng Nguyễn Khánh và chính phủ của ông ta buộc lòng phải chấp thuận rước Việt cộng vào ngay trung tâm đầu não của chính phủ VNCH và thảm họa tất nhiên là ngày 30/4/1975. Tướng Nguyễn Khánh đã phê trong hồ sơ của Thích Minh Châu: “Cho vào và theo dõi.

Thích Trí Quang và Viện Hóa Đạo đã dùng ảnh hưởng và thế lực của Phật giáo Việt Nam Thống Nhất ép Thủ Tướng Nguyễn Khánh để đưa Điệp Viên Đinh Văn Nam tức Thích Minh Châu của Hà Nội, công khai,
hợp pháp, bằng visa của Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa đi từ Ấn Độ đến Sài Gòn để giữ chức vụ Viện Trưởng Viện Đại học Vạn Hạnh. Thích Minh Châu dùng vỏ bọc hợp pháp là Viện Trưởng Đại học Vạn Hạnh để hợp pháp thi hành công tác điệp báo của Cục Tình Báo Chiến Lược cộng sản miền Bắc.

Thật ra nếu nói Viện Hóa Đạo của Phật giáo Việt Nam Thống Nhất cần nhân sự làm Viện Trưởng Đại học Vạn Hạnh thì trước đó họ đã có hai nhân tuyển thích hợp cho chức vụ này. Đó là Thượng Tọa Thích
Thiên Ân và Thích Nhất Hạnh.

 

 

 

 

****** ||| ******

Ghi chú:

 

(1) Thích Trí Quang. Trí Quang Tự Truyện. 2011. NXB Tổng Hợp tại Sài Gòn.
(2) Thích Trí Quang. Trí Quang Tự Truyện. 2011. NXB Tổng Hợp tại Sài Gòn.
(3) Cuộc nói chuyện với Phạm Văn Đồng vào năm 1976. http://youtu.be/2xO--Ucc9nA
(4) Phát biểu tại chùa Linh Mụ 08-12-1978 (phút 1:19:40). http://youtu.be/2xO--Ucc9nA
(5) Thích Thiện Minh (1921-1978) - Tổng vụ trưởng Tổng vụ Thanh Niên GHPGVNTN (1964).
(6) Thích Trí Quang, Thích Quảng Độ, Cao Ngọc Phượng... 9-4-1967. The New York Times: "Our People are being destroyed..." Three Message from the South Vietnam.
(7) Philip McCombs. 20-10-1974. The Washington Post: Pressure on Thieu: make peace or quit.

 

Nếu các Youtubes trong các chú thích (3) & (4) không còn làm việc, quý vị có thể bấm vào phần âm thanh để nghe ác tăng Thích Đôn Hậu tự thuật... (File thuộc dạng MP3, khổ (size): 43MB).

 

****** ||| ******

Còn tiếp (to be cont'd)... xin quý vị đón đọc...

 

1/CUỘC ĐỐI ĐẦU CAM GO VÀ GAY CẤN GIỮA ĐẠI ÚY LIÊN THÀNH CHỈ HUY TRƯỞNG BCH/CSQG/THỪA THIÊN-HUẾ VỚI PHÁI ĐOÀN DÂN BIỂU QUỐC HỘI CỦA PHẬT GIÁO VIỆT NAM THỐNG NHẤT TỪ SÀI GÒN RA HUẾ, KHI MÀ CHIẾN CUỘC MÙA HÈ ĐỎ LỬA 1972 TẠI HUẾ ĐANG TIẾP DIỄN.

2/DÂN BIỂU NGUYỄN NGỌC NGHĨA.

3/NỮ DÂN BIỂU KIỀU MỘNG THU.

HỌ YÊU CẦU CHỈ HUY TRƯỞNG CSQG/THỪA THIÊN–HUẾ THẢ CƠ SỞ VIỆT CỘNG:

3/KẾT QUẢ CHIẾN DỊCH BÌNH MINH PHÁ VỠ CUỘC TỔNG NỘI DẬY CỦA CỘNG SẢN TẠI HUẾ VÀO MÙA HÈ ĐỎ LỬA 1972 CỦA LỰC LƯƠNG CSQG/THỪA THIÊN-HUẾ...


Liên Thành

      

Bấm vào đây để in ra giấy (Print)

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Hình nền: Huy Hiệu các đơn vị thuộc QLVNCH. Để xem được trang web này một cách hoàn hảo, máy của bạn cần được trang bị chương trình Microsoft Internet Explorer (MSIE) Ấn bản 9 hay cao hơn hoặc những chương trình Web Browsers làm việc được với HTML-5 hay cao hơn.

 

Nguồn: Internet E-mail by UBTTTADCSVN chuyển

 

Đăng ngày Thứ Ba, April 12, 2016
Cập nhật ngày Thứ Tư, April 20, 2016
Ban Kỹ Thuật Khóa 10A-72/SQTB/ĐĐ, ĐĐ11/TĐ1ND, QLVNCH

 

Địa chỉ liên lạc: P.O. BOX 5055. Springfield, VA 22150
Điện thoại: 703-238-0736
E-Mail: lienlaclhccshtd@lhccshtd.org
Trở lại đầu trang